SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Ghi chú
MỤC LỤC
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
Trang số 2
Lí do viết sáng kiến kinh nghiệm
Trang số 2
PHẦN II: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
Trang số 3
I: Cơ sở lí luận của vấn đề
Trang số 3
II: Thực trạng của vấn đề
Trang số 4
1: Thuận lợi
Trang số 4
2. Khó khăn
Trang số 5
Trang số 16
IV: Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm
Trang số 19
1. Hiệu quả
Trang số 19
2. Ý nghĩa
Trang số 20
PHẦN III: KẾT LUẬN
Trang số 22
1. Kết luận
Trang số 22
2. Những ý kiến đề xuất
Trang số 23
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang số 24
theo nguyên tắc tích hợp, tích cực” với mong muốn góp phần nâng cao chất
lượng giờ dạy học văn.
2
PHẦN II: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ:
Văn học là nhân học, là món ăn tinh thần không thể thiếu trong mỗi
chúng ta. Nó gắn liền với cuộc sống, phản ánh hiện thực một cách khách quan.
Văn học còn thể hiện con người và hiện thực một cách cao đẹp, toát lên tình
cảm, cảm xúc của người viết. Đồng thời thông qua những tình cảm đó mà văn
học muốn gửi gắm, những ước mơ của nhân dân, vang dội lên những nhịp đập
của trái tim quần chúng và của lịch sử loài người.
Văn học còn giúp ta tìm thấy những mảnh đời rất thực của cuộc sống
hàng ngày. Bên cạnh những mảnh đời thực thì nó còn là những niềm tin về
công lý, về sự công bằng trong xã hội và những ước mơ vươn tới cuộc sống
tươi đẹp của con người. Đó là những tuổi thơ yêu dấu bất hạnh, những cuộc
xung đột gay gắt, những nối băn khoăn vương vấn trăn trở về cuộc đời, những
điều chưa giải đáp được, những phương châm về xử thế, những bài học về đạo
lý, làm người. nhờ vậy mà ta mới hiểu biết cuộc sống một cách sâu sắc hơn và
càng phong phú khi cảm nhận một tác phẩm, một ý tưởng cảm xúc. Thông qua
nhân vật tác giả gửi gắm lẽ sống khao khát nguyện vọng của mình.
Vậy làm thế nào để các em cảm nhận được những khao khát, ý nguyện,
ước mơ… cảm xúc của tác giả trong mỗi tác phẩm. Đây chính là điều trăn trở
bấy lâu nay của thầy cô giáo dạy văn, là một giáo viên được đào tạo trong
trường ra, được đứng trên bục giảng được Đảng và nhà nước giao trọng trách
đào tạo con người tôi cảm thấy thật vinh dự. Song làm cách nào? Để vai trò
trọng trách của mình được thành công đây. Một vấn đề rất lớn mà người lái đò
đang phải cầm lái chèo chống con thuyền chở đầy lữ khách vượt qua đại
* Về đội ngũ giáo viên và học sinh:
Các đồng chí giáo viên được sự quan tâm, động viên, tạo điều kiện, giám
sát của Ban giám hiệu nhà trường, của phòng giáo dục và lãnh đạo địa phương
nơi trường đóng.
Đội ngũ giáo viên đều đạt chuẩn và trên chuẩn, có tay nghề vững vàng,
tâm huyết với nghề. Hàng năm được học và tham gia các lớp học tập huấn và
chuyên đề hàng năm.
4
Đa số học sinh có hứng thú học môn văn học vì qua môn học giúp các
em hiểu được nhiều vấn đề thiết yếu trong cuộc sống, có được những tri thức
quan trọng và những bài học đạo đức bổ ích để trở thành người công dân mới.
Cơ sở vật chất khá tốt, trường lớp khang trang, thiết bị đầy đủ, phục vụ
tốt cho việc giảng dạy.
Bên cạnh những thuận lợi đã có cũng còn một số vấn đề khó khăn gây
ảnh hưởng đến bộ môn.
2. 2. Khó khăn :
Trong thực tế vẫn còn một số em chưa thật sự say mê môn học. Tiết học
với các em vẫn còn nặng nề như một nhiệm vụ là cố học cho xong bài… còn
bài học có chất lượng hay không cũng không cần biết. Thậm chí có em còn
không soạn bài, không thuộc bài, không biết kể tóm tắt một câu chuyện. Có em
còn chưa biết tìm ra nhân vật chính trong truyện thì làm sao mà cảm thụ được
tác phẩm. Vì vậy khi làm văn các em sẽ lúng túng không biết bắt đầu từ đâu và
như thế nào?
Trường trung học cơ sở Kim Đức nằm trên địa bàn thuộc xã Kim Đức .
Đây là xã vùng sâu, vùng xa của Thành phố Việt Trì kinh tế khó khăn, đa số
học sinh là con em nông dân. Phụ huynh ít có điều kiện quan tâm đến việc học
của con mình, thậm chí vẫn còn nhưng phụ huynh chưa thấy được tầm quan
trọng của việc học nên xem nhẹ việc học của con em mình khiến các em nản
Trước hết giáo viên phải nhiệt tình thật sự tha thiết với học trò, say mê với
môn học để đưa các em từ bị động đến chủ động tiếp thu bài học.
Hình thành cho các em các vấn đề cơ bản mà thầy cô đang hướng đến để
giải quyết. Ví dụ thế nào là truyện cổ tích? Nhân vật trong truyện cổ tích là
những nhân vật như thế nào?
Thầy đem hết năng lực ra giảng dạy. Tuy nhiên trong lúc thực hiện tiết
dạy ít nhiều sẽ cũng có khó khăn cản trở nhưng bằng tình yêu nghề và năng
lực sáng tạo sẽ vượt qua.
Tiếp xúc, trao đổi một cách cởi mở với các em làm sao cho các em có một
hứng thú về môn học, có một suy nghĩ vững vàng là thầy cô sẽ la chỗ dựa tinh
6
thần vững trãi cho các em bước vào khám phá một thế giới mới, một thế giới
cổ tích, một tình cảm đẹp, một lòng vị tha cao cả… một ước mơ hiện thực.
Qua các truyện cũng trong các tiết học trên lớp giáo viên phát hiện các em
có những ưu điểm gì. Vậy giáo viên cần khai thác những ưu điểm đó của các
em, không khuyến khích, động viên sự phát triển đó một cách tự nhiên.
3. Áp dụng các phương pháp dạy học:
a. Lời giới thiệu bài trong giờ dạy học truyện cổ tích:
Đối với truyện cổ tích nói riêng và ngữ văn(văn bản 6) nói chung, lời
giới thiệu bài vô cùng quan trọng và cần thiết cho mỗi tiết dạy. Nó như một lời
mời, lời dẫn các em đi vào một thế giới cổ tích . Thế giới đó đã phân biệt cho
các em biết thế nào là truyện cổ tích và truyện thường nói về các kiểu nhân vật
như thế nào ? Từ đó khi đọc truyện các em có thể nhận biết được ngay nhân
vật trong truyện thuộc loại nhân vật nào. Nhân vật đó có tính cách tốt – xấu…
nhưng trong thực tế quá trình giảng dạy có một số giáo viên lại cho quá trình
giới thiệu lời vào bài là không cần thiết, cho nên chỉ giới thiệu một cách sơ sài.
Chính nguyên nhân này đã làm cho tiết học mất đi sự chú ý của học sinh, mất
đi cái hướng đi mà giáo viên đã định cho các em . Một tiết học truyện cổ tích
đúc kết kinh nghiệm về thế giới loài vật
VD: Qụa và Công; Trê và Cóc, Cóc kiện trời….
* Truyện cổ tích sinh hoạt kể về sự thông minh, tài phân xử hoặc sự dối
trá, gian sảo… loại truyện này gần với đời sống thực do đó không có yếu tố
thần kỳ.
Sau đó tôi giới thiệu với các em về truyện cổ tích mà tôi đang chuẩn bị
bước vào …
Ví dụ : Truyện cổ tích “Cây bút thần” tôi đã thử nghiệm giới thiệu theo
hai cách ở lớp 6A:
Dân tộc nào cũng có kho tàng truyện cổ tích thật phong phú “ Cây bút
thần” là truyện cổ tích Trung Quốc một nước láng giềng có quan hệ giao lưu
và có nhiều nét tương đồng về văn hóa với nước ta- đó là đất nước Trung
Quốc. Sức hấp dẫn của truyện không chỉ ở nội dung ý nghĩa mà còn ở chi tiết
thần kỳ độc đáo. Tiết học hôm nay sẽ giúp các em tìm hiểu về điều đó.
8
Hay vẫn với truyện cổ tích “Cây bút thần” tôi giới thiệu bằng cách xen
kẽ các câu thơ hoặc ca dao:
Các em đọc cổ tích
Chắc rất thích được gặp
Có đôi dày thần kỳ
Một bước đi bảy dặm
Còn nhanh hơn chim bay…
Đó là hình ảnh đôi dày thần kỳ, nó tượng trưng cho một sức mạnh, sức
dẻo dai bền bỉ của một người đã làm xoay chuyển cả non sông từ vực thẳm bùn
đen nô lệ đến bến bờ độc lập vinh quang, đến đại đồng dân tộc…còn với tuổi
thiếu niên các em cũng có một báu vật được gọi là thần kỳ trong cổ tích mà các
em rất ước mơ. Đó là hình ảnh cây bút thần. cây bút này nó có nguồn gốc từ đâu
mình có một trách nhiệm thật lớn nhất là đối với các em lớp 6, những năm đấu
tiên của cấp học. Vậy thầy cô vừa là người mẹ vừa là người nghệ sĩ. Có nghệ
sĩ thì vai diễn của họ rất thành công. Nhưng có nghệ sĩ lại chưa được thành
công như sự mong muốn của mình, mặc dù cũng đầy đủ nội dung, ý nghĩa.
Vậy thì chúng ta phải làm thế nào mang hết khả năng và lòng nhiệt
huyết đến với các em ngay từ bước giới thiệu bài. Để các em có một lượng
kiến thức nhất định thì tiết dạy mới thành công.
b. Cách đọc và tìm hiểu truyện cổ tích:
Đọc văn bản là vấn đề cần quan tâm với mỗi học sinh. Có nhiều em học
sinh hiện nay có một cách đọc bài rất hời hợt, hầu như rất coi thường các phần
đọc, các em chưa nhận thức được là từ việc đọc truyện đã giúp các em cảm
nhận được 1/3 nội dung và ý nghĩa của truyện cần đạt. Nhưng điều cần thiết là
giáo viên phải hướng dẫn cho các em đọc như thế nào thì mới có hậu quả. Từ
đây chúng ta vừa là người hướng dẫn vừa là người trọng tài cho các em thực
hiện.
Ví dụ : khi dạy truyện cổ tích “ Ông lão đánh cá và con cá vàng”. Tôi đã
cho học sinh đọc và cảm nhận tác phẩm bằng cách phân vai. Tuy nhiên là tôi
phải chọn những học sinh có chất giọng đọc phù hợp với từng nhân vật như:
Mụ vợ ông lão là người có lòng tham độ, đanh ác, chua ngoa, bội bạc – giọng
the thé và quát mắng cay độc.
10
Ông lão đánh cá: với tính cách hiền lành, nhu nhược dẫn đến việc sợ vợ.
Vì vậy ông như một nô lệ, chỉ được phép nghe lệnh, tuân lệnh mà tôi. Nên khi
đọc tôi có thể chọn một em nam có giọng đọc nhẹ nhàng, nhút nhát, pha chút
sợ sẹt để thể hiện tính cách nhân vật. Vì ông lão là người nhu nhược đều nghe
theo sự chỉ dẫn của mụ vợ.
Nhân vật cá vàng: là nhân vật thần tiên tượng trưng cho người có tâm
lòng bao dung, độ lượng đại diện cho cái thiện, lòng tốt. Nhưng cũng rất
cho học sinh ghi. Nhưng chúng ta biết đấy bây giờ các em đang ở lứa tuổi phát
triển về mọi mặt, tâm lý về cơ thể và trí thông minh cho nên sự tìm tòi sáng tạo
đòi hỏi các em hay có tính tò mò, tìm hiểu.
Chính phương pháp đó đã vô tình đã hạn chế sự phát triển tư duy làm
cho các em trở nên thụ động và chờ đợi ở nơi giáo viên.
Bởi vậy sử dụng đồ dàng dạy học là vô cùng cần thiết. vì bước vào bài
học mà giáo viên giảng suông, còn học sinh thì học một cách tưởng tượng như
vậy thì tiết học sẽ không sinh động, không cuốn hút các em vào bài tự nhiên
được. Như vậy thì không thể đạt được mục đích mà giáo viên đang hướng tới.
vậy thì muốn đạt được hiệu quả cao hơn “ Mắt thấy, tai nghe”. Có nghĩa là cần
phải có đồ dùng dạy học để phát huy tính tò mò sáng tạo của các em.
Vậy thì sử dụng đồ dùng trực quan thì phải sử dụng làm sao cho phù
hợp. phải chọn thời điểm thích hợp nhất để treo tranh lên. Khi đã treo tranh
lên, chúng ta cần nên sử dụng một cách triệt để chữ không thể qua loa thì mới
có hiệu quả cao và đồng thời củng phải hạ xuống đúng lúc để toàn tâm đi vào
phần khác. Nhiều giáo viên đã lúc túng vấn đề này. Tôi đã dự giờ một số giáo
viên khác, khi sử dụng đồ dùng dạy học thì treo lên. Nhưng khi không sử sụng
nữa thì không hạ xuống mà cứ để nguyên trên bảng là cho học trò mãi chú ý
vào trực quan, dẫn đến phân tâm, tư tưởng không chú ý vào bài giảng. Như
vậy vô tình trực quan đã phản tác dụng.
Đối với môn văn đồ dùng có trong thư viện rất ít, rất hạn chế, phần lớn
giáo viên phải tự làm. Cho nên khi nghiện cứu làm một cái đồ dùng nào là cái
ấy phải sử dụng tốt và sử dụng có hiệu quả cao. Đó mới là điều mà giáo viên
luôn quan tâm.
12
Về phần truyện cổ tích thì khi dạy tới bài nào thì chúng ta sưu tầm và
làm tranh bài đó. Có thể tranh đó có trong sách giáo khoa, nhưng trong sách
Như vậy một bức tranh tôi khai thác ít nhất cũng phải được năm câu
hỏi. Vậy tức là tôi còn có thể khai thác năm -> bảy câu hỏi nữa trở nên.
14
Đồ dùng dạy học thứ hai: tôi đầu tư thêm một tranh nữa minh họa khi
Thạch Sanh đã trải qua bao những thử thách và trở thành phò mã để sau này
nối ngôi vua.
Sau đó tôi cũng đặt câu hỏi để các em trả lời theo tranh .
Người trong tranh khoác áo choàng đeo kiếm là ai? Lúc này chàng là
gì ? Đoàn người lố nhố, cờ, giáo mác là những người nào? Em hãy tìm hình
ảnh chi tiết thần kỳ mà tranh biểu hiện?
Sau khi phân tích tất cả các chi tiết trong tranh xong. Tôi đặt câu hỏi bằng
cách nhìn vào tranh rồi tổng quát lại. Sau đó cho các em tìm nghệ thuật chính
của truyện. Qua cách này tôi thấy các em tham gia phát biểu ý kiến thật sôi
nổi.
Khi dạy bài “ Cây bút thần “ tôi cùng dùng đồ dùng dạy học bằng tranh.
Thứ nhất tôi sử dụng bức tranh có hình ảnh mã lương khi đã có cây bút thần
và em đang vẽ …
15
Sau khi giới thiệu tranh xong tôi yêu cầu các em quan sát tranh sau đó
trả lời câu hỏi:
Bức tranh minh họa cho sự vviệc nào trong truyện?
Có cây bút thần trong tay rồi mã lương vẽ gì? Vẽ cho những ai?
Tại sao mã lương lại không vẽ tiền, vàng hoặc những vật có thể ăn
ngay? Em hãy nhận xét phẩm chất của mã lương?
đó quay lại thảo luận nhóm bằng cách. Trong tổ đó tôi cử một em làm trưởng
nhóm. Nhiệm vụ của nhóm trưởng là đọc câu hỏi cho cả nhóm và bao quát các
thành viên trong nhóm của mình làm việc. Cử một thư ký của nhóm ghi chép
lại tất cả các ý kiến của các thành viên trong nhóm đồng thời đi đến thống nhất
ý kiến. Khi hết thời gian thảo luận, giáo viên sẽ mời đại giện nhóm đứng lên
trả lời phần thảo luận của nhóm mình. Vì làm như vậy sẽ phát huy được tính tự
giác của các em. Sau mỗi lần thảo luận xong mà báo cáo kết quả tốt, giáo viên
có thể cho điểm để khích lệ các em. Đây chính là nguồn động viên rất tốt đối
với các em trong học tập.
17
vic tho lun khụng mt thi gian cho tng tit tụi s a cỏc em
ngay vo khuụn kh t u nm. Lm cho cụng vic tr thnh thúi quen m
khụng mt thi gian.
Trong khi cho hc sinh tho lun, giỏo viờn phi theo dừi quan sỏt, nm
bt tỡnh hỡnh lm vic ca cỏc em. Trỏnh tỡnh trng hc sinh lm vic
riờng
Vớ d: Cõu hi tho lun l: s ra i v ln lờn ca Thch Sanh cú gỡ
bỡnh thng v khỏc thng ?
Sau ú tụi phỏt phiu tho lun cho bn nhúm, nhúm 1, nhúm 2, nhúm
3, nhúm 4. Thi gian tho lun l 5 phỳt. Sau khi ht gi tho lun tụi mi i
din ca tng nhúm ng lờn tr li. Tụi ly ý kin b sung trong nhúm v c
nh vy tng nhúm mt cho n nhúm cui. Sau ú giỏo viờn tng kt li v
nhn xột ỏnh giỏ ỳng sai v khuyn khớch bng im. Vỡ õy l cõu hi khú
nờn c 4 nhúm cựng tỡm hiu.
Vy phng phỏp tho lun nhúm rt hay nú ó kớch thớch tinh thn
hng say hc tp ca cỏc em, t ho mỡnh ó tỡm ra nhng kin thc. ng thi
cũn phỏt huy c vai trũ ch ng sỏng to ca cỏc em.
hp vi i tng hc sinh. Cõu hi cng cn linh hoat, sinh ng,
sỏng to.
Bài tập luyện tập : giỏo viờn tỡm tũi, la chn a vo
nhng cõu hi, bi tp phự hp , sỏt vi ni dung bi hc m
rng, liờn h lm rừ hn vn va hc.
Cần phát huy phng phỏp dy hc tng tỏc ( thảo luận
theo nhóm ). Tho lun các vấn đề lý thú, nổi cộm trong
truyện, liờn h gia bi hc vi thc t ).
S dng trit v cú hiu qu dng dy hc.
Để đáp ứng các yêu cầu về việc dạy học theo quan
điểm đổi mới giáo viên cần phải tìm ra yếu tố đồng quy
giữa ba phân môn Vn, ting Viờt, tp lm vn để tích hợp .
Chỳ ý tớch hp ngang, tớch hp dc trong gi dy hc vn.
IV. Hiu qu mi ca sỏng kin kinh nghim:
1. Hiệu quả:
19
Vi sỏng kin kinh nghim trờn ó c chỳng tụi nghiờn cu v vn
dng trong cỏc gi dy v hc Vn. Cỏc em hc sinh hng thỳ hn vi gi
hc, yờu thớch nhng tỏc phm truyn c tớch sỏch giỏo khoa Ng vn 6 cng
nh ngoi chng trỡnh hn. Bn thõn ngi dy thy nh nhng hn trong
vic t chc lp hc trong gi dy hc vn. c bit sau gi tr bi kt qu
thay i rừ rng.
Kết quả cụ thể:
Kt qu trc khi ỏp dng sỏng kin kinh nghim:
Kết quả điểm
Sĩ số
Lớp
3
3
11
20
17
16
53
5
5
5
15
0
0
0
0
TB trở
lên
25
22
21
68
Khá
Giỏi
15
7,8
9,10
2
1
2
5
16
14
14
44
10
9
8
27
2
2
2
6
TB trở
lên
28
25
24
PHN III: KT LUN, KIN NGH:
1. Kt lun:
Nh vy mun trang b thờm cho cỏc em v mt s kin thc khi dy
mụn ng vn núi chung v nht l phn truyn c tớch núi riờng. cỏc em i
vo th gii c tớch vi bao iu c m v nhng iu tt p nht ca con
ngi. ng thi qua vic hc tỡm hiu truyn c tớch cũn hng ti cho cỏc
em mt cỏi Chõn thin m trau di cho cỏc em mt phong cỏch sng, mt t
tng tỡnh cm, mt phm cht, mt nhõn cỏch ton vn m cỏc em ó rỳt ra t
trong bi hc. Ngoi ra cng khụng th b qua vic thc hin cỏc bc trong
mt tỏc phm nh tụi ó trỡnh by trong ti. Vỡ nú l s kớch thớch, tỡm tũi,
ch ng, sỏng to ca hc sinh lm cho bi hc t kt qu cao, tit hc ca
cỏc em cú c t tng thoi mỏi khỏm phỏ . Kinh nghim c th:
a. Đối với thầy:
Phải nhiệt tình say xa, yêu nghề mến trẻ.
Phải có trách nhiệm với nghề.
Trớc mỗi bài dạy phi nắm thật chắc kiến thức bài học.
Muốn vậy phải có sự đầu t thời gian, gia công nghiên cứu tìm
tòi tự học, tự bồi dỡng để năng cao tay nghề.
Phải sử dụng triệt để đồ dùng dạy học.
Phải luôn coi mình chỉ là ngời hớng dẫn, tổ chức các
hoạt động học tập học sinh trong giờ học, ly hc sinh lm
trung tâm ca gi dy hc.
b. Đối với học sinh.
Phải chăm học và thực hiện đầy đủ mọi bài tập về
nhà.
Phải chiụ khó, tích cực và say mê học tập, tự tìm đọc
các tài liệu liên quan đến bài học.
Có thói quen ghi chép những câu thơ, câu truyện sinh
động vào sổ tay văn học của mình.
nghề sáng tạo nhất trong những nghề sáng tạo. Rất mong
mỗi thầy giáo, cô giáo bằng trách nhiệm và tình yêu nghề
nghiệp hãy cùng nhau tìm ra nhiều biện pháp tốt nhất để
23
n©ng cao hiÖu qu¶ giê d¹y, ®µo t¹o ra nhiÒu thÕ hÖ con ngưêi míi cho ®Êt nưíc.
Kim Đức, ngày 15 th¸ng
02 n¨m 2012
Ngưêi
viÕt SKKN
Lê Thị Minh
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Sách giáo khoa Ngữ văn 6 tập 1 - Nhà xuất bản Giáo dục
2. Sách giáo viên Ngữ văn 6 tập 1 - Nhà xuất bản Giáo dục
3. Thiết kế bài giảng Ngữ văn 6 tập 1 - Nhà xuất bản Giáo dục
4. Hướng dẫn tự học Ngữ văn 6 tập 1 - Nhà xuất bản Giáo dục
5. Nâng cao Ngữ văn 6 quyển 1 - Nhà xuất bản Giáo dục
6. Bồi dưỡng học sinh giỏi Ngữ Văn 6 - Nhà xuất bản Giáo dục
7. Hệ thống câu hỏi Đọc hiểu Ngữ văn 6 - Nhà xuất bản Giáo dục
8. Học tốt Ngữ văn 6- tập 1- Nhà xuất bản Giáo dục
9. Giáo trình văn học dân gian Việt Nam- Nhà xuất bản Giáo dục
10. Một số vấn đề về đổi mới phương pháp dạy học ở trường THCS môn ngữ
văn năm 2004 - Nhà xuất bản Giáo dục.
11. Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức kĩ năng môn Ngữ văn THCS
– Tập 1.