sáng kiến kinh nghiệm đổi mới phương pháp dạy học ôn tập địa lí THPT - Pdf 33

Đổi mới phương pháp dạy học ôn tập Địa lí THPT
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
Lí do chọn đề tài: Ôn tập là vấn đề quan trọng trong học tập và giảng dạy
nói chung và môn Địa lí nói riêng. Cùng với việc đổi mới trong dạy học thì đổi
mới trong ôn tập là vấn đề hết sức cấp thiết, hơn nữa để tiết ôn tập vừa đạt hiệu
quả vừa đảm bảo thời gian trong dạy học là vấn đề khó, rất nhiều giáo viên quan
tâm, trăn trở.
Phạm vi đề tài, đối tượng nghiên cứu: Kinh nghiệm nhỏ này chỉ nghiên
cứu trong phạm vi dạy ôn tập môn Địa lí THPT, sau khi đã tham khảo thực tế
dạy học bộ môn trong Tỉnh và một số GV, chuyên viên của một số tỉnh khác. So
sánh việc dạy học và kết quả đạt được của học sinh THPT.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu: Tìm hiểu phương pháp ôn tập và
những gợi ý về phương pháp ôn tập trong chương trình của bộ môn nhằm cùng
các giáo viên khác giảng dạy ôn tập đạt hiệu quả cao nhất.
Giả thiết khoa học của đề tài: Ta từng có nhiều bài học sâu sắc về thực
tiễn, mọi con đường đều tiến tới đích vậy tại sao ta lại phải lựa chọn? Con
đường đi đến đích ngắn nhất, dễ đi nhất là điều chúng ta lựa chọn. Trong dạy
học cũng vậy, có rất nhiều phương pháp dạy học khác nhau, song người dạy cần
lựa chọn phương pháp phù hợp nhất cho mỗi bài học, mỗi phần của mỗi bài...
nhằm đạt mục đích và hiệu quả giáo dục cao nhất – giáo dục toàn diện.
Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu: Với kinh nghiệm trong quá trình
dạy học, tham khảo nhiều tài liệu về lí luận và những bài giảng của các giáo
viên giỏi, giàu kinh nghiệm khác vì thế có thể nói kinh nghiệm này là kết quả
tích hợp giữa lí thuyết và thực tiễn giảng dạy của bản thân và đồng nghiệp; các
phương pháp dạy học ôn tập được đưa ra trong bài viết này đều là những
phương pháp dạy học mà bất cứ GV nào cũng có thể tiếp cận và cần thiết phải
thực hiện đáp ứng yêu cầu đổi mới của nền giáo dục hiện đại. Trong quá trình
nghiên cứu vấn đề này bản thân đã vận dụng các phương pháp nghiên cứu khác
nhau, trong đó chủ yếu sử dụng phương pháp so sánh và tổng hợp.
Dự báo những đóng góp của đề tài: Kinh nghiệm này còn nhiều vấn đề
chưa trọn vẹn song những vấn đề đưa ra rất thực tế gắn với từng tiết dạy học cụ

- Bằng tư duy khái quát qua bài ôn tập, giúp HS tổng hợp được kiến thức,
tìm ra các mối quan hệ địa lí, có kĩ năng, kĩ xảo trong phân tích đánh giá các
mối quan hệ địa lí đã được học, vận dụng nhuần nhuyễn hơn kiến thức đã học
vào thực tiễn.
3. Một số dạng bài ôn tập


Căn cứ vào chức năng ôn tập, có thể phân loại các dạng bài ôn tập như
sau:
- Ôn tập, cũng cố kiến thức sau khi vừa mới lĩnh hội tri thức nhằm khắc
sâu hơn kiến thức vừa học.
- Khái quát hóa, hệ thống hóa tri thức diễn ra sau khi học xong một phần,
một chương, một số chương học. Việc ôn tập này nhằm khái quát hóa, hệ thống
hóa, đào sâu, mở rộng tri thức, hoàn thiện những kĩ năng, kĩ xảo. Nó diễn ra
trong quá trình lĩnh hội tri thức mới, luyện tập, vận dụng, tổng hợp tri thức đã
học. Ôn tập dạng này thường được thể hiện ở các tiết ôn tập trước kiểm tra một
tiết, kiểm tra học kì.
- Ôn tập sau khi hoàn thành chương trình học, thường là ôn thi tốt nghiệp,
ôn thi đại học, ôn thi học sinh giỏi. Việc ôn tập này không những hệ thống hóa,
khái quát hóa các kiến thức kĩ năng đã học mà sau khi ôn tập học sinh nhận thức
vấn đề một cách có hệ thống, vận dụng một cách nhuần nhuyễn cac kiến thức,
kĩ năng của chương trình vào thực tiễn cuộc sống.
4. Thực tế dạy học ôn tập ở các trường THPT
a/Một số kết quả học tập của học sinh được dạy trước khi sử dụng phương
pháp đã nghiên cứu (%)
Loại
Giỏi
Khá
Trung bình Yếu
kém

53,6

10,2

4,5

10A9

2,2

32,6

43,4

13,0

8,7

b/Phương pháp dạy học khá phổ biến
- Hầu hết các tiết dạy học ôn tập ở các trường THPT đều chỉ dừng lại ở
việc ra đề cương ôn tập theo kiểu ra câu hỏi cho HS về nhà trả lời các câu hỏi
mà GV đã ra hoặc giới hạn một số nội dung ôn tập trong SGK.
- Một số tiết tiến hành dạy ôn tập ngay trên lớp nhưng chỉ giải quyết được
được một số câu hỏi trong phạm vi một phần của nội dung cần ôn tập.
- Một số tiết GV đã hệ thống hóa kiến thức khá đầy đủ những nội dung
cần ôn tập nhưng chưa lên kế hoạch kiểm tra quá trình tự ôn tập của HS.
- Việc ôn tập bài bản, kĩ lưỡng thường chỉ diễn ra ở một số trường, lớp có
HS thi đại học, nhưng việc ôn tập này vẫn thường kéo dài thời gian, trên tinh
thần thầy hướng dẫn kĩ lưỡng, chi tiết, học sinh tiếp thu, hiểu và ghi nhớ tốt các


sau mỗi phần, mỗi bài, ôn xen kẽ với việc tiếp nhận tri thức mới, tránh tình
trạng để vấn đề được học bị bỏ quên khá lâu nên rất khó nhớ lại.
- Cần vận dụng phương pháp sơ đồ, bảng hệ thống hóa nhằm hệ thống
hóa những khái niệm, quy luật các mối quan hệ giữa các yếu tố địa lí với nhau
theo một hệ thống tri thức nhất định.
2. Cách thức tiến hành dạy học ôn tập


Có thể tiến hành ôn tập theo các cách sau:
- Tiến hành dạy ôn tập bằng hình thức quy nạp: Với hình thức quy nạp
giúp học sinh tổng hợp được các kiến thức đã lĩnh hội và tự tin khẳng định được
hệ thống tri thức mà bản thân đã được học, đã tư duy tích hợp nên. Tuy nhiên
hình thức này đòi hỏi có thời gian và việc đi từ vấn đề chi tiết đến tổng hợp mất
nhiều thời gian không phù hợp cho việc ôn tập một lượng kiến thức lớn. Hình
thức này nên dùng trong quá trình phân tích tổng hợp ở một lượng kiến thức
nhỏ trong phạm vi một mục bài, một bài học. Nếu dùng trong ôn tập chỉ nên đặt
một vài câu hỏi tổng hợp cuối những nội dung lớn mang tính mở rộng, nâng
cao.
Ví dụ:
+ Sau khi đã hệ thống hóa kiến thức về sự phân bố các yếu tố khí áp, khối
khí, nhiệt độ, mưa... trên trái đất. Giáo viên có thể đặt câu hỏi sự phân bố
các yếu tố này trên trái đất theo những quy luật nào?
+ Từ phân tích những nhân tố tác động tới các yếu tố trong khí quyển,
thủy quyển, sinh quyển, thổ nhưỡng quyển chúng ta đều thấy chúng liên
quan nhiều tới yếu tố nào? ( Tác động nhiều nhất của yếu tố bức xạ mặt
trời từ đó rút ra kết luận các yếu tố tự nhiên diễn ra trong khí quyển trên
bề mặt Trái Đất chịu tác động mạnh mẽ nhất của yếu tố ngoại lực - nhất
là bức xạ mặt trời).
- Tiến hành dạy học ôn tập theo hình thức diễn dịch: Hình thức diễn dịch
là hình thức thuận tiện nhất trong dạy học ôn tập. Sau khi đã học nhiều kiến

theo chương mục.
- Ôn tập theo chương mục là cách làm đơn giản nhất, học sinh cũng dễ
dàng nhớ lại hệ thống kiến thức đã học theo quá trình học mà không bỏ sót một
nội dung nào, đảm bảo được toàn bộ kiến thức, kĩ năng của chương trình sách
giáo khoa. Hơn nữa các chương mục trong chương trình địa lí THPT thì chương
mục cũng đã có sự sắp xếp theo chuyên đề. Hình thức ôn tập này thường dùng
cho ôn tập với thời gian ngắn hoặc là với mục đích nắm vững hệ thống kiến
thức, kĩ năng cơ bản trong chương trình. Vì thế đối với các tiết ôn tập trước
kiểm tra một tiết, trước kiểm tra học kì, học ôn thi tốt nghiệp nên ôn tập theo
hình thức này. Ôn tập chương mục kết hợp với hình thức triển khai diễn dịch
giúp học sinh khái quát bài, hệ thống hóa kiến thức một cách thuận tiện.
Ví dụ: Chúng ta có thể ôn tập chương trình Địa lí 12 theo chương mục, ở
chương trình Địa lí 12 ngoài bài mở đầu, gồm 3 phần lớn, với nhiều nội dung
được sắp xếp như sau:
ĐỊA LÍ TỰ NHIÊN: 1. Vị trí địa lí và phạm vi lãnh thổ; 2. Đặc điểm chung của
tự nhiên; 3. Vấn đề sử dụng và bảo vệ tự nhiên.
ĐỊA LÍ DÂN CƯ: 1. Đặc điểm dân số và sự phân bố dân cư; 2. Lao động và
việc làm; 3. Đô thị hóa.
ĐỊA LÍ KINH TẾ: 1. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế; 2. Địa lí các ngành kinh tế; 3.
Địa lí các vùng kinh tế; 4. Địa lí địa phương.
- Ôn tập theo chuyên đề: Chúng ta không nên nhầm lẫn là chương trình
sách giáo khoa đã sắp xếp nội dung theo chuyên đề nên ôn tập theo chương mục


cũng là ôn tập theo chuyên đề. Ôn tập theo chuyên đề có tính chuyên sâu hơn
theo từng mảng kiến thức mang tính độc lập hơn.
Việc ôn tập theo hình thức này sẽ giúp học sinh hiểu từng vấn đề một
cách sâu hơn, rộng hơn, lô gíc hơn nhưng cũng đòi hỏi thời gian nhiều hơn, dày
công hơn. Việc ôn tập này của chương trình địa lí THPT cũng cần dựa trên cơ
sở đã nắm được hệ thống kiến thức, kĩ năng cơ bản trong chương trình sách giáo

một cách nhẹ nhàng. Cả hai phương pháp này đều rèn cho HS bản lĩnh tự tin,


khả năng diễn đạt trước một vấn đề trước tập thể sau cả một quá trình đã được
học, vì thế sử dụng phương pháp này trong ôn tập rất hiệu quả.
- Phương pháp thảo luận nhóm
Đây là phương pháp rất cần trong ôn tập để giúp các nhóm học tập nhanh
chóng hệ thống lại một lượng kiến thức tương đối nhiều nhờ vận dụng thế mạnh
của sự hợp tác lẫn nhau trong một nhóm học, các em có thể chia sẻ những băn
khoăn, kinh nghiệm của bản thân, khẳng định lại kiến thức đã học và điều chỉnh
những nhận thức chưa đúngmột cách tự tin.
- Phương pháp lập bảng hệ thống, lập sơ đồ lôgíc, sơ đồ tư duy
Hình thức này cần vận dụng một cách triệt để để giúp học sinh có thể hệ
thống, tập hợp một lượng kiến thức lớn một cách lôgíc nhất, nhanh nhất và để từ
đó dễ dàng khái quát hóa các kiến thức một cách chính xác nhất.
- Ví dụ:
+ Bằng một số sơ đồ “ cành cây” ( sơ đồ tư duy) sẽ giúp các em ôn tập
được một lượng kiến thức lớn, một sơ đồ tư duy có thể hệ thống hóa kiến thức
cả một chương học. Phương pháp này rất phù hợp với phương pháp tự ôn tập
của HS.
+ Bằng một bảng hệ thống sau, chúng ta có thể hệ thống củng cố một
cách chính xác và súc tích một lượng kiến thức lớn. VD chúng ta có thể lập một
bảng hệ thống về quy mô, thế mạnh, hạn chế, phương hướng khai thác lãnh thổ
của bảy vùng kinh tế nước ta ở chương trình Địa lí 12 bằng bảng hệ thống sau:
Vùng kinh tế
Quy mô lãnh Thế mạnh và Phương
Một số ngành
thổ (số đơn hạn chế (tự hướng
khai sản xuất chính
vị

khi đã ôn tập và hướng dẫn tự ôn tập ở nhà GV khôngtiếp tục theo dõi, kiểm
tra, đôn đốc rất nhiều em sẽ chủ quan hoặc lười biếng thì việc ôn tập của GV
dù tốt đến đâu cũng không mang lại kết quả như ý muốn. Chính vì vậy giáo
viên cần có biện pháp để kiểm tra và đôn đốc việc ôn tập của trò; nếu kiên trì
làm được điều này thì có thể nói là bài ôn tập đến đây mới thực sự thành công
và quyết định đến 50% của ôn tập đấy.
Lưu ý chung:
- Trước khi tiến hành dạy ôn tập GV cần chuẩn bị kế hoạch dạy học chu
đáo, HS chuẩn bị kiến thức nhất định trên cơ sở hướng dẫn của GV.
- Ôn tập phải có tính hệ thống và phải đảm bảo tuân thủ theo kế hoạch.
- Tiết ôn tập không phải là việc GV nhắc lại hay giảng lại kiến thức đã
học mà giúp HS nhớ lại và tìm ra mạch kiến thức cơ bản của các nội dung đã
học.
- Luôn thay đổi hình thức ôn tập cho đa dạng, trong bất kì hình thức nào
HS cũng phải là đối tượng chủ động tham gia.
5. Xây dựng kế hoạch dạy ôn tập
Các tiết ôn tập cũng là dạy học, việc lên kế hoạch ôn tập cũng như kế
hoạch dạy học nói chung, cũng cần đảm bảo các bước và cần có kế hoạch cụ thể
và đòi hỏi GV phải dày công cho việc lập kế hoạch, chuẩn bị cho dạy ôn tập.
a/Các bước xây dựng kế hoạch bài ôn tập
a1. Xác định mục tiêu của bài ôn tập
a2. Nghiên cứu SGK và các tài liệu liên quan, chuẩn bị lượng kiến thức,
kĩ năng đầy đủ, hệ thống và GV phải thực sự làm chủ, chắc chắn, nhuần
nhuyễn các kiến thức, kĩ năng cần ôn tập của cả chương trình.
a3. Xác định khả năng đáp ứng các nhiệm vụ nhận thức của học sinh, dự
kiến những khó khăn, tình huống có thể xẩy ra.


a4. Lựa chọn phương pháp dạy học, phương tiện, thiết bị dạy học, hình
thức tổ chức, cách thức tiến hành ôn tập.

- HS nhớ lại, hệ thống lại kiến thức từ bài 2 đến bài 13: phương pháp biểu
hiện các đối tượng địa lí trên bản đồ, cách sử dụng bản đồ, khái niệm Vũ Trụ,


Hệ Mặt Trời, các hệ quả các vận động của Trái Đất, các khái niệm khái niệm
liên quan tới thạch quyển, khí quyển.
- HS nắm được các mối quan hệ giữa nội lực, ngoại lực với địa hình bề
mặt Trái Đất, mối qua hệ giữa bức xạ mặt trời với các yếu tố nhiệt, khí áp, gió,
mưa; mối quan hệ giữa các quá trình ngoại lực...
- HS vận dụng được những hiểu biết về thuyết kiến tạo mảng, nội lực,
ngoại lực, hệ quả các vận động của Trái Đất, các khái niệm và sự phân bố của
các yếu tố thạch quyển, khí quyển để giải thích được các hiện tượng tự nhiên
liên quan.
b/ Về kĩ năng:
- Nhận biết được các phương pháp sử dụng kí hiệu trên bản đồ, có kĩ
năng đọc, phân tích các bản đồ.
- Kĩ năng phân tích biểu đồ khí hậu
- Kĩ năng phân tích một số sơ đồ, bảng hệ thống, bảng số liệu.
c/Về thái độ:
- Học sinh thấy được vai trò ý nghĩa quan trọng của tiết học ôn tập từ đó
có thái độ học tập tích cực.
- Có ý thức chuẩn bị và ôn tập kĩ càng, ôn tập thường xuyên các kiến thức
kĩ năng đã được học.
2. Chuẩn bị của giáo viên và học sinh
a/Chuẩn bị của giáo viên
- Máy chiếu
- Các sơ đồ, bảng hệ thống
- Phiếu học tập
b/Chuẩn bị của học sinh
- Xem lại toàn bội nội dung đã được học, các câu hỏi ở trong SGK.

Hoạt động 2: Hệ thống các kiến thức cơ bản của phần bản đồ
- Tìm hiểu nội dung: I - Các phương A/Bản đồ
pháp...
I - Các phương pháp thể hiện các
Bước 1. Câu hỏi: Đối với bài này chúng đối tượng địa lí trên bản đồ
ta cần nắm những vấn đề gì?
(Phương pháp chính, khái niệm, đối
Sau khi HS trả lời, GV bổ sung và ghi
tượng biểu hiện, khả năng biểu
bảng.
hiên)
Bước 2. Phát phiếu mẫu bảng hệ thống
Mẫu bảng:
kiến thức yêu cầu học sinh về nhà hoàn
Phương Đối
Dạng Khả
thiện.
pháp
tượng

năng
GV sử dụng một slied mẫu hướng dẫn.
biểu
hiệu
biểu
hiện
hiện
1. PP kí
hiệu
...

Ngày-đêm luân phiên
Giờ trên TĐ
Lực Côriôlits

H.đ biểu kiến ...
- Vận động quay quanh MT
Mùa
Ngày-đêm dài
ngắn theo mùa và theo vĩ độ

vận động của Trái Đất
1. Khái niệm: Vũ Trụ, thiên hà
2. Khái niệm HMT, Trái Đất trong
Hệ Mặt Trời (vị trí, chuyển động)
3. Hệ quả các vận động của Trái
Đất
Ngày-đêm luân
phiên
- Vận động tự quay

Giờ trên TĐ
Lực Côriôlits

H.đ biểu
kiến ...
- Vận động quay quanh MT

Mùa
Ngày-đêm


trình
ngoại
lực

Phong
hóa

niệm

nhân
chủ
yếu

quả


Bóc
mòn
Vận
chuyển
Bồi tụ
Bước 3. Đánh giá các tác động của ngoại
lực và nội lực lên bề mặt địa hình? Mối
quan hệ của Thuyết kiến tạo mảng với các
quá trình nội lực?
Hoạt động 6: Tìm hiểu Khí quyển
Bước 1. Hệ thống những kiến thức cần
3. Khí quyển
nắm?
- Các khái niệm: khí quyển, khối

tính quy luật rất rõ.
- Nhận dạng các kí hiệu trên bản đồ
- Đọc và phân tích bản đồ
- Phân tích biểu đồ khí hậu


Hướng dẫn HS ôn tập ở nhà
6. Phụ lục
Nhiệt độ
Khối khí
- Nhiệt độ TB
giảm dần từ
Xích Đạo về 2
cực (CT nhiệt
độ cao hơn
XĐ)
- Biên độ
nhiệt tăng dần
từ X.Đ về 2
cực

- Mỗi bán
cầu có 4 loại
khối khí
+ E: nóng
ẩm
+ T: rất nóng
+ P: lạnh
+ A: rất lạnh


phân bố
giữa 2 khối
khí: E BCB
và E BCN.
+ FP: giữa
T và E; FA
giữa Tvà A

- Có 7 đai khí
áp, các đai áp
thấp và các đai
áp cao phân bố
xen kẽ và đối
xứng qua đai
áp thấp xích
đạo

- Mỗi bán cầu có
3 đới gió chính:
+ Gió Tín
phong: thổi từ
khu áp cao cận
nhiệt đới về áp
thấp XĐ
+ Gió Tây ôn
đới: thổi từ khu
áp cao cận nhiệt
đới về áp thấp
ôn đới
+ Gió đông cực:


- Lượng mưa
nhiều hay ít phụ
thuộc vào vị trí
gần hay xa biển
- Lượng mưa
thay đổi theo
địa hình (độ
cao, hướng
sườn)

Giáo án 2. Tiết 17: ÔN TẬP
(Ôn tập trước kiểm tra học kì I – Địa lí 12)
1. Mục tiêu bài học
Sau tiết ôn tập, HS cần nắm:
a/Về kiến thức
- Nhớ lại, hệ thống lại kiến thức từ bài đến bài: Thiên nhiên nhiệt đới ẩm
gió mùa, Thiên nhiên phân hóa đa dạng, Sử dụng, bảo vệ tự nhiên và môi
trường, Sử dụng, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên.
- Nắm được các mối quan hệ giữa các yếu tố tự nhiên, giữa tự nhiên và
đời sống sản xuất.
b/Về kĩ năng


- Kĩ năng phân tích các bản đồ tự nhiên, kĩ năng vẽ và điền một số nội
dung vào lược đồ Việt Nam.
- Kĩ năng phân tích một số sơ đồ, bảng hệ thống, bảng số liệu.
c/Về thái độ
- Học sinh thấy được vai trò ý nghĩa quan trọng của tiết học ôn tập từ đó
có thái độ học tập tích cực.

hội nhập
- GV bổ sung, tổng hợp lại theo II – Đặc điểm chung của thiên nhiên
chuyên đề, sau đó nêu những nội dung nước ta


đã được ôn ở kiểm tra 1 tiết và những
nội dung sẽ ôn tập trong tiết học (Đặc
điểm: Thiên nhiên nhiệt đới ẩm gió
mùa, Thiên nhiên phân hóa đa dạng.
Vấn đề sử dụng và bảo vệ tự nhiên)

1. Đất nước nhiều đồi núi
2. Thiên nhiên chịu ảnh hưởng sâu sắc
của biển
3. Thiên nhiên nhiệt đới ẩm gió mùa
4. Thiên nhiên phân hóa đa dạng
III – Vấn đề sử dụng và bảo vệ tự
nhiên
Hoạt động 2. Hệ thống kiến thức chủ đề Đặc điểm chung của thiên nhiên nước
ta: Thiên nhiên nhiệt đới ẩm gió mùa. Ra đề cương ôn tập ở nhà.
Bước 1
A/ ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA TỰ
Câu hỏi: Khái quát những nội dung cơ NHIÊN
bản của đặc điểm thiên nhiên nhiệt đới I, II/ (Đã ôn tập trước kiểm tra 1 tiết)
ẩm gió mùa?
III/ Thiên nhiên nhiệt đới ẩm gió mùa
1. Biểu hiện:
a) Khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa
- Tính chất nhiệt đới biểu hiện rõ, do
nằm trong vành đai nội chí tuyến, có

Bước 1
IV/ Thiên nhiên phân hóa đa dạng
Câu hỏi: Khái quát những nội dung cơ 1. Thiên nhiên phân hóa theo Bắc bản của đặc điểm thiên nhiên phân hóa Nam
đa dạng.
- Phần lãnh thổ phía Bắc: Thiên nhiên
nhiệt đới ẩm gió mùa có mùa đông
lạnh (khí hậu chịu ảnh hưởng sâu sắc
của gió mùa ĐB, nhiệt độ TB năm 2025 độ C, 2-3 tháng nhiệt độ
pháp).
- Tình trạng ô nhiễm môi trường (Biểu
hiện, nguyên nhân, biện pháp).
PHIẾU HỌC TẬP SỐ 1
Câu1.Tính góc nhập xạ ở điểm cực Bắc, vĩ độ 16 độ Bắc và điểm cực Nam
nước ta. Nêu biểu hiện và phân tích nguyên nhân dẫn tới t/c nhiệt đới ở nước ta.
Câu 2. Lập bảng hệ thống theo mẫu sau:
THIÊN NHIÊN NHIỆT ĐỚI ẨM GIÓ MÙA
Thành phần Biểu hiện
Nguyên nhân
Ảnh hưởng
tự nhiên
Khí hậu
Địa hình
Sông ngòi
Đất
Sinh vật


Câu 3. Lập bảng hệ thống theo mẫu sau, qua bảng hệ thống đã lập so sánh sự
khác nhau về đặc điểm giữa hai loại gió.
Loại gió
Thời
Nguồn
Hướng
Phạm vi Tính
Ảnh
gian
gốc
gió

của khí hậu tới cảnh quan của hai miền Nam – Bắc.
Câu 9. Lập bảng thể hiện các đặc điểm thiên thiên của Vùng biển và thềm lục
địa, Vùng đồng bằng ven biển, và Vùng đồi núi phía tây.
Câu 10. Phân tích các nguyên nhân tạo nên sự phân hóa Đông – Tây.
Câu 11. Lập bảng hệ thống thể hiện các đặc điểm về khí hậu, đất, sinh vật giữa
ba đai cao của nước ta.
Đai cao
Đai nhiệt đới gió Đai cận nhiệt gió Đai ôn đới gió
Đặc điểm
mùa
mùa
mùa
Giới hạn độ cao


Khí hậu
Đất
Sinh vật
Câu 12. So sánh sự khác nhau về tự nhiên giữa Miền Bắc và Đông Bắc Bắc Bộ
với Miền Tây Bắc và Bắc Trung Bộ.
Câu 13. Hãy hệ thống hóa kiến thức cơ bản của Đặc điểm chung của thiên nhiên
nước ta theo sơ đồ tư duy (Dạng cành cây).
Câu 14. (Nâng cao) Hãy phân tích ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa
đến yếu tố đất đai, sông ngòi, sinh vật nước ta.
V. MỘT SỐ KẾT QUẢ ĐIỀU TRA
1. Kết quả điều tra giữa các thời kì dạy học kì dạy học khác nhau
Kết quả thi tốt nghiệp của các lớp 12I, 12K khi tôi mới ra trường chưa
lâu thiếu kinh nghiệm giảng dạy (theo thực tế dạy học thứ hai ở mục III.4) và
kết quả thi tốt nghiệp của các lớp 12B1, 12B2 khi áp dụng phương pháp ôn tập
trên các đây một năm


7,5

2,1

12B1

8,9

44,5

37,7

8,9

0

12B2

8,0

35,0

61,0

6,0

0

2. Kết quả điều tra giữa các lớp trong một khối về cách tổ chức ôn

44,4

33,3

0

0


- Lớp 10A2: Đã ôn tập theo phương pháp đã trình bày song thiếu
kiểm tra, đôn đốc việc tự ôn tập của HS.
- Lớp 10A3: Đã ôn tập theo phương pháp đã trình bày; có kiểm tra,
đôn đốc việc tự ôn tập của HS.
3. Kết quả điều tra giữa các em học sinh trong một lớp
Kết quả kiểm tra học kì giữa lớp 10A9
Loại

Giỏi

Khá

Trung bình Yếu

kém

Số lượng

10

20


Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI

Như vậy có thể thấy rằng phương pháp dạy ôn tập hết sức quan trọng
quyết định kết quả học tập và tư duy của học sinh. Trong ôn tập cần có sự phối
hợp nhiều phương pháp, phương pháp dạy ôn tập trên lớp, phương pháp kiểm
tra đánh giá việc ôn tập của HS, hướng dẫn cho HS phương pháp tự học, tự ôn
tập. Và dù sử dụng phương pháp nào thì GV chỉ đóng vai trò là người hướng
dẫn, tổ chức, kiểm tra, đôn đốc, tuy vậy người dạy phải kiên trì và thực hiện thật
bài bản các kế hoạch đã đề ra, không được chủ quan, lơ là. Có những vấn đề


người dạy nghĩ là HS đã nắm được nhưng khi kiểm tra mới thấy nhiều trò vẫn
còn thiếu chắc chắn, thiếu kĩ năng, vì thế dù người thầy nằm ở vị trí nào (chủ
thể hay hiện nay chỉ HS là chủ thể) thì vẫn hết sức quan trọng; vấn đề không
phải là người thầy đứng ở vị trí nào mà là người thầy đã sử dụng phương pháp
gì, dạy học thật sự là cả một nghệ thuật.
Qua quá trình nghiên cứu và thực nghiệm của bản thân và đồng nghiệp,
chúng tôi rút ra được bài học quý giá cho bản thân về việc áp dụng phương pháp
dạy học phù hợp sẽ mang lại hiệu quả ra sao. Đặc biệt hơn tất cả chúng tôi đều
thấy vấn đề ôn tập quan trọng như thế nào trong quá trình dạy và học; yếu tố
đảm bảo nguyên tắc ôn tập, sự dày công và kiên trì là yếu tố cần thiết ra sao
v.v...Tất cả những bài học kinh nghiệm này đều hữu ích cho không những riêng
nhóm địa của trường tôi mà cho giáo viên của nhiều trường trong toàn tỉnh hay
những nơi khác và cả tinh thần cho cả những bộ môn khác. Tuy rằng phải nói
rằng những kinh nghiệm này là còn rất hạn hẹp mong được tất cả các giáo viên
góp ý và xây dựng để bài viết được hoàn thiện hơn.
II. KIẾN NGHỊ
Phương pháp dạy học hiện nay là vấn đề băn khoăn của hầu hết của tất
cả giáo viên không chỉ đối với bộ môn Địa lí vì thế qua bài viết này người viết


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status