Kinh nghiệm dạy các bài Luyện nói trong môn ngữ văn ở THCS - Pdf 26

I. Phần mở đầu
I.1. Lý do chọn đề tài
Mục đích của bộ môn Ngữ Văn trong nhà trờng là hình thành và phát triển
năng lực văn cho học sinh gồm: năng lực cảm thụ năng lực t duy, năng lực diễn
đạt. Các mặt ấy góp phần vào quá trình hình thành lên nhân cách cũng nh khả
năng văn học cho mỗi con ngời.
Nhiệm vụ của ngời thầy giáo dạy văn là giúp cho học sinh biết cảm thụ đ-
ợc cái đẹp một cách tự giác, có ý thức, từ đó bồi dỡng khả năng t duy để học tốt
môn Văn cũng nh các môn học khác trong chơng trình THCS hiện hành.
Có thể nói rằng, có cảm thụ tốt, t duy tốt thì học sinh mới có thể diễn đạt,
trình bày tốt bằng Văn học. Ngợc lại, nếu học sinh không biết diễn đạt tốt, thì cái
cảm và cái nghĩ tốt của học sinh cũng không còn có giá trị nữa. Nh vậy, yêu cầu
diễn đạt đối với học sinh phổ thông là vô cùng quan trọng.
Yêu cầu ấy đợc cụ thể hoá qua các mức độ sau:
- Trình bày đợc một cách có trật tự và có hệ thống những ý kiến của mình
- Khẳng định đợc chỗ nào chính, chỗ nào phụ, chỗ yếu, chỗ mạnh của
những ý kiến đó.
- Bảo vệ ý kiến của mình bằng cách đánh giá, phân tích so sánh với các ý
kiến khác.
- Biết trình bày những hiểu biết của mình bằng những luận điểm, luận cứ
chính xác.
Nh vậy, năng lực diễn đạt về thực chất là một loại năng lực tổng hợp bao
gồm một lúc huy động toàn bộ các năng lực văn học của học sinh.
Vì thế, để hình thành và bồi dỡng năng lực văn học của học sinh THCS,
vai trò của việc rèn luyện khả năng diễn đạt là rất quan trọng. Trong chơng trình
Ngữ văn THCS đã chú ý đến vấn đề này qua các bài thực hành Luyện nói. Đây
chính là điều làm tôi trăn trở lâu nay.
I.2. Mục đích nghiên cứu
- Tìm ra một phơng pháp giảng dạy khoa học, có hiệu quả nhất, phát huy đợc
tính chủ động sáng tạo trong học tập của học sinh, đảm bảo Học sinh làm
trung tâm trong tất cả các giờ học.

văn chiếm 45 tiết chiếm ( %) trong đó số tiết luyện nói là 7 tiết
chiếm ( %).
Về mặt thực tiễn
II. Phần nội dung
II.1. Ch ơng 1 : Tổng quan
Từ Thị Hiền Trờng THCS Mạo Khê II
2
II.1.1. Hệ thống câu hỏi phải hay, rõ nghĩa (hệ thống câu hỏi cảm xúc, cau
hỏi tởng tợng, câu hỏi hiểu biết)
II.1.2. Phải thờng xuyên chữa lỗi cho học sinh khi nói (chữa phát âm sai,
chữa nói nhỏ, chữa nói sai ngữ pháp, chữa t thế ngợng nghịu khi nói)
II.2. Ch ơng 2 : Nội dung vấn đề nghiên cứu
II.2.1. Luyện khả năng phát biểu trong tất cả các giờ Ngữ văn
Hệ thống câu hỏi hay là những câu hỏi mang tính liên tục, sát với vấn đề,
khêu gợi đợc sự hứng thú của học sinh, có màu sắc văn học khơi lên ở học sinh
những tình cảm, những xúc động thẩm mĩ. Câu hỏi nên có ngôn từ dễ hiểu, nếu
cần giáo viên có thể cung cấp những dữ kiện cần thiết để học sinh có thể tìm lời
giải đúng.
Qua nghiên cứu và thực tế dạy học, tôi đã khái quát đợc một hệ thống câu
hỏi giúp học sinh có khả năng trả lời tốt nh sau:
b) Hệ thống câu hỏi tởng tợng
- Loại câu hỏi này giúp học sinh xác nhận sự hình dung của các em dới tác
động của hình tợng văn học.
* Ví dụ:
? Em hình dung nh thế nào về hình ảnh của tên quan phụ mẫu đang ngồi
chơi bài trong đình? Hãy tả lại cho các bạn nghe.
? Em hãy tởng tợng và kể lại câu chuyện Bài ca nhà tranh bị gió thu phá
dựa vào ý thơ của Đỗ Phủ.
c) Hệ thống câu hỏi hiểu biết
Câu hỏi hiểu biết nội dung tác phẩm

Học sinh nói ngọng chủ yếu là nhầm lẫn giữa n và l. Theo tôi, đây là
nhợc điểm cần chữa nhất. Để chữa phát âm l - n, tôi đa ra biện pháp nh sau:
- Bản thân giáo viên không đợc nói ngọng
- Gây d luận trong lớp không tán thành nói ngọng mà thờng xuyên có ý
thức giúp bạn nói ngọng sửa.
- Chỉ dẫn phát âm l - n:
+ Phụ âm l: Muốn phát âm đúng phải uốn lỡi và đặt đầu lỡi vào mặt bên
trong của lợi thuộc hàm trên khi phát âm. Khi phát âm, hơi cũng bị đẩy ra nhanh
qua đầu lỡi mà thoát ra khỏi miệng.
+ Phụ âm n: Là phụ âm tắc ở đầu lỡi, khi phát âm, hơi bật ra ở cả mũi và
miệng. Muốn phát âm đúng phải đặt đầu lỡi vào lợi thuộc hàm trêm cho sát chân
răng rồi mới phát âm.
- Hớng dẫn học sinh hiểu nghĩa của từ. Ví dụ từ nàng và làng, khi nào
thì viết n, khi nào thì viết l (Khi chỉ một ngời con gái, viết nàng: Nàng
công chúa. Khi chỉ một đơn vị hành chính ở nông thôn, viết làng: Làng
xóm, làng văn hoá )
Từ Thị Hiền Trờng THCS Mạo Khê II
4
- Phổ biến cho học sinh những bài thơ chữa ngọng l - n. Tiết Chơng trình
địa phơng - Rèn luyện chính tả đã có một hệ thống bài tập luyện chính tả l - n
rất tốt cho học sinh thực hành chữa nói ngọng.
b) Chữa lỗi nhỏ:
Đối với các em nói nhỏ, tôi thờng gây phản ứng trong lớp:
- ở dới các em nghe rõ không?
Cả lớp trả lời:
- Không ạ.
Trong trờng hợp này, tôi bảo nhỏ em đó hãy nhắc lại. Khi đó, em sẽ phải
nói to hơn hẳn.
Có khi tôi lại hỏi luôn em khác.
- Em hãy nhận xét ý kiến của bạn.

phát huy tác dụng trong lớp nh vậy.
- Với học sinh lớn, luôn phải giữ uy tín cho các em. Khi yêu cầu các em
trả lời, chính giáo viên phải giữ gìn t thế đàng hoàng, đúng mức của ngời thầy
giáo, đồng thời, lời nói cử chỉ phải tạo đợc niềm vui cho các em.
- Với học sinh nhút nhát, tôi cho các em tham gia nhiều trong hoạt động
tập thể để mạnh dạn dần, lu ý các em khi nói phải biết ngẩng cao đầu, nhìn
thẳng, không có những động tác thừa làm giảm tác dụng của câu nói và thiếu
lịch sự.
- Với học sinh thiếu vốn từ nên lúng túng ngợng nghịu, tôi yêu cầu các em
nắm vững phơng pháp tích luỹ vốn từ, lựa chọn từ.
* Mặt khác, tôi còn chú trọng cho điểm khi học sinh phát biểu. Tiêu chuẩn
cho điểm tôi quy định nh sau:
- Phát biểu nhiều lần trong một tiết, có nhiều ý đúng và gần đúng, cuối giờ
cho điểm 8, 9, 10 (tuỳ mức độ ý đúng, ý sai)
- Cả lớp không ai trả lời đợc, em nào phát biểu đúng, hay, tuỳ mức độ, cho
điểm 9 - 10.
- Phát biểu đúng, to, rõ, phong thái đàng hoàng, lời lẽ lu loát, cho điểm 10.
- Nói lúng túng không cho điểm, nhng phải đứng dậy nghe bạn khác phát
biểu rồi nhắc lại.
Chính cách cho điểm này đã khuyến khích học sinh thi đua phát biểu rất tốt.
II.2.2. Luyện nói kỹ năng nói trong các giờ luyện nói của phân
môn Tập làm văn theo phân phối ch ơng trình
Luyện nói là hoạt động phát ngôn trực tiếp, đòi hỏi ngời nghe phải nghe
trực tiếp. Một ngời nói thì ngời khác phải nghe. Vậy, làm thế nào để nhiều học
sinh có cơ hội đợc luyện nói và nhiều học sinh đợc nghe? Qua thực tế giảng dạy
và nghiên cứu, tôi rút ra phơng pháp nh sau:
II.2.2.1 . Yêu cầu học sinh chuẩn bị bài ở nhà chu đáo
Các bài luyện nói của phân môn Tập làm văn đợc cấu trúc hai phần chính:
Phần 1: Chuẩn bị. Phần II: Luyện nói trên lớp. Sách giáo khoa đã nêu những việc
làm cụ thể mà học sinh cần chuẩn bị. Giáo viên xác định cho học sinh thấy rõ

ý của sách giáo khoa. Điều quan trọng và giáo viên dành nhiều thời gian nhất đó
là: gợi ý chuẩn bị đoạn văn nói. Giáo viên hớng dẫn cụ thể những cách mở bài,
thân bài và kết bài sao cho khi nói, các chi tiết liền mạch, thống nhất, thể hiện đ-
ợc cảm xúc đối với tác phẩm. Nên phát huy khả năng nói rõ ràng, mạch lạc,
giọng nói có cảm xúc, tự nhiên.
II.2.2.2 . Tiến trình lên lớp
a) Hoạt động 1: Hớng dẫn chung
Từ Thị Hiền Trờng THCS Mạo Khê II
7
- Giáo viên nêu vai trò, tầm quan trọng, ý nghĩa của việc luyện nói (nếu là
tiết luyện nói đầu tiên trong chơng trình). Giáo viên có thể gọi một học sinh nói
về một vấn đề đơn giản để từ đó nhận xét kỹ năng nói của các em.
- Giáo viên nêu yêu cầu của giờ học, chú ý những quy định của việc luyện
nói: không nói dài dòng, văn hoa cầu kỳ, mà nên nói gọn rõ, mạch lạc theo dàn ý
đã chuẩn bị (không viết thành văn).
- Kiểm tra sự chuẩn bị của học sinh (các tổ, nhóm báo cáo kết quả kiểm
tra).
b) Hoạt động 2: Bổ sung hoàn chỉnh sự chuẩn bị của học sinh
- Nếu là luyện nói phát biểu cảm nghĩ về: sự vật, con ngời, về tác phẩm
văn học đã có định hớng trớc về đề bài thì giáo viên yêu cầu 1 -> 2 học sinh ở 2
tổ nộp dàn bài sơ lợc đa lên máy chiếu để cả lớp quan sát. Sau đó gọi học sinh
phát biểu đánh giá, bổ sung. Giáo viên gợi ý hoàn chỉnh dàn bài.
- Nếu là hoạt động: Sử dụng từ thì giáo viên củng cố cho học sinh kỹ năng
dùng từ đúng nghĩa, đúng cấu tạo Giáo viên chuẩn bị sẵn máy chiếu, giấy trong
đã viết những từ dùng đúng và dùng sai, yêu cầu học sinh nói trực tiếp, sửa trực
tiếp cho bạn
c) Hoạt động 3: Luyện nói theo tổ
Khuôn khổ thời gian không cho phép mọi học sinh đều đợc trình bày
miệng trớc lớp những gì mình đã chuẩn bị. Do đó cần chia tổ, nhóm để học sinh
tập nói với nhau. Trong quá trình các tổ luyện nói, giáo viên lu ý các em trong tổ

+ Khi nói về cảm nghĩ của mình về tác phẩm văn học thì nội dung phải
đầy đủ, nói chuẩn à nói đúng, nói theo dàn ý
+ Các ý phải đợc sắp xếp hợp lý, lời văn phải rõ ràng, trong sáng, cách nói
trôi chảy, tự nhiên, diễn cảm, có ngữ điệu.
+ T thế phải mạnh dạn, tự tin, biết phối hợp điệu bộ, cử chỉ và nét mặt thì
càng tốt.
GV lu ý thêm: Ngời nói hay, hấp dẫn là ngời biết làm chủ bài nói của
mình thể hiện ở chỗ thuộc bài nói, nói có cử chỉ, điệu bộ minh hoạ.
Hoạt động 2: Sau khi treo 4 bảng phụ của 4 tổ lên bảng, yêu cầu học sinh
bổ sung dàn ý của tổ bạn
Các bớc cụ thể:
* Mở bài: Giới thiệu thơ và hoàn cảnh tiếp xúc với bài thơ
* Thân bài:
Từ Thị Hiền Trờng THCS Mạo Khê II
9
- Hai câu đầu: Tiếng suối rì rầm từ xa vọng lại đêm khuya thanh vắng mới
nghe nh vậy -> Nghệ thuật lấy động tả tĩnh, ví tiếng suối với tiếng hát là một nét
vẽ tinh tế gợi tả núi rừng chiến khu mang sức sống và hơi ấm con ngời.
Câu thơ 2: Có 3 nét vẽ: tầng cao là trăng, giữa là cổ thụ, tầng thấp là hoa,
là rừng. Chữ lồng điệp lại 2 lần, nhân hoá trăng, cổ thụ và hoa; Hai vế tiểu đối
-> ngôn ngữ thơ trang trọng điêu luyện.
- Hai câu cuối: diễn tả tâm tình thi sĩ: xúc động trớc cảnh thiên nhiên mà
bởi lo lắng cho đất nớc.
* Kết bài: ấn tợng chung về bài thơ: là bài thơ thất ngôn tứ tuyệt kiệt tác.
Là một trong những bài thơ trăng đẹp nhất của Bác Hồ. Màu sắc cổ điển hoà hợp
với màu sắc thời đại. Cảm hứng thiên nhiên chan hoà với cảm hứng yêu nớc
nhuần nhị, đầy chất thơ
GV lu ý học sinh: Căn cứ vào dàn ý để trình bày theo trình tự nhất định.
Cảm xúc phải tự nhiên, chân thành. Không cần giấy (bài đã chuẩn bị) để đọc mà
chỉ dựa vào các ý để nói.

5. Hớng dẫn về nhà
- Lập dàn ý các đề còn lại trong SGK 57
- Tập nói ở nhà (có thể đứng trớc gơng để vừa nói vừa quan sát mình nói
rồi tự rút kinh nghiệm
- Chuẩn bị trớc bài sau
II.3. Ch ơng 3 : Ph ơng pháp nghiên cứu - kết quả nghiên cứu
II.3.1. Kết quả
- Bằng phơng pháp đã thực hiện nh trên, trong thời gian qua, tôi nhận thấy
học sinh đã đạt đợc một số kết quá nh sau:
+ Học sinh đã hiểu rõ vai trò của việc luyện nói, có ý thức nói thờng
xuyên không chỉ ở trong giờ học Ngữ văn mà cả trong giao tiếp hàng ngày.
+ Số học sinh nói ngọng l - n giảm hẳn. Một số em thế hiện rõ khả năng
nói tốt. Cụ thể trong đợt thi Chúng em kể chuyện Bác Hồ có em đạt đợc giải
cao trong toàn trờng.
+ Sự chuẩn bị của các em trong giờ luyện nói rất chu đáo. Các em hăng
hái, tự giác và đa số thích nói trớc toàn thể. Giờ học trở nên sinh động, vốn ngôn
ngữ của các em tăng lên rõ rệt.
+ Kết quả cụ thể qua khảo sát:
Số học sinh thực hành Lớp 7B1 (40 học sinh)
Lớp thí nghiệm
Lớp 7B2 (44 học sinh)
Lớp dạy cha thực
Từ Thị Hiền Trờng THCS Mạo Khê II
11
nghiệm phơng pháp
này
Số học sinh nói ngọng 20/40 34/44
Số học sinh diễn đạt lúng túng 30/40 35/44
Số học sinh nói mạch lạc, tự tin 4/40 3/44
Số học sinh đạt yêu cầu 8/40 7/44

tiếp hàng ngày) và trực tiếp (trong giờ Luyện nói chính thức). Đặc biệt ngời giáo
viên phải tâm huyết với nghề, phải kiên trì, không nên nóng vội.
III.1.4. Học sinh tích cực học tập dới sự hớng dẫn của giáo viên
Từ Thị Hiền Trờng THCS Mạo Khê II
12
- Giáo viên hiểu rõ tầm quan trọng của việc luyện nói cho học sinh, bản
thân giáo viên phải nói tốt, biết xử lý tình huống một cách linh hoạt, biết động
viên khuyến khích học sinh kịp thời, khen chê đúng mức tạo niềm tin cho các em.
III.1.5. Giáo viên và học sinh chuẩn bị chu đáo để giờ luyện nói đạt hiệu quả cao nhất.
- Giáo viên phải thờng xuyên có ý thức luyện nói cho học sinh ở tất cả các
tiết học đặc biệt là khi trả lời câu hỏi.
- Giáo viên trong tổ, nhóm chuyên môn trao đổi kinh nghiệm, dự giờ của
nhau để cùng tìm ra phơng pháp giải quyết những vấn đề còn tồn tại.
III.1.6. Việc chia tổ, nhóm để học sinh thực hành luyện nói đợc nhiều là rất
cần thiết. Với một số tiết cụ thể, giáo viên có thể giao cho mỗi tổ, nhóm một đề
riêng, hoặc cùng một đề nhng với những yêu cầu khác nhau (về nội dung, phơng
pháp) để học sinh chuẩn bị.
III.2. Đề nghị
III.2.1. Các tổ, nhóm chuyên môn nên chú ý tổ chức các hoạt động ngoại
khoá văn học để học sinh có nhiều cơ hội đợc thực hành nói. Chẳng hạn, trong
chơng trình Ngữ văn 7 có tiết Hoạt động Ngữ văn các giáo viên trong nhóm
Ngữ văn 7 có thể kết hợp với nhau tổ chức cuộc thi trong cả khối 7 (Thi ở lớp tr-
ớc, thi ở khối sau). Cần tổ chức trang trọng, tạo không khí vui tơi để lôi cuốn học sinh.
III.2.2. Nhà trờng có nhiều hoạt động ngoại khoá hơn để các em có điều
kiện giao lu, tiếp xúc, thể hiện kỹ năng nói về các vấn đề văn học trong cuộc
sống để sự cảm nhận của các em về văn chơng tự nhiên hơn, chân thực hơn.
Việc phát huy vai trò tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh đ-
ợc thể hiện ở nhiều mặt với nhiều phơng pháp khác nhau. Một trong những ph-
ơng pháp có tính tích cực, theo tôi đó là việc rèn luyện cho học sinh tự tin, sáng
tạo trong học tập trớc hết là ở việc luỵên nói tốt. Nói tốt, nói hay vừa giúp học

II.1 Chơng 1: Tổng quan 3
II.2 Chơng 2: Nội dung vấn đề nghiên cứu 3
II.3 Chơng 3: Phơng pháp nghiên cứu, kết quả nghiên cứu 13
III. Phần kết luận - kiến nghị 15
IV. Tài liệu tham khảo 18
Từ Thị Hiền Trờng THCS Mạo Khê II
15


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status