Sáng kiến kinh nghiệm: Để học tốt tiết luyện nói trong môn ngữ văn lớp 6
Chương 1:Lí do chọn đề tài
a/ Cơ sở lý luận :
Dạy học theo quan điểm giao tiếp là một trong những tư tưởng quan trọng
của chiến lược dạy học các môn ngôn ngữ ở trường phổ thông. Hiện nay các nước
trên thế giới rất coi trọng quan điểm này, lấy hoạt động giao giao tiếp là một trong
những căn cứ để hình thành và phát triển các hoạt động ngôn ngữ mà cụ thể là năng
lực nghe, nói, đọc, viết cho người học.
Nếu như nghe và đọc là hai kỹ năng quan trọng của hoạt động tiếp nhận
thông tin, thì nói và viết là hai kỹ năng quan trọng của hoạt động bộc lộ, truyền đạt
thông tin cần được rèn luyện và phát triển trong nhà trường .
Luyện nói trong nhà trường là giúp học sinh có thói quen nói trong những
môi trường giao tiếp khác nhau. Nó được thực hiện một cách hệ thống, theo những
chủ đề nhất định , gắn với những vấn đề quen thuộc trong cuộc sống hàng ngày,
đảm bảo những yêu cầu cơ bản về ngôn ngữ và phi ngôn ngữ ( lời, mạch lạc, liên
kết, các nghi thức lời nói, quy tắc hội thoại, cử chỉ, nét mặt, âm lượng, sức hấp
dẫn, ). Luyện nói tốt sẽ giúp người học có được một công cụ giao tiếp hiệu quả
trong cuộc sống xã hội.
b/ Cơ sở thực tiễn :
Ông bà ta từng dạy : “ Học ăn, học nói, học gói, học mở “. Không phải
ngẫu nhiên mà “ học nói” được xếp vào vị trí thứ hai của câu nói. Điều này cho
thấy noi cũng là một kỹ năng rất quan trọng trong giao tiếp hàng ngày. Trên thưcï
tế, việc dạy học môn Ngữ Văn hiện nay không phải khi nào cả bốn kỹ năng nghe,
nói, đọc, viết đều được chú trọng rèn luyện và phát triển đồng thời. Thông thường,
cả người biên soạn sách lẫn người dạy thường quá chú trọng vào việc dạy các tri
thức Văn, Tiếng Việt, Tập làm văn hay đọc diễn cảm, đọc hiểu mà bỏ qua nghe
,nói,. Và có một thưc tế nữa là nhiều thế hệ học sinh khi ra đời nhiều khi không biết
lắng nghe, thấu hiểu, không biết nói ra những điều mình nghĩ, không truyền đạt
chính xác thông tin hoặc không nói đúng theo quy tắc giao tiếp, không biết cách
đọc hiểu chính xác một văn bản
2/ Mục đích đề tài :
thể thực hiện trọng tâm đó một cách hoàn chỉnh, nhất là khi dạy những học sinh
vùng sâu, vùng xa, vùng mà học sinh ít có điều kiện phát triển kỹ năng giao tiếp
như học sinh ở vùng thành thị.
Ở ba lớp 6/4, 6/5 và 6/6 trường THCS Mỹ An, với tổng số học sinh là 120
nhưng đều nằm trong trường hợp đó. Phần lớn các em đều xuất thân và sinh sống ở
vùng nông thôn, có tâm lý e dè, ngại nói hoặc không tự tin khi nói trước đông
người. Các em lại ở nhiều trường tiểu học, cùng về học dưới ngôi trường THCS,
chính vì thế việc bộc lộ của các em tưởng chừng đơn giản nhưng thật ra là một điều
tương đối khó, mặc dù trong cuộc sống các em ăn nói khá lưu loát. Một lớp học 34
em thì chỉ có khoảng từ 5 – 6 học sinh là có thể tương đối tực tin bộc lộ với giáo
viên và học sinh khác. Và 5-6 em đó lại là những cán bộ lớp với học lực khá giỏi.
Chắc chắn với điều kiện như trên sẽ gây rất nhiều khó khăn cho giáo viên khi tổ
chức cho học sinh học những tiết luyện nói.
2/ Nội dung cần giải quyết :
a/ Cơ sở thực tế :
Trong sinh hoạt học đường , chúng ta không có tham vọng đào tạo những
nhà hùng biện, nhưng ít ra cũng luyện cho các em học sinh diễn đạt được ý mình
một cách gãy gọn và trôi chảy, có thể truyền đạt một cách hoàn hảo ý tưởng của
mình là chì khoá để thành công trong cuộc sống. Vấn đề quan trọng cần phải giải
quyết khi hướng dẫn các giờ luyện nói cho các em học sinh lớp 6 là tiếp tục rèn
luyện cho các em kỹ năng nói trước tập thể về kiểu bài văn vừa được học và thể
hiện suy nghĩ cá nhân về những vấn đề gần gũi, thiết thực với cuộc sống hàng
ngày. Cụ thể giúp các em :
- Biết cách phát biểu miệng, quan điểm, ý kiến cá nhân.
- Biết trình bày trước tập thể ý kiến cá nhân theo đề cương đã chuẩn bị trước
một vấn đề nào đó. Ví dụ như tạo cơ hội cho học sinh trình bày trước tập thể bài
văn kể chuyện đời thường, về cách vận dụng quan sát, tưởng tượng, so sánh và
nhận xét trong văn miêu tả và về bài văn miêu tả có chủ đề gắn với những sinh hoạt
gần gũi. Các nội dung luyện nói này đều tập trung vào trọng tâm chương trình Tập
làm văn là hai kiểu bài kể chuyện và miêu tả, nhằm tăng cường rèn luyện cho các
quan hệ, giúp học sinh thấy được sự gần gũi, thân tình nơi giáo viên Ngữ Văn, điều
này là cơ sở giúp học sinh dễ dàng bộc lộ với giáo viên hơn trong những giờ học
sau. Giáo viên có thể làm quen với các em bằng cách giới thiệu về mình, cũng là cơ
sở để các em theo đó mà tự giới thiệu bản thân về những điều đơn giản như họ tên,
tuổi, sở thích Điều này không kém phần quan trọng, vì nếu làm được như vay thì
giáo viên Ngữ Văn đã phần nào giúp học sinh bắt đầu tập làm quen với việc phát
biểu miệng.
Phát huy kỹ năng nói trong các giờ học, kết hợp với việc rèn luyện các kỹ
năng khác :
Trong các tiết học, giáo viên nên chú trọng kỹ năng nói cho học sinh thông
qua những lần phát biểu đóng góp xây dựng bài. Đặt những câu hỏi kích thích óc tư
duy và sự phản xạ. Những câu hỏi có ích lợi nhiều nhất là những câu hỏi mà học
sinh không thể trả lời một cách ngắn gọn là “ có” hay “ không” được, giáo viên nên
dùng 6 loại vấn ngữ : AI ? TẠI SAO ? NHƯ THẾ NÀO ? Ở ĐÂU ? LÚC NÀO?
CÁI GÌ ?. Thực tế , nếu giáo viên đặt những câu hỏi quá khó thì học sinh khó trình
bày ý kiến của mình một cách trọn vẹn được. Câu hỏi nên đi từ đơn giản đến phức
tạp để tập cho các em biết suy nghĩ trước khi nói, nói đúng vấn đề cần trao đổi, khi
nói cần bình tĩnh, tự tin Giáo viên cần khuyến khích, động viên học sinh phát
biểu suy nghĩ trong khi phát biểu và cả trong thảo luận, ngay cả khi ý kiến đó là sai
hoặc chưa hoàn toàn chính xác. Bên cạnh đánh giá việc trình bày của học sinh, giáo
viên cũng nên lưu ý cho học sinh những lỗi cần tránh trong nói tiếng Việt về chính
âm và hướng dẫn các em nói diễn cảm, ngắn gọn, súc tích, hấp dẫn người nghe.
Theo kinh nghiệm của các GVNV, hiệu quả của việc luyện nói cho học sinh
cao hơn hẳn khi giáo viên quan tâm và tạo điều kiện cho các em được tập nói trong
các giờ học như trên.
Phát huy kỹ năng nói trong sinh hoạt hàng ngày:
Ngoài việc chú trọng cho học sinh tập làm quen với việc trình bày miệng
trong những giờ học, theo ý kiến của bản thân tôi, giáo viên cũng nên tiếp xúc với
học sinh trong những lúc ngoài giờ lên lớp. Đó là những trao đổi để tìm hiểu tâm
tư, nguyện vọng của các em, ngoài ra còn nhằm mục đích khác là tạo cho các em
em học sinh lớp 6 thì khó có thể nói tốt nếu thực hiện theo cách đó. Vì với trình độ
của các em, các em sẽ khó diễn đạt thành nhiều ý khác nhau từ một ý chính, có
chăng thì các em sẽ nói theo ý chính đó chứ không phát triển ý thêm được. Do đó,
thiết nghĩ nên chăng phương pháp lập dàn bài ta nên áp dụng cho đối tượng học
sinh lớn hơn như lớp 8, lớp 9, còn đối với các em lớp 6 và lớp 7, ta cho phép các
em được chuẩn bị bài nói theo khả năng, sau đó các em sẽ tập nói thành thạo và khi
lên lớp các em sẽ nói theo sự chuẩn bị. Chắc chắn giáo viên sẽ nhận được những
bài nói tương đối hơn thay vì những lời ấp úng, ngập ngừng vì không tìm được ý.
Trong những quyển sách giới thiệu kỹ năng hoạt động của thanh thiếu niên, nhà
biên soạn Tôân Thất Sam và Nguyễn Thị Khiết cũng đồng ý với đề xuất này trong
quyển “Học sinh với kỹ năng thuyết trình và diễn đạt ý tưởng” (NXB Trẻ). Còn nếu
có những học sinh kỹ năng tốt hơn, ta có thể cho các em chuẩn bị bằng cách lập
dàn bài và cũng động viên các em còn lại chuẩn bị theo hướng này thì sẽ rất tốt.
Vấn đề còn phụ thuộc vào đặc thù của mỗi lớp, giáo viên cũng nên linh động để
học sinh có thể tự tin hơn khi bắt đầu bài nói.
Trở lại yêu cầu thứ nhất, giáo viên phải giúp học sinh chuẩn bị tốt nội dung
bài nói, bao gồm các vấn đề:
+ Nói cái gì? (xác định đề tài).
+ Nói với ai? (xác định giao tiếp).
+ Nói trong hoàn cảnh nào? (xác định hoàn cảnh giao tiếp).
+ Nói như thế nào? (cách thức giao tiếp để thuyết phục người nghe).
- Có lời chào khi bắt đầu nói, giới thiệu đề tài sắp nói.
- Tránh đọc lại hoặc thuộc lòng để đọc lại bài văn chi tiết đã chuẩn bị.
- Giọng nói rõ ràng, cao độ vừa phải, đúng chuẩn ngữ âm, truyền cảm và
thuyết phục người nghe (biết lên trầm xuống bổng hoặc thể hiện cảm xúc chân
thành, tự nhiên, không gò bó, áp đặt).
- Tác phong tự nhiên tự chủ, phản xạ ngôn ngữ nhanh nhạy, mắt nhìn thẳng
mọi người.
- Không nói ra ngoài những gì mà đề bài yêu cầu.
- Có lời chào khi kết thúc bài nói.
+ Giáo viên chia từng nhóm chuẩn bị đề tài để trình bày.
+ Khi kết thúc nên có sự tổng kết, nhận xét, động viên, khen ngợi.
Ý nghĩa của việc làm này sẽ tích lũy thêm nhiều kinh nghiệm, tạo tiền đề cho
các em vững vàng hơn trong khi học tiết luyện nói trong những năm tới.
4. Kết quả, chuyển biến của đối tượng:
Sau khi áp dụng những phương pháp như đã nêu, cho đến thời điểm nầy thì
học sinh đã có sự chuyển biết tương đối khá tốt. Cụ thể:
- Các em không còn rụt rè,e ngại, thiếu tự tin khi đứng trước đám đông để
luyện nói mà theo vào đó là sự dạn dĩ, tự tin, thái độ cởi mở hơn.
- Không khí lớp học có sự hào hứng, sôi nổi, các em thích được học những
tiết luyện nói hơn.
- Bìa nói do có sự chuẩn bị chu đáo nên khi trình bày các em không có sự
ngập ngừng, ấp úng, nội dung cũng trọn vẹn, đầy đủ hơn. Do đó, đa số bài nói đều
hoàn chỉnh hơn lúc trước.
- Kỹ năng nói của các em đã có sự tiến bộ: các em biết chào khi mở đầu và
khi kết thúc, biết giới thiệu đề tài, cách nói cũng trôi chảy, gãy gọn, đúng chính âm,
có kết hợp những yếu tố phi ngôn ngữ (cử chỉ, nét mặt, thái độ…).
- Đáng mừng hơn, số lượng học sinh có thể tự tin lên lớp trình bày đã không
còn dừng lại ở con số 5/34 nữa mà đã tăng lên rõ rệt.
+ Lớp 6
4
: 30/34 (chiếm 88,2%)
+ Lớp 6
5
: 25/34 (chiếm 73,5%)
+ Lớp 6
6
: 45/52 (chiếm 86,5%)
Số còn lại cũng đã tương đối dạn dĩ hơn khi trình bày nhưng bài nói của các
em chưa hoàn chỉnh do khả năng chuẩn bị còn hạn chế.
- Thời gian 45 phút cho 1 giờ luyện nói không đủ để giáo viên có thể cho số
lượng học sinh lên nói được nhiều, vì lớp học có sỉ số đông, không phù hợp khi tổ
chức luyện nói.
- Thiết kế lớp học chưa phù hợp cho những giờ luyện nói.
Trên đây là những khó khăn mà giáo viên Ngữ văn thường gặp, nếu được
quan tâm giải quyết kịp thời sẽ góp phần nâng cao hiệu quả cho những giờ luyện
nói.
Với những điều bản thân đã lĩnh hội được, hy vọng đóng góp phần nào để có
thể nâng cao chất lượng và hiệu quả khi giảng dạy theo tinh thần đổi mới là chú
trọng hoạt động giao tiếp, góp phần nâng cao kỹ năng nói cho học sinh.