SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ BIỆN PHÁP TÁC ĐỘNG ĐẾN HỌC SINH VÀ HƯỚNG DẪN
HỌC SINH HỌC BÀI ĐỂ NÂNG DẦN CHẤT LƯỢNG ĐẠI TRÀ
MÔN NGỮ VĂN LỚP 9
PHẦN I - ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong quá trình giảng dạy tôi nhận thấy bộ môn Ngữ Văn có một vị trí
quan trọng trong chương trình của cấp học Trung học cơ sở. Ngoài việc cung
cấp kiến thức của bộ môn như: kiến thức Tiếng Việt giúp học sinh biết cách sử
dụng ngôn ngữ Tiếng Việt đúng trong nói và viết, kiến thức Văn học giúp học
sinh hiểu nội dung nghệ thuật các tác phẩm văn học biết cảm nhận các giá trị từ
tác phẩm, kiến thức Tập làm văn giúp học sinh biết cách làm các kiểu loại văn
bản nghị luận, hành chính công vụ…., môn Ngữ Văn còn góp phần to lớn trong
việc giáo dục và bồi dưỡng tư tưởng tình cảm cho các em học sinh biết yêu
thương, quý trọng gia đình, thầy cô, bạn bè, có lòng yêu nước, biết hướng tới
những tư tưởng cao đẹp như lòng nhân ái, tinh thần tôn trọng lẽ phải, sự công
bằng, lòng căm ghét cái ác, cái xấu… Tuy nhiên học Văn là cả một quá trình,
không thể học dồn kiến thức mà phải cập nhật từng ngày, từng vấn đề, từng tác
phẩm, học sinh phải hiểu tác giả, nội dung cơ bản của tác phẩm, giá trị nghệ
thuật để qua đó có được sự cảm nhận về tác phẩm và học sinh phải có kĩ năng
làm được các dạng bài trong chương trình. Mỗi một bài tập làm văn thường mất
nhiều thời gian, thường viết từ một trang cho đến vài trang giấy. Chính về những
điều này mà ngày nay học sinh ngại học văn hơn các môn Khoa học tự nhiên
như Toán, Lý Hóa. Để nâng dần chất lượng môn Ngữ văn, trong đó có bộ môn
Ngữ văn lớp 9 theo tôi phải kết hợp nhiều biện pháp tác động đến học sinh. Qua
kinh nghiệm của bản thân trong quá trình dạy học, qua việc tìm hiểu thực tế ở
dạy-học môn Ngữ Văn ở trường Trung học cơ sở Nam Mỹ, tôi xin đưa ra sáng
kiến kinh nghiệm : “Một số biện pháp tác động đến học sinh và hướng dẫn học
sinh học bài để nâng dần chất lượng đại trà môn Ngữ văn lớp 9”.
PHẦN II – GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
A – CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ
của học sinh. Sau khi hướng dẫn giáo viên phải đưa ra được những bài tập cùng
dạng để học sinh làm. Giáo viên phải tích cực kiểm tra quá trình tiếp nhận kiến
thức và hình thành kĩ năng của học sinh.
Chương trình sách giáo khoa lớp 9 hiện nay cung cấp các kiến thức cho
học sinh từ các kiến thức thực tế đời sống đến các kiến thức vận dụng vào cuộc
sống như sử dụng vốn từ, viết các loại văn bản hành chính công vụ; từ các tác
phẩm văn chương hình thành cho học sinh tình yêu cuộc sống biết viết những
bài luận ngắn hay trình bày suy nghĩ về một vấn đề văn học và đời sống hàng
ngày. Để hình thành cách tạo lập văn bản giáo viên cần có sự tích hợp trong
giảng dạy với các bộ môn như Giáo dục công dân, Lịch sử…để học sinh biết
được các vấn đề của thực tế đời sống và đưa vào văn bản ở các bài nghị luận xã
hội. Bên cạnh sách giáo khoa là các phương tiện như tranh ảnh, máy vi tính,
máy chiếu….cũng giúp học sinh tiếp cận bài học hiệu quả hơn. Với những học
sinh hạn chế trong việc học văn các em thường không cảm nhận và tiếp thu bài
nhanh như các bạn khác vì vậy khi dạy kiến thức trong sách giáo khoa giáo viên
phải vận dụng linh hoạt các thiết bị dạy học cả kênh hình lẫn kênh chữ. Các
phương tiện dạy học hiện đại như máy trình chiếu, dạy học bằng sơ đồ tư duy
luôn đem lại hiệu quả cao khi học sinh có sự hào hứng trong tiếp cận kiến thức.
Khi sử dụng sách giáo khoa giáo viên phải là người nắm rất vững toàn bộ
chương trình cả ba phân môn, nhớ tất cả các tác phẩm văn học các kiểu dạng tập
làm văn và khái quát hệ thống được toàn bộ kiến thức Tiếng Việt. Giáo viên
phải thực sự có kiến thức vững vàng và chịu khó học hỏi đồng nghiệp về
phương pháp giảng dạy cách truyền thụ cũng như cách khai thác kiến thức sao
cho có hiệu quả nhất. Về phía học sinh giáo viên phải quan tâm tìm hiểu đặc
điểm tâm lý, hoàn cảnh gia đình để có được những sự tác động phù hợp.
B – THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ
2
1. Trước hết xét về phía học sinh: Trường Trung học cơ sở Nam Mỹ là một
trường giáp thành phố Nam Định nhiều gia đình có nghề phụ như buôn nhựa,
nhôm, bán hàng buổi sáng, làm cây cảnh…Một số gia đình đi làm ăn xa để con
nên không có điều kiện quan tâm đến học hành của con em; và một bộ phận phụ
huynh trình độ nhận thức còn hạn chế, nên phụ huynh chỉ quan tâm đến con cái
theo cách riêng của mình có thể là cả sự nuông chiều chứ chưa có sự chú ý thực
sự đến việc học tập của con, chưa có biện pháp theo dõi kiểm tra quá trình học
tập của con em. Nhiều gia đình quá bận mải với làm ăn nên không chú ý việc
học bài và làm bài của con mình ở nhà, không thường xuyên kiểm tra nên học
sinh đối phó với gia đình bằng cách học qua loa. Một số gia đình có điều kiện
thuê gia sư cho con học nhưng không có sự kiểm tra trình độ của người dạy con
mình nên kết quả học tập cũng không có sự tiến bộ. Với những học sinh có sức
học hạn chế môn Ngữ văn nếu gia đình không có sự quan tâm thì các em ngày
càng lười học và dẫn đến kết quả học tập sẽ rất kém.
3
4. Về phía nhà trường: Nếu như các nhà trường không có sự quan tâm trong
việc đổi mới thì chất lượng giáo dục sẽ không bao giờ có sự cải thiện. Như tôi
biết hiện nay trong tất cả các nhà trường đều đang thực hiện đổi mới phương
pháp dạy học và kiểm tra đánh giá. Trường Trung học cơ sở Nam Mỹ trong năm
học vừa qua cũng như các năm học trước luôn cố gắng tạo mọi điều kiện thuận
lợi về trang thiết bị đến cơ sở vật chất, chuyên môn nhằm tạo điều kiện tốt nhất
cho công tác giảng dạy để nâng dần chất lượng đại trà các môn học trong đó có
môn Ngữ văn. Công tác phụ đạo cho học sinh yếu, trung bình luôn được quan
tâm tiến hành đều đặn trong các tuần của năm học. Về bộ môn Ngữ văn lớp 9
nhà trường đã phân công giáo viên đứng lớp là những đồng chí có nhiều năm
kinh nghiệm thực hiện tốt đổi mới phương pháp dạy học. Vì lớp 9 là năm cuối
cấp có sự quyết định lớn đến tương lai của học sinh. Nên những giáo viên dạy
lớp 9 luôn là các đồng chí có năng lực, có tình yêu nghề mến trẻ. Chính vì điều
đó mà chất lượng bộ môn Ngữ văn có sự ổn định và tiến bộ trong các năm.
C – CÁC BIỆN PHÁP ĐÃ TIẾN HÀNH ĐỂ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1. Từ thực tế giảng dạy tôi nhận thấy trước hết giáo viên phải nắm vững kiến
thức trong sách giáo khoa và chuẩn kiến thức. Như trên đã trình bày bộ môn
Ngữ văn lớp 9 chia làm 3 phân môn nhỏ là Văn học, Tiếng Việt, Tập làm văn.
giá mức độ tiến bộ của học sinh ( Bảng điểm giai đoạn I,II lớp 9 năm học 2013-
2014 trong phụ lục). Với những học sinh có sự tiến bộ cố gắng giáo viên thông
báo để gia đình biết và cùng giáo viên có biện pháp tác động để học sinh đạt kết
quả tốt hơn. Trong quá trình giảng dạy tôi nhận thấy dù gia đình học sinh có thể
làm ăn xa nhưng khi có sự liên lạc thường xuyên với giáo viên thì kết quả giáo
dục của học sinh vẫn ổn định và có sự tiến bộ.
3. Trong quá trình dạy học, giáo viên cần chú trọng đến dạy đúng trọng tâm
chuẩn kiến thức kĩ năng, dạy phù hợp đặc trưng bộ môn và đối tượng. Đặc biệt
là chú trọng đổi mới phương pháp dạy học, chú ý hình thành cách học ý thức tự
học cho học sinh. Muốn làm được như vậy thì người giáo viên cần phải thực
hiện một số giải pháp cụ thể sau:
3.1.Trước hết một giáo viên khi được phân công dạy một lớp phải tìm
hiểu năng lực và điều kiện hoàn cảnh, tâm tư tình cảm của học sinh lớp mình
trực tiếp giảng dạy. Một số giáo viên nghĩ chỉ cần lo dạy cho tốt còn việc tìm
hiểu tình hình gia đình học sinh là việc của giáo viên chủ nhiệm, theo tôi đây là
suy nghĩ chưa đúng.
- Vì đây sẽ phải là việc đầu tiên mà mỗi người giáo viên trong quá trình
dạy học muốn công tác giáo dục có kết quả. Ngay từ đầu năm học giáo viên phải
nắm bắt được khả năng học tập của các em có thể thông qua nhiều kênh thông
tin: Như kết quả học tập năm trước, bài kiểm tra khảo sát đầu năm, thông tin từ
giáo viên dạy năm trước hoặc thông qua bạn bè cùng lớp của học sinh. Đây là
một việc làm rất quan trọng, bởi thông qua việc nắm bắt năng lực của học sinh
mà giáo viên có thể thực hiện tốt phương pháp dạy học của mình, cũng vì điều
này giáo viên có thể dạy học phù hợp với từng đối tượng . Trong nhiều năm dạy
lớp 9 bản thân tôi đã thực hiện điều này và nhận thấy kết quả thu lại rất tốt. Như
trong năm học 2012-2013 và 2013-2014 trong lớp tôi dạy có những học sinh sau
khi khảo sát đầu năm và thông qua tìm hiều từ giáo viên dạy năm trước, tôi đã
nắm rõ từng đối tượng học sinh. Bước đầu kiểm tra và hiểu được những kiến
thức học sinh đã có và những kiến thức học sinh còn hạn chế. Trong năm học
2012-2013 ngay sau khi nhận lớp và khảo sát lớp có 23 học sinh trong đó điểm
công em Phạm Thị Hường làm nhóm trưởng và thường xuyên tôi cung cấp tài
liệu cho nhóm để làm các dạng bài tập nâng cao, mỗi tuần tôi dạy thêm cho
nhóm 1 buổi bổ trợ các bài tập khó; nhóm thứ 2 là 10 học sinh trung bình và 8
học sinh dưới trung bình tôi chỉ cung cấp các kiến thức trọng tâm cơ bản và đưa
nhiều bài tập cơ bản cho học sinh làm, tích cực chấm chữa để học sinh phát hiện
ra những chỗ còn sai và sửa. Sau 1 năm dạy học theo phân hóa đối tượng tôi
nhận thấy kết quả rất tốt những học sinh trong nhóm trung bình và dưới trung
bình điểm thi có sự thay đổi rõ rệt, đặc biệt điểm thi vào THPT thấp nhất là
điểm 5.75 và cao nhất là 7.0. Trong năm học 2013-2014 tôi cũng thực hiện như
năm học 2012-2013 tôi cũng dạy học theo phân loại đối tượng, chính nhờ sự
phân loại ngay từ đầu năm mà kết quả bộ môn Ngữ văn lớp tôi trực tiếp giảng
dạy kết quả các giai đoạn thi đều đạt và vượt mức trung bình của huyện và vượt
chỉ tiêu nhà trường giao từ đầu năm học.
3.2.Trong quá trình giảng dạy tôi luôn hướng dẫn học sinh rất kĩ cách đọc
sách giáo khoa, phương pháp trả lời các câu hỏi trong phần đọc hiểu hay trả lời
các câu hỏi trong phần bài tập Tiếng Việt và tập làm văn. Với những học sinh
sức học trung bình để vươn lên khá ở các câu hỏi trong phần đọc hiểu tôi thường
yêu cầu học sinh trả lời theo ý sau đó với những câu hỏi yêu cầu viết đoạn hoặc
bài, tôi hướng dẫn cụ thể cách viết trước rồi mới yêu cầu học sinh làm. Còn với
những học sinh khá tôi không chỉ yêu cầu trả lời theo các câu hỏi trong sách
giáo khoa mà tôi còn yêu cầu học sinh viết đoạn hoặc bài với những câu hỏi yêu
cầu có sự lập luận. Tôi cũng hướng dẫn học sinh cách chọn sách tài liệu tham
khảo vì hiện nay sách tham khảo bán quá nhiều và có cả những quyển sách
không có chất lượng. Những cuốn sách bài văn mẫu tôi chỉ định hướng học sinh
mua một quyển tham khảo thường là của nhà xuất bản Giáo dục. Còn lại tôi yêu
cầu học sinh phải có vở bài tập để làm theo sự hướng dẫn.
Việc chuẩn bị bài trước khi đến lớp là một khâu rất quan trọng trong quá
trình tiếp thu kiến thức của học sinh. Ngay trong buổi học đầu tiên của lớp 9 tôi
6
đã hướng dẫn học sinh cách học bài ở nhà. Với phần Tiếng Việt tôi thường yêu
tư duy, động não sáng tạo; việc đặt câu hỏi cũng cần tính toán tránh bỏ sót đối
tượng. Giáo viên cần xây dựng phương pháp dạy học phù hợp với từng phân
môn, cần tích hợp các phương pháp trong một giờ dạy. Sử dụng hiệu quả đồ
dùng dạy học. Trong một số tiết học tôi có sử dụng vi tính và trình chiếu tôi thấy
học sinh rất hào hướng tiếp thu kiến thức. Sau mỗi bài dạy trong phần rút kinh
nghiệm ở cuối giáo án đôi khi giáo viên chưa thực sự chú ý, nhưng sau mỗi bài
dạy tôi luôn ghi lại những gì mình đã làm được ở tiết dạy và còn lại những kiến
thức nào chưa dạy được tôi ghi lại cụ thể để có biện pháp dạy hết phần kiến thức
trong tiết học sau. Trong phần giáo án dạy phụ đạo tôi có sự phân loại đối tượng
rõ, trong một tuần có 2 buổi phụ đạo một buổi cho nhóm 1 là những học sinh
khá giỏi, một buổi cho nhóm 2 là những học sinh trung bình và dưới trung bình.
Giáo án dạy học nhóm 1 tôi luôn đưa ra các bài tập nâng cao vì các em này kiến
thức cơ bản đã nắm chắc, thông thường tôi cung cấp dạng bài theo chuyên đề,
hướng dẫn học sinh cách làm và yêu cầu học sinh làm bài và tôi chấm chữa. Còn
7
trong giáo án dạy nhóm 2 tôi luôn kiểm tra những kiến thức cơ bản nhất từ ghi
nhớ đến nội dung của mỗi bài học theo từng tuần: Phần Tiếng Việt tôi kiểm tra
kĩ phần ghi nhớ và yêu cầu học sinh làm lại các bài tập trong sách giáo khoa, tôi
còn cung cấp thêm một số bài tập bên ngoài nhưng đều là những bài tập đơn
giản để học sinh hình thành kĩ năng làm bài. Với những học sinh làm đi làm lại
vẫn sai tôi phải uốn nắn cụ thể, chỉ ra cái sai sau đó yêu cầu học sinh tự làm lại
các bài tôi đã chữa. Phần văn học trong giáo án soạn tôi luôn hướng đến ôn tập
củng cố kiến thức đã học trong giảng văn và kiểm tra phần nhớ kiến thức của
học sinh. Trong mỗi giáo án tôi luôn có phần hướng dẫn lại nội dung nghệ thuật
của bài sau đó mới kiếm tra từng phần nội dung của bài đã học. Phần Tập làm
văn là khó nhất với học sinh trung bình yếu vì các em rất hạn chế kĩ năng, trong
giáo án tôi xác định rõ việc hướng dẫn học sinh cách làm từng phần từng đoạn,
cách viết đoạn văn theo các cách, cách trình bày đoạn văn trong một văn bản,
cách xây dựng một văn bản hoàn chỉnh. ( Giáo án dạy phụ đạo 1 bài học trong
phần phụ lục)
8
làm bài. Tôi thường yêu cầu học sinh nắm vững kiến thức trong phần ghi nhớ
ngay tại lớp và học sinh vận dụng làm bài ở lớp. Những kiểu dạng bài khó tôi
hướng dẫn học sinh làm và đưa ra bài tập tương tự để học sinh về nhà làm. Ví dụ
khi dạy bài “Khởi ngữ” sau khi cho học sinh tìm hiểu các ví dụ trong sách giáo
khoa tôi rút ra kết luận trong phần ghi nhớ. Tất cả các ví dụ trong sách giáo khoa
tôi đều giảng rất kĩ cho học sinh, tôi phân tích từng dấu hiệu nhận biết. Tôi dành
5 phút cho học sinh nhẩm lại phần ghi nhớ rồi tôi tiếp tục cho học sinh làm các
bài tập còn lại trong sách giáo khoa, yêu cầu một số học sinh lên bảng làm và tôi
chữa luôn bài tập để học sinh nhận ra những chỗ đúng, sai trong bài làm của
mình. Phần bài tập về nhà tôi thường yêu cầu học sinh làm lại các bài tôi đã
chữa ở trên lớp bên cạnh đó tôi còn cung cấp thêm một số bài tập để học sinh
làm. Tất cả các bài tập tôi sẽ kiểm tra hoặc yêu cầu các bộ lớp kiểm tra.
- Khi dạy Văn bản trước mỗi bài dạy tôi đều kiểm tra sự chuẩn bị bài ở
nhà của học sinh. Nếu là học tác phẩm truyện tôi yêu càu học sinh đọc tóm tắt,
nếu là thơ tôi yêu càu học sinh đọc thuộc thơ. Sau đó tôi yêu cầu học sinh tìm
hiểu kiến thức trong phần chú thích sao để hiểu đôi nét về tác giả, tác phẩm, hiểu
hoàn cảnh sáng tác của tác phẩm. Vì khi học sinh có hiểu về phong cách sáng
tác về cuộc đời của tác giả thì mới có sự hiểu tốt về văn bản của tác giả. Ví dụ
khi dạy bài thơ “Đồng chí” phần giới thiệu tác giả tác phẩm tôi đặt ra các câu
hỏi như: Dựa vào sách giáo khoa em hãy trình bày đôi nét về tiểu sử sự nghiệp
của tác giả Chính Hữu? Hãy nêu hoàn cảnh sáng tác bài thơ? Nhưng câu hỏi này
thường đã có trong sách nên học sinh dễ dàng trả lời và có thể nhớ được. Trong
phần phân tích giảng văn tôi luôn thực hiện theo giáo án đã soạn, tôi chia tách
văn bản ra thành từng phần kiến thức với các luận điểm cụ thể, sử dụng các đẫn
chứng từ văn bản cùng lý lẽ phân tích để học sinh hiểu bài. Hệ thống câu hỏi đặt
ra thường ngắn gọn dễ hiểu. Sau mỗi bài học tôi yêu cầu học sinh làm bài tạp về
nhà thông thường là viết những đoạn văn theo đề bài tôi đưa ra, tôi hướng dẫn
cụ thể cho học sinh để các em có phương pháp học bài và làm bài về nhà.
- Khi dạy Tập làm văn ở những bài học về lý thuyết tôi thường dạy kĩ
*Thân
bài:
1. Số phận oan nghiệt của Vũ Nương
- Tình duyên ngang trái.
- Mòn mỏi đợi chờ, vất vả gian lao.
- Cái chết thương tâm.
- Nỗi oan cách trở.
2. Vẻ đẹp của Vũ Nương.
- Ngay từ đầu đã được giới thiệu “tính đã thùy mị nết na, lại thêm
tư dung tốt đẹp”. Đây là một người con gái đẹp người đẹp nết.
- Là người vợ đảm đang, biết giữ gìn khuôn phép, một lòng một dạ
chung thủy với chồng (thể hiện trong những cư xử khéo léo để gia
đình không lâm vào cảnh thất hòa, dù người chống có tính đa nghi;
trong lời dặn dò ân tình, đằm thắm khi tiễn chồng đi lính; chung
thủy chờ chồng “cách biệt ba năm giữ gìn một tiết”).
- Là một người mẹ hiền, dâu thảo: vừa một mình nuôi dạy con thơ
vừa làm tròn phận sự của một nàng dâu (chăm sóc, thuốc thang khi
mẹ chồng đau ốm, ma chay chu tất khi bà qua đời) (Dẫn chứng,
phân tích)
- Người phụ nữ lý tưởng trong xã hội phong kiến.
3. Đánh giá:
-Qua nhân vật Vũ Nương, Nguyễn Dữ cất lên tiếng nói thông cảm,
bênh vực người phụ nữ đồng thời phản ánh, tố cáo xã hội phong
kiến bất công, vô nhân đạo.
- Liên hệ so sánh với những tác phẩm viết về nỗi bất hạnh của
người phụ nữ và ca ngợi vẻ đẹp của họ.
*Kết bài - Vũ Nương là người phụ nữ mang vẻ đẹp mẫu mực của người phụ
nữ dưới xã hội phong kiến. Lẽ ra nàng phải được hưởng hạnh phúc
trọn vẹn nhưng lại phải chết oan uổng, đau đớn. Phẩm chất và số
phận bi thảm của nàng gợi phẩm chất tốt đẹp và số phận bi thảm
sinh làm lại những câu mà giáo viên đã chữa và tôi chấm lại. Hầu như tất cả các
bài học sinh làm lại đều đáp ứng yêu cầu và rất ít em bị mắc lỗi ở lần sau. Tuy
vậy cũng có trường hợp học sinh sau khi giáo viên đã chữa bài nhưng vẫn không
hiểu và không vận dụng được. Những trường hợp này tôi thường dành một
khoảng thời gian nhất định trong các buổi phụ đạo để hướng dẫn lại kiến thức,
cách làm. Với những học sinh có sự tiến bộ tôi thường động viên khen ngợi
trước lớp. Qua mỗi lần kiểm tra đánh giá cần xem xét sự tiến bộ của các em, trân
trọng sự tiến bộ đó dù là rất nhỏ. Đặc biệt, chú trọng việc động viên khích lệ qua
mỗi lần các em được kiểm tra đánh giá.
Sau mỗi bài kiểm tra theo phân phối chương trình hay kiểm tra giai đoạn
khi nhận kết quả chấm chéo theo miền, huyện tôi tiến hành phân tích chất lượng
cụ thể từng học sinh ( Bảng theo dõi và phân tích chất lượng, 1 bài phân tích
chất lượng trong bản phụ lục), trả bài cho học sinh để học sinh tự đối chiếu với
đáp án tôi cung cấp. Với những học sinh còn làm sai kiến thưc kĩ năng tôi yêu
cầu làm lại các bài sai, tôi hướng dẫn lại cẩn thận để học sinh có cách làm đúng.
Và không mắc phải những sai lầm tương tự ở các bài kiểm tra tới. Trong sổ
chấm trả tôi nhận xét cụ thể từng nhóm đối tượng học sinh theo dõi sự tiến bộ
của các em. Tôi phân tích những kiến thức học sinh đã đạt được và những kiến
11
thức mà học sinh vẫn còn làm sai để đưa ra hướng khắc phục. Sau khi có kết quả
kiểm tra ở lớp hay kiểm tra giai đoạn với những học sinh chậm tiển bộ tôi
thường liên lạc với gia đình để gia đình nắm bắt tình hình hiện tại của con em.
4. Công tác phụ đạo học sinh yếu kém để nâng dần chất lượng đại trà cũng là
một phần rất quan trọng
Để nâng dần chất lượng đại trà môn Ngữ văn trong công tác phụ đạo học
sinh yếu kém thì ngay từ đầu năm học giáo viên phải xây dựng được kế hoạch
phụ đạo cụ thể theo giai đoạn, từng tháng; phải chỉ rõ được nội dung kiến thức
mà giáo viên cần truyền thụ cho học sinh và học sinh sẽ tiếp nhận kiến thức đó.
Sau đó dựa vào kế hoạch phụ đạo giáo viên xây dựng giáo án cụ thể chi tiết từng
nỗi bất hạnh của Vũ Nương. Sau đó tôi giảng lại kiến thức để học sinh hiểu cụ
thể hơn, tôi kiểm tra lại việc học bài của học sinh qua một số câu hỏi trong phần
đọc hiểu văn bản. Tôi không kiểm tra toàn bộ nội dung của bài mình đã dạy mà
tôi kiểm tra theo phần kiến thức như : Em hãy trình bày hình ảnh nhân vật Vũ
12
Nương trước khi lấy chồng được tác giả giới thiệu như thế nào?, hình ảnh Vũ
Nương sau khi lấy chồng hiện lên như thế nào? Với các câu hỏi ngắn xoay
quanh nội dung bài đã học nên học sinh trả lời câu hỏi rất nhanh. Sau khi kiểm
tra kiến thức học bài của học sinh tôi thường yêu cầu học sinh viết lại phần kiến
thức trong một đoạn văn theo cách hiểu của mình trong thời gian khoảng 15 đến
25 phút. Yêu cầu 1 số học sinh đọc bài viết và tôi sửa cụ thể từng bài. Theo tôi
nghĩ khi hướng dẫn học sinh viết từng đoạn ngắn sẽ hình thành ở học sinh kĩ
năng xây dựng đoạn và đặc biệt học sinh có lực học hạn chế môn văn nếu yêu
cầu các em viết luôn thành một bài văn hầu như các em đều không viết được.
Khi học sinh đã có kĩ năng viết đoạn văn tôi hướng dẫn học sinh cách viết mở
bài thường là theo cách trực tiếp, cách viết phần đánh giá và kết bài. Cách
hướng dẫn này thường mất nhiều thời gian nhưng thu lại kết quả tốt vì học sinh
không chỉ nội dung nghệ thuật của tác phẩm mà còn biết vận dụng kiến thức vào
làm bài tập làm văn nghị luận nhân vật văn học. Khi đã hướng dẫn cẩn thận một
vài buổi đầu thì học sinh sẽ có kĩ năng làm bài, học bài hiệu quả. Phần tiếp theo
thường là cuối buổi học tôi cung cấp dàn ý đại cương cho học sinh để các em về
nhà hoàn chỉnh thành một bài làm. Tôi yêu cầu học sinh làm và nộp bài vào
ngày hôm sau, tôi chấm và trả bài vào một buổi phụ đạo gần nhất.
Với dạng bài nghị luận tư tưởng đạo lý và đời sống xã hội học sinh rất
khó tư duy vì vốn sống của các em rất hạn chế nên các vấn đề mới hoặc có tính
thời sự học sinh viết không tốt như : vấn đề an toàn giao thông, ô nhiễm môi
trường, tệ nạn xã hội, trò chơi điện tử……Để làm được dạng bài này ngoài việc
cung cấp và yêu cầu học sinh phải nhớ nắm vững phương pháp làm bài thì trong
các buổi dạy tôi phải cung cấp thêm cho học sinh tìm hiểu các vấn đề học sinh
sẽ viết thông qua các câu chuyện trong chương trình môn giáo dục công dân hay
thành ở học sinh niềm đam mê yêu thích với văn chương, có sự hứng thú khi
tiếp cận tác phẩm văn học. Có được như thế thì chất lượng môn Ngữ văn mới
được nâng lên.
D – HIỆU QUẢ CỦA ĐỀ TÀI
Theo tôi khi giáo viên có sự quan tâm, có phương pháp giảng dạy, tác
động cụ thể vào từng học sinh; giáo viên hướng dẫn học sinh cách học từng
dạng bài thì kết quả mang lại là rất khả quan. Qua hai năm áp dụng sáng kiến
kinh nghiệm này tại trường Trung học cơ sở nam Mỹ tôi thấy chất lượng giảng
dạy bộ môn Ngữ văn lớp 9 do tôi trực tiếp đứng lớp đã có những tiến bộ rõ rệt.
Trong năm học 2012 – 2013 lớp 9B tôi dạy có 23 học sinh khi khảo sát
đầu năm có 43.48% học sinh điểm Trung bình, 34.78% học sinh điểm dưới
trung bình; kết thúc học kì I số học sinh dưới trung bình không còn, số học sinh
trung bình vươn lên khá là 3 học sinh. Kết thúc học kì II có 4 học sinh tổng kết
điểm loại Giỏi chiếm 17.39%, loại Khá có 13 học sinh chiếm 56.52%, loại trung
bình 6 học sinh chiếm 26.08%. Tỷ lệ thi vào THPT đạt kết quả như sau: 23 học
sinh đăng kí dự thi thì 21 học sinh đỗ, 2 học sinh trượt; điểm trung bình cộng
của 23 học sinh là 7.1 điểm, trong đó không có điểm dưới 5, có 20 điểm từ 6.5
và có 1 học sinh thi đỗ vào Trung học chuyên Lê Hồng Phong môn Ngữ Văn.
Trong năm học 2013 – 2014 lớp 9A tôi đứng lớp có 31 học sinh khi khảo
sát đầu năm có 48.39% điểm dưới Trung bình, có 51.61% điểm trên Trung bình;
hầu hết điểm dưới trung bình là điểm 3; 4 khiến tôi rất lo lắng. Tuy vậy khi áp
dụng các phương pháp nêu trên kết quả đã có sự tiến bộ rõ rệt kết thúc học kì I
số học sinh dưới trung bình chỉ còn 6/31=19.35%, số học sinh vươn lên trung
bình là 21/31=67.74%, số học sinh Trung bình vươn lên khá là 4/31=12.90%.
Kết thúc học kì II số học sinh dưới Trung bình là 2/31=6.45%, số học sinh
Trung bình là 23/31=74.19%, số học sinh vươn lên khá là 6/31=19.35%. Tỷ
trọng giao chất lượng đầu năm học cho tôi là 7.53% tỷ trọng “
(%Khá+Giỏi)*2+%Trung Bình/3 ” Kết thúc học kì I chất lượng của tôi là
44.75% tỷ trọng, kết thúc học kì II là 43.0% tỷ trọng.
14
15
(Ký tên, đóng dấu)
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HUYỆN NAM TRỰC
(Xác nhận, đánh giá, xếp loại)
KI
Nhận xét
kiến thức
kĩ năng thái
KTĐK
1 2 3 4 5 6 1 2 3 4 5 6
1
NGUYỄN THỊ MAI
ANH
6 Ngoan
ngoãn
7 7 8 7 7 7 7 Ngoan
ngoãn
7 8 7 7 8 7 8
2
TRIỆU QUANG
TRUNG DŨNG
4 Chữ xấu 6 6 7 5 6 6 6 Chữ xấu 6 6 5 4 7 6 7
3
ĐÀO DUY HIỂN
6 Lười học 6 7 8 7 7 7 7 Có tiến bộ 7 6 7 7 8 7 7
4
PHẠM THỊ THU
HUẾ
8 Chăm chỉ 7 7 7 8 7 7 7 Chăm chỉ 7 8 7 8 7 7 8
5
NGUYỄN THỊ LAN
HƯƠNG
6 Chữ xấu 7 7 8 6 7 7 7 Chữ xấu 8 6 7 7 8 6 8
6
6 Lười 6 6 6 6 6 6 6 Lười 6 5 6 4 8 7 7
13
TRẦN THUÝ
QUỲNH
4.7
5
Chậm 7 7 8 7 8 7 7 Có sự tiến
bộ
8 7 7 7 8 7 8
14
NGUYỄN ĐỨC
THÀNH
8 Tốt 8 7 8 7 7 7 7 Tốt 7 7 8 7 7 7 8
15
ĐÀO NGỌC
THÀNH
6 Lười học 7 7 8 8 8 8 8 Vẫn còn
mải chơi
8 8 8 8 8 7 9
16
NGUYỄN THỊ
THẢO
4 Lười học 7 6 7 6 7 7 7 Lười học 7 7 7 7 8 8 8
17
TRẦN VĂN
THẮNG
4 Lười học 6 5 7 6 7 6 6 Lười học 7 6 6 7 7 7 7
18
NGUYỄN ĐỨC
THỌ
Nhận xét
kiến thức
kĩ năng
KTĐK
H
KI
Nhận xét
kiến thức
kĩ năng thái
KTĐK
1 2 3 4 5 6 1 2 3 4 5 6
1
Trịnh Tiến Đạt
4 Yếu, chữ
xấu
6 5 5 5 5 6 6 Có tiến bộ 6 3 7 5 4 6 7
2 Bùi Văn Điền 3.5 Yếu 3 2 4 5 5 6 5.5 Lười học 5 5 5 4 5 6 5
3 Trần Phát Đô 5 Yếu 5 6 5 5 5 6 6 Tiến bộ 6 4 5 5 6 6 6
4 Đào Thị Minh
Hảo
4.5 Yếu 6 4 6 5 5 5 4.5 Lười học 5 5 5 4 3 6 6
5
Nguyễn Văn Huấn
4 Trung
bình
6 4 5 5 5 4 4 Lười học 5 5 4 5 5 5 6
6 Đào Trần Quang
Huy
5 Yếu 5 3 4 3 4 5 5 Lười học 3 5 6 4 7 6 8
7 Tạ Thu Huyền 4 Lười học 6 5 6 5 5 7 6 Chăm chỉ 6 6 7 6 6 6 5
20 Đỗ Văn Phong 5 Yếu 5 5 5 4 4 5 5 Lười 4 3 5 5 5 8 6
21 Đoàn Thị Phượng 5 Yếu 6 4 7 6 5 6 6 Chủ quan 5 6 5 5 4 5 6
22 Nguyễn Thị
Phượng
5.5 Trung
bình
6 7 8 8 7 7 7.5 Rất tiến bộ 8 8 7 8 6 8 8
23 Nguyễn Tấn
Thành
4 Trung
bình
5 6 5 6 5 5 6 Chăm chỉ 6 6 5 6 5 6 7
24 Phạm Quang Thọ 4.5 Lười học 5 4 6 5 5 5 4.5 Rất lười 5 6 4 5 4 8 6
19
25 Trẩn Thị Thơm 4 Lười học 6 6 7 6 5 7 4.5 Lười 5 4 6 6 5 8 5
26 Nguyễn Thị Vân
Thư
4 Lười học 6 7 7 7 6 7 6.5 Chăm chỉ 6 6 7 7 6 8 7
27 Trần Minh Tiến 3.5 Lười học 5 5 6 5 5 6 6.5 Chủ quan 6 3 7 5 5 7 6
28 Trịnh Duy Tuấn 4 Lười học 6 4 5 4 5 4 6 Lười 5 4 5 5 6 7 6
29 Trần Thị Hải Vân 5 Yếu 7 5 7 5 5 7 4 Lười học 5 6 6 6 4 5 6
30 Nguyễn Thái Việt 5 Yếu 6 5 6 6 5 5 6.5 Chăm chỉ 6 7 6 6 6 8 8
31 Đoàn Quang Vinh 5 Lười học 6 7 5 6 6 6 5 Chăm chỉ 7 6 7 5 5 7 6
PHỤ LỤC 2
BẢNG ĐIỂM KIỂM TRA CÁC GIAI ĐOẠN LỚP 9A
TỪ LỚP 8 ĐẾN GĐI LỚP 9
BỘ MÔN NGỮ VĂN
S
T
Họ và tên
7
TẠ THU HUYỀN
6 4.5 6.5 3.5 6.5
Có tiến bộ
8
ĐÀO VĂN HỮU
5.5 2.5 4 2 3
Lười học, chủ quan
9
NGUYỄN PHI LÂM
4 3.5 3 3.5 5
Chưa thực sự cố gắng
10
HOÀNG BÙI KHÁNH
LINH
3.5 5 3 5 7
Có tiến bộ rõ rệt
11
NGUYỄN MẠNH HOÀNG
LINH
2 1.5 4 0.5 2.5
Vô cùng lười học
12
TRẦN THỊ LINH
5.5 5 4 2.5 4.5
Lười học, mải chơi
13
TRIỆU THỊ LOAN
6 4 2.5 3 6
Có cố gắng
5 4 5 3 7
Rất tiến bộ
22
NGUYỄN THỊ PHƯỢNG
7.5 6 7 5.5 8
Có cố gắng
23
ĐOÀN QUANG VINH
5 4 5.0 4.0 6.5
Có cố gắng
24
NGUYỄN TẤN THÀNH
5 4 5.5 5.5 6
Có cố gắng
25
PHẠM QUANG THỌ
2 4 3 3 5
Đã có tiến bộ
26
TRẦN THỊ THƠM
4.5 3.5 3.5 5.5 6
Vẫn còn lười học
20
27
NGUYỄN THỊ VÂN THƯ
5 4.5 5 3.5 7.5
Có tiến bộ
28
TRẦN MINH TIẾN
5 5 5.5 3 7
5.5 6
Bước đầu đã chăm chỉ nhưng vẫn còn hời hợt, chữ viết rất xấu. Ngồi
trong lớp vẫn chưa thực sự tập trung chú ý bài giảng. Bài tập về nhà
vẫn còn làm đối phó.
2
BÙI VĂN ĐIỀN
5.5 5.5
Rất lười học. Không chú ý học bài trên lớp và cả về nhà. Chữ viết vô
cùng xấu, không có ý thức rèn luyện chữ viết.
3
TRẦN PHÁT ĐÔ
6.5 6 Đã có tiến bộ, tuy vậy chữ viết xấu, học ở nhà vẫn còn lười
4
ĐÀO THỊ MINH HẢO
5.5 4.5
Lười học , chủ quan, không chú ý học bài và làm bài ở nhà cũng như ở
trên lớp. Bài tập làm vẫn còn đối phó chưa có ý thức tự giác học tập.
5
NGUYỄN VĂN HUẤN
6 4 Chưa chăm chỉ, sức học yếu .
6
ĐÀO VĂN HUY
4.5 5
Rất lười học, học tập còn đối phó chưa thực sự lo lắng cho việc học.
Nếu tập chung học tập kết quả học tập sẽ tốt hơn.
7
TẠ THU HUYỀN
6.5 6
Có tiến bộ tuy vậy rất mải chơi. Trong lớp không chú ý thường xuyên
ngồi gấp đồ chơi. Bài về nhà chưa làm thực sự vẫn còn đối phó.
TRỊNH TUYẾT MAI
6 5.5 Chưa chú ý thực sự cho học tập
16
TRIỆU ĐỨC MẠNH
6 6 Đã cố gắng tuy vậy chữ viết rất xấu.
17
TRỊNH VĂN NAM
7 6.5
Có cố gắng tuy vật rất chủ quan, chữ viết rất xấu. Học bài ở nhà vẫn
còn lười
18
TRẦN THỊ HỒNG NGỌC
6 5
Rất mải chơi, chưa chú ý học tập. Trong lớp chưa thực sự chú ý vẫn
còn hiện tượng nói chuyện riêng.
19
NGUYỄN TRỌNG NHÂN
4 4 Ý thức học không tốt, rất kém
20
ĐỖ VĂN PHONG
5.5 5
Lười học, mải chơi chưa chú ý thực sự tới việc học bài và làm bài về
nhà. Ngồi học trên lớp chưa tập trung.
21
ĐOÀN THỊ PHƯỢNG
7 6 So với lớp 8 đã có tiến bộ nhưng rất chủ quan
22
NGUYỄN THỊ PHƯỢNG
8 7 Có cố gắng sức học ổn định.
23
TRẦN THỊ HẢI VÂN
4.5 6.5
Bước đầu đã có tiến bộ, tuy vậy rất chủ quan. Học tập chưa thực chất,
trong lớp vẫn còn hiện tượng nói chuyện riêng.
31
NGUYỄN THÁI VIỆT
5 5 Đã có tiến bộ nhưng không có sức bật rõ rệt trong học tập.
BÀI KIỂM TRA KHẢO SÁT ĐẦU NĂM VÀ BÀI KIỂM TRA SỐ 1
A.Đề bài kiểm tra .
ĐỀ THI KHẢO SÁT ĐẦU NĂM LỚP 9
Môn: Ngữ văn
Năm học 2013 – 2014
Câu 1. (2đ).
Đặt câu với các từ tượng thanh, tượng hình sau: Hô hố, tích tắc,
khúc khuỷu, lạch bạch.
Câu 2: (2đ)
Hãy chỉ ra lỗi sai trong câu sau và sửa lại cho đúng:
“ Lão Hạc, Nguyễn Công Hoan và Ngô Tất Tố đã giúp chúng ta hiểu sâu
sắc thân phận của người nông dân Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám 1945”
Câu 3. (2đ)Nối một nội dung ở cột A với một nội dung phù hợp ở cột B.
Tác giả Văn bản.
1. Ngô Tất Tố. A.Sống chết mặc bay.
2.Thanh Tịnh. B. Trong lòng mẹ.
3. Nguyên Hồng . C.Tức nớc vỡ bờ.
4. Phạm Duy Tốn. D. Tôi đi học.
Câu 4. ( 4đ).
Viết đoạn văn trình bày cảm nhận của em về cái chết của Lão Hạc qua
văn bản “Lão Hạc” đã học trong chương trình Ngữ Văn lớp 8.
B.Đáp án và hướng dẫn chấm.
Câu 1 (2 điểm)
Họ tên những học sinh:
- Điểm TB: Đô, Huy, Hữu, Lâm, Linh, Hoàng Linh, Loan, Mai, Ngọc, Nhân,
Phong, Phượng, Phượng, Vân, Vinh, Việt.
- Điểm Yếu: Đạt, Điền, Hảo, Huấn , Huyền, Linh, Xuân Mai, Mạnh, Nam,
Thành, Thọ, Thơm, Thư, Tiến, Tuấn
D .Nhận xét kết quả
1.Ưu điểm:
a/ Kiến thức: Các kiến thức cơ bản trong đề bài; Ghi rõ tên của học sinh điển
hình
Nhìn chung rất ít học sinh có kiến thức cơ bản chỉ có một số có kiến thức như
học sinh Phượng, Vân, Vinh
b/ Kĩ năng: Các kĩ năng cơ bản trong đề; Ghi rõ tên của học sinh điển hình
Hầu hết học sinh không có kĩ năng làm bài chỉ có một số ít có kĩ năng như học
sinh Hoàng Linh,Vinh.
* Chỉ ra tên những học sinh có nhiều chuyển biến và tiến bộ: Hoàng Linh, Vinh
2 Nhược điểm
a/Kiến thức:Các kiến thức cơ bản trong đề; Ghi rõ tên của học sinh
- Học sinh quên nhiều kiến thức cơ bản lớp 8
b/Kĩ năng: Các kĩ năng cơ bản trong đề; Ghi rõ tên của học sinh
- Kĩ năng phân tích đề hạn chế
* Chỉ ra tên những học sinh chưa chuyển biến và chưa tiến bộ: Huy, Lâm,
Nguyễn Linh, Trần Linh
3. Những nguyên nhân chính
- Về giáo viên
- Về học sinh: Học sinh rất lười học bài và làm bài về nhà. Không chịu ôn tập
kiến thức trong hè.
- Nguyên nhân khác
E. Rút kinh nghiệm và phương hướng trong bài kiểm tra tới hoặc giai đoạn
tới
1. Rút kinh nghiệm
- Lá bao quanh thân, có phiến dài và mỏng.
- Có 2 vụ lúa: chiêm, mùa.
b. Cách trồng lúa: phải trải qua nhiều giai đoạn:
- Từ hạt thóc nảy mầm thành cây mạ.
- Rồi nhổ cây mạ cấy xuống ruộng
- Ruộng phải cày bừa, làm đất, bón phân.
- Ruộng phải sâm sấp nước.
- Khi lúa đẻ nhánh thành từng bụi phải làm có, bón phân, diệt sâu bọ.
- Người nông dân cắt lúa về tuốt hạt, phơi khô, xay xát thành hạt gạo…
c. Vai trò của cây lúa và hạt gạo:
- Vấn đề chính của trồng cây lúa là cho hạt lúa, hạt gạo.
- Có nhiều loại gạo: gạo tẻ, gạo nếp (dùng làm bánh chưng, bánh dày)…
+ Gạo nếp dùng làm bánh chưng, bánh dày hay đồ các loại xôi.
25