ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN NGUYỄN ĐỨC NHÃ
ĐỘNG CƠ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA
CÁN BỘ, GIẢNG VIÊN CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC
(NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP TRƯỜNG
ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN – ĐHQGHN)
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. TRẦN KIM ĐỈNH
Hà Nội – 2009
1
MỤC LỤC
1. Lý do chọn đề tài nghiên cứu 6
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu 8
2.2. Vấn đề động cơ trong tâm lý học Mác – Xít 11
2.3. Nghiên cứu về động cơ NCKH ở phƣơng Tây 13
2.4. Nghiên cứu về động cơ học tập, NCKH của các nhà tâm lý học
Mác-Xit. 13
2.5. Các nghiên cứu về động cơ học tập, NCKH của Việt Nam 14
3. Mục tiêu nghiên cứu 15
4. Phạm vi nghiên cứu 15
5. Đối tƣợng nghiên cứu 15
6. Câu hỏi nghiên cứu 15
7. Giả thuyết nghiên cứu 15
7.1. Luận cứ lý thuyết 16
7.2. Luận cứ thực tiễn 16
8. Phƣơng pháp chứng minh giả thuyết 16
9. Kết cấu của luận văn 16
Chƣơng 1 17
CƠ SỞ LÝ LUẬN 17
2.3.2. .Khái quát thực trạng động cơ NCKH của CB-GV nhà trƣờng . 46
2.3.3. Khía cạnh nội dung và khía cạnh lực của động cơ NCKH của cán
bộ giảng viên trong nhà trƣờng 48
2.3.4. Khía cạnh lực của động cơ NCKH của CB-GV trong nhà trƣờng.
63
2.4. PHÂN TÍCH MỘT SỐ NGUYÊN NHÂN 66
2.4.1. Về cơ chế tiền lƣơng cho CB-GV đại học 66
2.4.2. Điều kiện và môi trƣờng làm việc 68
2.4.3. Tính đố kị cản trở động cơ NCKH 71
Chƣơng 3 74
GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY ĐỘNG CƠ NCKH CỦA CÁN BỘ VÀ GIẢNG
VIÊN NHÀ TRƢỜNG 74
3.1 ĐẢM BẢO QUYỀN LỢI VÀ THU NHẬP CHO NHÀ KHOA HỌC.
74
3.2. ĐÁP ỨNG VÀ THỎA MÃN CÁC NHU CẦU NHẰM TẠO ĐỘNG
CƠ NCKH CHO CÁN BỘ NCKH 77
3.3. LÀM PHONG PHÚ CÔNG VIỆC, MỞ RỘNG CÔNG VIỆC 78
3.4. SỰ THAM GIA CỦA CÁC NHÀ KHOA HỌC 78
3.5. SỰ GHI NHẬN THÀNH TÍCH. 79
3.6. BIỂU DƢƠNG, KHEN THƢỞNG, TÔN VINH CÁC NHÀ KHOA
HỌC 80
3.7. TRÁCH NHIỆM 81
3.8. THĂNG CHỨC, THĂNG TIẾN 82
3.9. HỖ TRỢ MÔI TRƢỜNG LÀM VIỆC 83
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 85
KẾT LUẬN 85
KHUYẾN NGHỊ 86
1. Đối với CB-GV nhà trƣờng 86
2. Đối với nhà trƣờng : 87
4
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Tình hình thực hiện đề tài NCKH giai đoạn 2001-2006.
Bảng 2.2 Tình hình kinh phí cho NCKH giai đoạn 2001-2006.
Bảng 2.3. Tổng hợp số lƣợng đề tài NCCB 2001-2006.
Bảng 2.4. Đề tài NCKH trọng điểm cấp ĐHQG giai đoạn 2001-2006.
Bảng 2.5. Đề tài NCKH đặc biệt cấp ĐHQG giai đoạn 2001-2006.
Bảng 2.6. Đề tài NCKH cấp ĐHQG giai đoạn 2001-2006.
Bảng 2.7. Đề tài NCKH cấp trƣờng Đại học KHTN giai đoạn 2001-2006.
Bảng 2.8. Số lƣợng Nghiên cứu sinh từ năm 2001-2005.
Bảng 2.9. Số lƣợng học viên cao học từ năm 2001-2006.
Bảng 2.10. Số lƣợng đề tài và kinh phí tính đến tháng 4 năm 2009.
Bảng 2.11. Đầu tƣ tăng cƣờng năng lực NCKH giai đoạn 2006 - 2009
Bảng 2.12. Số lƣợng và kinh phí thực hiện các nhiệm vụ NCKH cấp Nhà
nƣớc (2006- 2009)
Bảng 2.13. Số lƣợng và kinh phí thực hiện các nhiệm vụ NCKH cấp Bộ
(2006- 2009)
Bảng 2.14. Số lƣợng và kinh phí thực hiện các nhiệm vụ NCKH cấp cơ sở
(2006- 2009)
Bảng 2.15. Số bài báo và báo cáo khoa học công bố năm 2008 của
ĐHQGHN
Bảng 2.16. Điểm trung bình và thứ bậc của các loại động cơ trong hệ thống
động cơ NCKH của cán bộ giảng viên nhà trƣờng
Bảng 2.17. Nhận thức của CB-GV về nội dung của động cơ hoàn thiện tri
mới nhằm tìm hiểu đời sống tâm lý, tƣ tƣởng, hƣớng giá trị của đội ngũ các
nhà khoa học trong Nhà trƣờng và cũng thông qua đó có những đề nghị, đề
xuất nhằm làm tích cực các hoạt động NCKH cũng nhƣ nâng cao hiệu quả
công tác NCKH của Nhà trƣờng duới góc độ quản lý.
1. Lý do chọn đề tài nghiên cứu
Hoạt động NCKH trong trƣờng đại học là một nhiệm vụ quan trọng của
hoạt động R-D và là một trong những mục tiêu cơ bản bên cạnh hoạt động
đào tạo và phục vụ xã hội.
Hiện nay các công trình NCKH của trƣờng đại học chƣa đáp ứng đƣợc
yêu cầu của sự nghiệp CNH-HĐH đất nƣớc, nhất là trong xu thế hội nhập
kinh tế quốc tế và sự phát triển của kinh tế tri thức trên thế giới, chƣa tạo
đƣợc sự gắn kết giữa nhu cầu và hoạt động của các ngành kinh tế, xã hội;
chậm đƣa vào ứng dụng những kết quả đã nghiên cứu đƣợc; năng lực tạo ra
và chuyển giao công nghệ mới còn rất nhiều hạn chế.
7
Về phía nhà nghiên cứu (bao gồm các CB-GV trong nhà trƣờng), nhiều
ngƣời chƣa thật sự dành hết nhiệt tâm cho NCKH và qua đó chất lƣợng các đề
tài, các công trình NCKH chƣa cao, chƣa đáp ứng đƣợc yêu cầu của thực tiễn.
Về phía nhà quản lý cần tiếp cận đƣợc 2 vấn đề ở đây đó là:
- Tại sao các CB-GV cần phải có động cơ NCKH?
- Họ đƣợc tạo động cơ và động viên nhƣ thế nào ?
Với khuôn khổ luận văn này tác giả cố gắng phân tích và làm rõ hơn
yếu tố động cơ NCKH của CB-GV nhà trƣờng nhƣ một hƣớng tiếp cận mới
làm cơ sở cho việc nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý KH-CN của Nhà
trƣờng trong tình hình mới hiện nay.
Vấn đề phân tích động cơ NCKH đƣợc coi là vấn đề trung tâm của toàn
bộ nghiên cứu này dƣới góc độ của nhà quản lý.
Xuất phát từ mong muốn tìm hiểu thực trạng nội dung và hiệu lực của
động cơ NCKH của cán bộ và giảng viên nhà trƣờng dƣới góc độ quản lý, tác
tìm hiểu chức năng và đƣa ra những khái niệm của động cơ. Các tác giả đã có
nhiều nghiên cứu đi sâu tìm hiểu khái niệm, vai trò, và phân loại động cơ hoạt
động của con ngƣời nói chung và nghiên cứu động cơ riêng lẻ nhƣ động cơ
học tập, động cơ thành đạt, động cơ chọn nghề nghiệp…v v…nói riêng.
Tâm lý học hành vi ra đời năm 1913 do Waston khởi xƣớng, với ý
muốn xây dựng nên một nền tâm lý học khách quan. Dựa trên tiền đề triết học
thực chứng và triết học thực dụng, tâm lý học hành vi chỉ quan tâm nghiên
cứu những sự kiện có thể trực tiếp quan sát đƣợc.
Theo thuyết hành vi, thì hành vi của con ngƣời chỉ là các cử chỉ của cơ
thể dùng để thích nghi với môi trƣờng, môi trƣờng ở đây đƣợc hiểu là tổng
các kích thích vật lý, hoàn toàn không cần thiết giữa kích thích và phản ứng
có gì, không công nhận có tâm lý, có ý thức trong việc con ngƣời thích nghi
với môi trƣờng.
9
Với việc loại bỏ ý thức ra khỏi việc nghiên cứu hành vi, coi hành vi là
tổ hợp các phản ứng của cơ thể với môi trƣờng bên ngoài, con ngƣời đƣợc coi
nhƣ một cái máy chứa đầy các phản ứng có kích thích, Waston đã máy móc
hoá, sinh vật hoá hành vi, động cơ của con ngƣời.
Các nhà tâm lý học hành vi mới đã cố gắng cải tạo thuyết hành vi bằng
cách bổ xung thêm một biến cố trung gian Các yếu tố trung gian này can thiệp
vào quá trình tạo phản ứng. Đại diện tiêu biểu của chủ nghĩa hành vi mới là
E.Tolman (1886-1959). Ông coi hành vi là tổng thể các yếu tố trung gian, là ý
định, nhận thức nhằm đạt tới các khách thể có lợi cho cơ thể, tránh các khách
thể có hại. Năm 1932 ông đƣa thêm yếu tố ham thích thúc đẩy các hành vi
thoả mãn nhu cầu. Năm 1951, ông giải thích tất cả động cơ bằng bốn loại nhu
cầu : nhu cầu sinh lý, xã hội, nhu cầu riêng và nhu cầu riêng mở rộng rồi quy
về nhu cầu bản năng [26]
* Vấn đề động cơ trong phân tâm học
Ngƣời sáng lập ra thuyết phân tâm là Freud. Học thuyết phân tâm của
quanh có khả năng gây ra hành động ở con ngƣời, hƣớng vào sự vật có tiêu trị
dƣơng và tránh xa sự vật có tiêu trị âm. Hành vi đƣợc thực hiện theo 2 kiểu:
kiểu thứ nhất là hành vi phụ thuộc vào nhu cầu của chủ thể đối với môi trƣờng
còn gọi là hành vi ý chí; kiểu thứ 2 là phụ thuộc hoàn toàn vào môi trƣờng gọi
là hành vi tức cảnh. Cả hai dạng này đều dựa trên nhu cầu xã hội và có ý đồ,
tạo ra trạng thái căng thẳng làm thay đổi hoạt động. Ngoài ra ông còn dùng
khái niệm “không gian sống” để giải thích hành vi của nhân cách – không gian
sống đó là nhân cách và hoàn cảnh sống trong mối tác động qua lại lẫn nhau
tạo nên hành vi trong một thời điểm nào đó, với nghĩa đó thì động cơ thúc đẩy
hành vi con ngƣời đƣợc coi nhƣ là lực của trƣờng tâm lý.
11
Quan điểm của K.Lewin về động cơ đã coi nhẹ vai trò của ý thức, của
tính chủ thể của hành vi, nên động cơ của con ngƣời là động cơ thụ động, phụ
thuộc vào trƣờng lực của môi trƣờng xung quanh
2.2. Vấn đề động cơ trong tâm lý học Mác – Xít
* Nghiên cứu về động cơ của các nhà tâm lý học Liên Xô
Tâm lý Mac – Xit lấy khái niệm hoạt động làm trung tâm và then chốt.
Bất kỳ một hoạt động nào của con ngƣời đều đƣợc gắn với các động cơ cụ thể.
Vì vậy, khi đƣa ra những quan điểm, những nguyên tắc phƣơng pháp chỉ đạo
nghiên cứu tâm lý, Vƣgôtxki (1886-1934) đã đề cập tới vấn đề động cơ. Ông
chỉ ra rằng muốn nghiên cứu các mối quan hệ thực của con ngƣời với toàn bộ
thực tại xung quanh, nghĩa là nghiên cứu sự tác động qua lại giữa con ngƣời
với thiên nhiên, giữa con ngƣời với con ngƣời trong đó có quan hệ của con
ngƣời với chính bản thân mình. Những nguyên tắc này đã đặt nền móng cho
việc nghiên cứu động cơ sau này. Tiếp theo Vƣgôtxki, nhiều nhà tâm lý học
Liên Xô đã nghiên cứu động cơ nhƣ V.G. Aseev, Rubinstein, D.N.Uzande,
P.M.Iacovson, A.N.Leonchiev…Đối với các nhà tâm lý học Mac-Xit, động cơ
nghiên cứu không tách rời với ý thức; động cơ đƣợc nghiên cứu với tƣ cách là
một hiện tƣợng tâm lý trong các mối quan hệ hiện thực, mang bản chất xã hội -
yếu bao gồm: động cơ đạo đức nhân cách, động cơ học tập và động cơ chọn
ngành nghề. Có thể liệt kê một số công trình nghiên cứu nhƣ sau: [26, tr.16]
Nguyễn Ngọc Bích, “Động cơ lựa chọn nghề nghiệp của thanh thiếu
niên”, 1979; Phạm Thị Hƣng Thịnh với nghiên cứu “Hình thành động cơ xã
hội ở học sinh cấp hai”, 1980; Phạm Thị Nguyệt Lãng với “Cơ sở tâm lý học
của sự hình thành động cơ vì xã hội ở học sinh”, 1983 và “Tìm hiểu động cơ
chọn nghề của học sinh phổ thông”, 1993; Lê Hƣơng với nghiên cứu “Động
cơ thành đạt nghề nghiệp” v v.
13
2.3. Nghiên cứu về động cơ NCKH ở phương Tây
Các nghiên cứu về động cơ học tập, động cơ NCKH đƣợc các nhà tâm lý
học Phƣơng tây đặc biệt quan tâm, phần lớn các nhà hành vi giải quyết vấn đề
động cơ nghiên cứu trên nguyên tắc điều kiện hoá và luật hiệu quả. Họ cho
rằng động cơ NCKH là cái kích thích bên ngoài (vật thể), các yếu tố bên trong
(nhu cầu tự nhiên của cơ thể), cho nên đã sinh vật hoá động cơ NCKH, bỏ qua
yếu tố tích cực, chủ thể của hoạt động NCKH. Ngoài ra có thể kể đến một số
nghiên cứu khác nhƣ nghiên cứu của R.A. Woodworth, T.Brunner, A.Bandura.
R.A. Woodworth phủ nhận việc coi động cơ xuất phát từ nhu cầu cơ thể.
Ông cho rằng, con ngƣời có hứng thú đặc biệt, xuất phát không phải từ nhu cầu
mang tính bản năng mà từ tính chất của hoạt động, nhất là lĩnh vực NCKH là
một hoạt động sáng tạo. Con ngƣời trải nghiệm các cảm xúc thoả mãn không chỉ
từ số tiền họ thu đƣợc mà còn từ quá trình thực hiện công việc và kết quả thu
đƣợc từ việc thực hiện công việc ấy. Chính sự thành công trong việc NCKH của
cán bộ khoa học đã tạo nên khát vọng nhận thức, khát vọng sáng tạo.
2.4. Nghiên cứu về động cơ học tập, NCKH của các nhà tâm lý học Mác-Xit.
Năm 1946. Leonchiev đã công bố công trình nghiên cứu “ sự phát triển
động cơ học tập của học sinh” và sau đó có nhiều bài viết khác về cơ sở lý
luận định hƣớng cho các nhà tâm lý Xô Viết tiếp tục nghiên cứu động cơ học
tập, NCKH. Ông cho rằng động cơ học tập, NCKH là sự định hƣớng của đối
động cơ phức hợp đƣợc hình thành từ những yếu tố tác động có tính nhận thức
xã hội đƣợc kết tinh ẩn tàng ở giáo viên ảnh hƣởng khác nhau đến học sinh.
Nguyễn Kế Hào (1980) nghiên cứu “Đặc điểm và cấu trúc của động cơ
học tập trong sự phụ thuộc vào cái kiểu khái quát hoá tài liệu học tập” tác giả xác
định quy luật của sự phụ thuộc đặc điểm cấu trúc động cơ học tập vào hai kiểu
khái quát hoá tài liệu học tập, kinh nghiệm và lý luận. Động cơ nhận thức là
động cơ tích cực bền vững nhờ kiểu tƣ duy lý luận, lĩnh hội tri thức và phƣơng
pháp chung của nhận thức khoa học theo nguyên tắc khái quát hoá lý luận.
15
Trần Thị Thình (2004) với “Động cơ học tập của sinh viên sƣ phạm,
thực trạng và phƣơng pháp giáo dục” khẳng định động cơ học tập quy định tính
tích cực học tập, tạo nên thái độ tự giác, độc lập sáng tạo và nâng cao kết quả
học tập. đó là con đƣờng dẫn tới sự phát triển tài năng và nhân cách sinh viên.
Hoạt động NCKH về bản chất cũng là một hoạt động học, hoạt động tự
đào tạo nhằm chiếm lĩnh tri thức, tìm tòi, sáng tạo cống hiến cho xã hội và
qua đó đƣợc xã hội ghi nhận cũng nhƣ tôn vinh các kết quả NCKH đạt đƣợc.
3. Mục tiêu nghiên cứu
Thực trạng động cơ NCKH của CB-GV trong đó bao gồm khía cạnh nội
dung và khía cạnh lực của động cơ NCKH của CB-GV nhà trƣờng hiện nay.
Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu lực của động cơ NCKH góp
phần nâng cao hiệu quả hoạt động NCKH của cán bộ và giảng viên nhà trƣờng.
4. Phạm vi nghiên cứu
Làm rõ thực trạng động cơ NCKH của CB-GV trƣờng ĐH KHTN –
ĐHQG HN. Phân tích làm rõ một số nguyên nhân ảnh hƣởng tới độ hiệu lực
của động cơ, sự nhiệt tâm NCKH của CB-GV nhà trƣờng trong đó tập trung
nhấn mạnh nhóm động cơ có ƣu thế nhất trong hệ thống động cơ NCKH.
5. Đối tƣợng nghiên cứu
Động cơ NCKH của CB-GV trƣờng ĐH KHTN – ĐHQG HN
6. Câu hỏi nghiên cứu
9. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu gồm ( lời nói đầu, giới thiệu chung vấn đề nghiên
cứu, tổng quan lịch sử nghiên cứu, mục tiêu, phạm vi và phƣơng pháp nghiên
cứu đã đƣợc thực hiện), kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục,
nội dung luận văn gồm 3 chƣơng :
Chƣơng 1. Cơ sở lý luận
Chƣơng 2. Thực trạng hoạt động NCKH và động cơ NCKH của cán bộ
giảng viên trƣờng ĐH KHTN – ĐHQG HN
Chƣơng 3. Giải pháp thúc đẩy động cơ NCKH của CB-GV nhà trƣờng
Kết luận và Khuyến nghị. 17
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN
1.1.1. Quản lý KH-CN
Quản lý là hoạt động có chủ đích, đƣợc tiến hành bởi một chủ thể quản
lý nhằm tác động lên khách thể quản lý để thực hiện các mục tiêu xác định
của công tác quản lý [16, tr.27]. Theo đó, quản lý KH-CN là quản lý các hoạt
động KH-CN, nó bao gồm nội dung rộng và đa dạng hơn nhiều so với quản lý
R-D với nghĩa hẹp.
Theo Unesco, hoạt động KH-CN bao gồm tất cả các hoạt động liên
quan tới sản xuất, nâng cao, truyền bá và ứng dụng các kiến thức KH-CN
trong thực tiễn và đời sống. Theo Luật KH-CN, hoạt động KH-CN bao gồm:
NCKH, nghiên cứu và phát triển công nghệ, dịch vụ KH-CN, hoạt động phát
huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất và các hoạt động khác
nhằm phát triển KH-CN [23].
Cũng theo Luật KH-CN, mục tiêu của hoạt động KH-CN của nƣớc ta là
: xây dựng nền KH-CN tiên tiến, hiện đại để phát triển lực lƣợng sản xuất,
trên cơ sở thực tiễn xã hội. Phân biệt ra 2 hệ thống tri thức: Tri thức kinh
nghiệm và Tri thức khoa học.
- Tri thức kinh nghiệm: là những hiểu biết đƣợc tích luỹ qua hoạt động
sống hàng ngày trong mối quan hệ giữa con ngƣời với con ngƣời và giữa con
ngƣời với thiên nhiên. Quá trình này giúp con ngƣời hiểu biết về sự vật, về
cách quản lý thiên nhiên và hình thành mối quan hệ giữa con ngƣời trong xã
hội. Tri thức kinh nghiệm đƣợc con ngƣời không ngừng sử dụng và phát triển
trong hoạt động thực tế. Tuy nhiên tri thức kinh nghiệm chƣa thật sự đi sâu
vào bản chất, chƣa thấy hết đƣợc các thuộc tính của sự vật và mối quan hệ
bên trong giữa sự vật và con ngƣời. Vì vậy, tri thức kinh nghiệm chỉ phát triển
đến một hiểu biết giới hạn nhất định, nhƣng tri thức kinh nghiệm là cơ sở cho
sự hình thành tri thức khoa học.
19
- Tri thức khoa học: là những hiểu biết đƣợc tích luỹ một cách có hệ thống
nhờ hoạt động NCKH, các hoạt động này có mục tiêu xác định và sử dụng
phƣơng pháp khoa học. Không giống nhƣ tri thức kinh nghiệm, tri thức khoa học
dựa trên kết quả quan sát, thu thập đƣợc qua những thí nghiệm và qua các sự
kiện xảy ra ngẫu nhiên trong hoạt động xã hội, trong tự nhiên. Tri thức khoa học
đƣợc tổ chửc trong khuôn khổ các ngành và bộ môn khoa học (disclipline) nhƣ:
triết học, sử học, kinh tế học, toán học, sinh học, tâm lý học v v.
Vậy NCKH là gì ? NCKH là hoạt động tìm kiếm, xem xét, điều tra
hoặc thử nghiệm. Dựa trên những số liệu, tài liệu, kiến thức, kết quả thí
nghiệm… để phát hiện ra những cái mới về bản chất sự vật, về thế giới tự
nhiên và xã hội, và để sáng tạo phƣơng pháp và phƣơng tiện kỹ thuật mới cao
hơn, giá trị hơn. Con ngƣời muốn NCKH phải có kiến thức nhất định về lĩnh
vực nghiên cứu và cái chính phải rèn luyện cách làm việc tự lực, có phƣơng
pháp từ lúc ngồi trên ghế nhà trƣờng.
1.2. ĐỘNG CƠ
1.2.1. Định nghĩa động cơ
nhu cầu tinh thần, nhận thức, tình cảm, giao lƣu…là đặc trƣng nổi bật của con
ngƣời. Động cơ của con ngƣời đƣợc đặc trƣng hình thành bởi các mối quan hệ
xã hội, trong quá trình hoạt động của chủ thể mà nó tham gia vào chứ không
thể có sẵn từ lúc đứa bé mới sinh ra. Hệ thống động cơ của con ngƣời đƣợc
hình thành trên cơ sở hoạt động giao tiếp của chủ thể trong hệ thống các quan
hệ xã hội, các nhóm xã hội nhất định mà ở đó chủ thể thực hiện vai trò, vị thế
của mình.
Kể cả những động cơ đáp ứng những nhu cầu tự nhiên, bản năng thì ở
con ngƣời, những động cơ ấy cũng có bản chất lịch sử, xã hội. Sở dĩ nhƣ vậy
là vì kể cả những nhu cầu tự nhiên của con ngƣời cũng có nội dung và
21
phƣơng thức thoả mãn đều là sản phẩm phát triển của xã hội do con ngƣời
sáng tạo ra, phụ thuộc vào điều kiện sống, đặc biệt là lối sống – văn hoá đặc
trƣng cho mỗi nhóm nguời, mỗi một dân tộc, phụ thuộc vào trình độ phát
triển, kinh tế xã hội của thời đại mà họ đang sống và đồng thời phụ thuộc vào
quá trình giáo dục mà họ đang đƣợc thụ hƣởng.
Bộ mặt tâm lý xã hội của cá nhân đều đƣợc thể hiện tập trung trong
động cơ. Tất cả các thành tố nhân cách đều có quan hệ chặt chẽ với động cơ
chung của cuộc sống, cũng nhƣ động cơ cụ thẻ của từng hành động.
1.2.3. Đặc điểm của động cơ
- Đặc trưng của động cơ là tính ý thức.
Ý thức là sự phản ánh tâm lý cao nhất mà chỉ riêng con ngƣời mới có,
phản ánh bằng ngôn ngữ, là khả năng con ngƣời hiểu đƣợc các tri thức mà
con ngƣời tiếp thu đƣợc. Để một nhu cầu trở thành động cơ thúc đẩy hoạt
động thì trƣớc hết nó phải đƣợc đối tƣợng hoá (tức là đối tƣợng của nhu cầu
phải đƣợc chủ thể ý thức một cách đầy đủ), nghĩa là chủ thể phải hình dung ra
đối tƣợng nào có thể có khả năng thoả mãn nhu cầu của bản thân mình. Chủ
thể cần xây dựng đƣợc một biểu tƣợng cụ thể về nó. Khi đó nhu cầu mới có
chức năng thúc đẩy, chức năng hƣớng dẫn hoạt động tức là trở thành động cơ.
- Tính biến đổi của động cơ
Động cơ của chủ thể chỉ có tính ổn định tƣơng đối vì chúng có thể biến
đổi, phát triển trong quá trình hoạt động của chủ thể. Có những động cơ biển
đổi từ động cơ có lực thúc đẩy thực tế thành động cơ có lực thúc đẩy tiềm
năng và ngƣợc lại.
Thực tế hoạt động có thể xảy ra những vấn đề khó khăn khách quan và
chủ quan khiến cho chủ thể khó tiến hành hoạt động hƣớng tới đối tƣợng để
thoả mãn nhu cầu, khi đó chủ thể có thể thay đổi nội dung của động cơ sao
23
cho phù hợp với điều kiện hoạt động. Hoặc vẫn giữ nguyên nội dung nhƣng
trạng thái tích cực của chủ thể do động cơ tạo ra giảm đi. Động cơ có thể từ
chỗ chỉ là động cơ có hiệu lực trở thành động cơ có lực thúc đẩy tiềm năng.
Nhƣ vậy trong quá trình hoạt động động cơ có sự biến đổi.
1.2.4. Cấu trúc của động cơ
Cấu trúc của động cơ có thể phân biệt theo 2 loại cấu trúc: cấu trúc của
hệ động cơ và cấu trúc cả động cơ hoạt động nhƣ một tiểu hệ thống động cơ
của con ngƣời. Cấu trúc của hệ động cơ bao gồm những động cơ khác nhau
tạo nên một hệ thống trọn vẹn. Ở mỗi giai đoạn phát triển cá thể hay mỗi thời
điểm khác nhau của cuộc sống, có những động cơ giữ vai trò chủ đạo chi phối
các động cơ khác. Vai trò của các động cơ trong hệ thống thay đồi tuỳ thuộc
vào điều kiện sống cụ thể và hoạt động sống cụ thể của mỗi ngƣời [12;220].
Cấu trúc của động cơ nhƣ một tiểu hệ thống trong hệ thống động cơ con
ngƣời đƣợc xem nhƣ cấu trúc vi mô của động cơ mà ở đó có 2 thành phần, 2
khía cạnh khác nhau: đó là khía cạnh nội dung và khía cạnh lực.
Khía cạnh nội dung của động cơ phản ánh cái mà con ngƣời muốn vƣơn
tới, muốn đạt tới. Nó vừa mang tính khái quát lại vừa mang tính cụ thể, tuỳ
thuộc vào điều kiện khách quan nơi con ngƣời sinh sống và hoạt động. ví dụ:
một cá nhân có động cơ tự khẳng định bản thân, tính khái quát của động cơ cho
phép chủ thể thực hiện động cơ đó bằng nhiều phƣơng thức khác nhau với