Hình thành doanh nghiệp spin-off trong các tổ chức NC&TK góp phần thúc đẩy thương mại hóa các kết quả nghiên cứu (trường hợp ngành dược[ - Pdf 26

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
VIỆN CHIẾN LƯỢC CHÍNH SÁCH
KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
HÌNH THÀNH DOANH NGHIỆP SPIN-OFF
TRONG CÁC TỔ CHỨC NC&TK GÓP PHẦN THÚC ĐẨY
THƯƠNG MẠI HOÁ CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
(TRƯỜNG HỢP NGÀNH DƯỢC)
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
CHUYÊN NGÀNH : CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
MÃ SỐ 60.34.70
Khóa 2005 - 2008 Người thực hiện :
Vũ Thuỳ Liên
Người hướng dẫn khoa học :
TS. Nguyễn Văn Học
Hà Nội, 2008


1.3.1.Thương mại hoá kết quả NC&TK và điều kiện thực hiện 31
1.3.2. Thương mại hoá kết quả NC&TK - yếu tố quan trọng để thực
hiện chính sách đổi mới 32
1.3.3. Thương mại hoá kết quả NC&TK và vai trò thúc đẩy của doanh
nghiệp spin-off 33
CHƯƠNG II.QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN DOANH
NGHIỆP SPIN-OFF TẠI MỘT SỐ VIỆN NGHIÊN CỨU NƯỚC TA 38
2.1. Tổng quan về thực trạng phát triển doanh nghiệp spin-off trong một
số viện công nghệ 38
2.1.1. Quá trình hình thành 38
2.1.2. Các loại hình (doanh nghiệp theo hình thức sở hữu, theo lĩnh
vực hoạt động, theo chức năng, theo chuỗi đổi mới v.v…) 40
2.1.3. Các vấn đề nảy sinh: 41
2.2. Tổng quan về thực trạng phát triển doanh nghiệp spin-off trong một
số viện ngành dược 44
2.2.1.Quá trình hình thành 44

5
2.2.2. Các loại hình doanh nghiệp KH&CN của ngành dược 45
2.2.3. Các vấn đề nảy sinh giữa tổ chức mẹ và doanh nghiệp spin-off
trong ngành dược 46
2.3. Vai trò của các doanh nghiệp spin-off trong việc thúc đẩy thương
mại các kết quả NC&TK trong công nghiệp và trong ngành dược. 47
2.4. Các yếu tố ảnh hưởng chủ yếu đến việc thành lập hoạt động và các
doanh nghiệp spin-off ở Việt Nam. 49
2.4.1. Thực trạng năng lực và sản phẩm NC&TK của các tổ chức
NC&TK . 49
2.4.2. Tinh thần kinh thương và nhu cầu thành lập doanh nghiệp spin-
off ở các viện NC&TK trong ngành dược Việt Nam 54
2.4.3. Hệ thống các chính sách khuyến khích phát triển xét theo quan

Công ty Dược khoa - Thuộc Trường Đại học Dược 85
PHỤ LỤC 6 87
Công ty cổ phần TRAPHACO 87

6
LỜI CẢM ƠN Trong quá trình học tập và thực hiện đề tài, em đã nhận được nhiều
sự giúp đỡ quý báu của các thầy cô, bạn bè và đồng nghiệp. Điều đầu tiên,
em xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc tới TS. Nguyễn Văn Học - một nhà khoa
học với kiến thức chuyên môn của mình cộng với lòng tận tâm với học trò
đã nhiệt tình hướng dẫn và giúp đỡ em hoàn thành luận văn này. Trong
suốt quá trình thực hiện đề tài, ngoài việc thu lượm được những kiến thức,
em đã học được ở thầy sự nghiêm khắc trong việc rèn rũa về tư duy khoa
học và phương pháp trình bày.
Em xin bày tỏ lời cảm ơn tới các thầy, cô trong Viện Chiến lược
Chính sách Khoa học và Công nghệ và Trường Đại học Khoa học Xã hội
và Nhân văn đã nhiệt tình giảng dạy và tạo điều kiện cho em trong suốt
quá trình học tập của mình.
Cuối cùng, em xin trân trọng cảm ơn Viện Chiến lược Chính sách
Khoa học và Công nghệ đã tạo điều kiện, giúp đỡ em trong suốt quá trình
học tập tra cứu, tìm kiếm các tư liệu cần thiết phục vụ cho luận văn này.
Luận văn đã được hoàn thành theo đề cương đã duyệt. Tuy nhiên,
vẫn không tránh khỏi những khiếm khuyết. Em rất mong nhận được nhiều
ý kiến góp ý của các thầy cô và các bạn đồng học. Xin chân thành cảm ơn! Học viên


SXKD Sản xuất kinh doanh
TP Thành phố
TTg Thủ tướng Chính phủ
8
DẪN NHẬP
1. Lý do nghiên cứu:
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và cạnh tranh thị trường,
sản xuất sản phẩm từ kết quả nghiên cứu đang trở thành nhu cầu bức thiết
không chỉ đối với các doanh nghiệp mà còn đối với các viện NC&TK ở
nước ta khi mà chủ trương “chuyển các viện nghiên cứu khoa học và triển
khai công nghệ sang hoạt động theo cơ chế doanh nghiệp” (Nghị quyết
TW-VI khoá VIII) đã được thể chế hoá tại Nghị định 115/2005-CP của
Chính phủ. Xét về phương diện lý luận, Nghị định này còn có một số khía
cạnh cần bàn, song xét về công cụ điều tiết, Nghị định 115/CP có tác động
buộc các tổ chức KH&CN gắn chặt hơn nữa với thị trường trên cơ sở phát
huy quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của mình. Nói cách khác, các viện
buộc phải “thương mại hoá” kết quả nghiên cứu để tồn tại và phát triển.
Nhiều tổ chức KH&CN đã tiến hành tự điều chỉnh hoạt động, cơ cấu lại tổ
chức, hình thành các cơ cấu sản xuất mới (các doanh nghiệp phối thuộc,
các công ty cổ phần, các doanh nghiệp do một số nhà khoa học có kết quả
nghiên cứu và tinh thần kinh thương thành lập v.v…). Xuất hiện nhiều
hình thức tổ chức mới trải rộng từ nghiên cứu đến thiết kế - sản xuất thử
nghiệm và sản xuất sản phẩm từ kết quả nghiên cứu. Trong một số hướng
công nghệ cao hoặc công nghệ trình độ cao đã hình thành các doanh
nghiệp có sức cạnh tranh không chỉ tại thị trường trong nước mà còn trên
thị trường quốc tế. Điển hình như Viện IMI, Viện Khoa học và Công nghệ
mỏ, Viện Hoá học Công nghiệp, Công ty Văcxin thuộc Viện Vệ sinh dịch

tố về vấn đề thương mại hoá kết quả hoạt động KH&CN và trên cơ sở đó
đề xuất các giải pháp tổng quát cần thiết cho chính sách KH&CN và chính
sách có liên quan trong thời kỳ chuyển đổi ở Việt Nam.
Hoàng Văn Tuyên (năm 2006) với đề tài: "Nghiên cứu quá trình
phát triển chính sách đổi mới – Kinh nghiệm quốc tế và gợi suy cho Việt
Nam". Công trình này tập trung vào xác định đặc trưng cơ bản của đổi mới
và chính sách đổi mới, tầm quan trọng của chính sách đổi mới, xem xét các
khía cạnh khác nhau trong quá trình phát triển chính sách đổi mới của một
số quốc gia điển hình. Xem xét tình hình Việt Nam (theo khung của
OECD) chỉ mang tính thăm dò, minh chứng cho các tác giả nghiên cứu.
Nguyễn Lan Anh (năm 2004) với đề tài: "Nghiên cứu cơ chế, biện
pháp thúc đẩy ứng dụng kết quả nghiên cứu và phát triển sau nghiệm thu".

10
Đề tài tập trung vào việc luận giải các biện pháp chính sách thúc đẩy áp
dụng nhanh các kết quả nghiên cứu sau nghiệm thu vào sản xuất và đời
sống thực tế. Xét theo khía cạnh thương mại hoá kết quả NC&TK, tác giả
mới chỉ đề cập tới việc hoàn thiện sản phẩm cung theo một số tiêu chuẩn
chất lượng “sau nghiệm thu” để có thể nhanh chóng được bên mua – doanh
nghiệp chấp nhận.
Phạm Quang Trí (năm 2004) với đề tài: "Nghiên cứu cơ sở lý luận
và thực tiễn một số loại hình tổ chức sản xuất – kinh doanh trong các viện
NC&PT". Đề tài chủ yếu tập trung vào việc phân tích các loại hình tổ chức
sản xuất thuộc viện nghiên cứu, vai trò của các tổ chức này trong việc đẩy
nhanh kết quả NC&TK vào thực tế sản xuất, thúc đẩy liên kết trực tiếp
giữa các khâu sản xuất - nghiên cứu - thị trường, giảm các chi phí giao
dịch v.v…
Phạm Thị Bích Hà (năm 2007) với đề tài: ”Nghiên cứu đặc điểm hệ
thống đổi mới ngành ở Việt Nam - Trường hợp ngành công nghiệp dược
phẩm“. Đề tài tập trung vào các yếu tố liên kết chính sách đổi mới cấp

3. Mục tiêu nghiên cứu
3.1. Mục tiêu chung
Phân tích cơ chế hình thành, phát triển và hoạt động loại hình doanh
nghiệp spin-off trong các tổ chức NC&TK (khởi phát từ các tổ chức
NC&TK) và tác động của nó đối với việc thương mại hoá kết quả nghiên
cứu. Đề xuất một số giải pháp chính sách thúc đẩy.
3.2. Mục tiêu cụ thể
Phân tích vai trò của doanh nghiệp spin-off theo quan điểm của
chính sách đổi mới: doanh nghiệp spin-off - bộ phận hợp thành của cơ sở
hạ tầng hệ thống đổi mới quốc gia;
Nghiên cứu quá trình thương mại hoá kết quả NC&TK và tác động
thúc đẩy của doanh nghiệp spin-off trong quá trình này;
Đề xuất các giải pháp thúc đẩy hình thành và phát triển loại hình
doanh nghiệp spin-off trong điều kiện của Việt Nam;

12

4. Phạm vi nghiên cứu
4.1. Phạm vi nội dung nghiên cứu
Cơ sở lý luận về hoạt động hoạt động đổi mới (NC&TK và hoạt
động đổi mới, mối quan hệ giữa NC&TK và ĐMCN, vai trò của NC&TK
và hoạt động đổi mới), chính sách đổi mới, hệ thống đổi mới và cơ sở hạ
tầng của hệ thống đổi mới;
Thực trạng hình thành, phát triển và tổ chức hoạt động của các
doanh nghiệp spin-off trong các tổ chức NC&TK ở Việt Nam nói chung và
ngành dược nói riêng, vai trò của các doanh nghiệp này trong việc trực tiếp
thúc đẩy quá trình thương mại hoá kết quả NC&TK;
Các giải pháp thúc đẩy phát triển phù hợp với điều kiện của Việt
Nam;
4.2. Phạm vi thời gian

(mobility) nhân lực KH&CN là nhóm các giải pháp cần thiết để hình thành
doanh nghiệp spin-off và hoạt động hiệu quả nhằm thúc đẩy nghiên cứu,
sản xuất và thương mại hoá các kết quả nghiên cứu của các tổ chức nghiên
cứu và triển khai trong ngành dược;
8. Phương pháp chứng minh giả thuyết
8.1. Luận cứ lý thuyết
- Sử dụng các lý thuyết về phương pháp luận nghiên cứu khoa học,
quản lý công nghệ, quản lý nghiên cứu khoa học, tổ chức KH&CN, chính
sách KH&CN, chính sách đổi mới, tiếp cận hệ thống đổi mới quốc gia.
- Kế thừa cơ sở lý luận về mối quan hệ giữa hoạt động NC&TK với
thị trường, về chính sách khuyến khích đổi mới từ các đề tài nghiên cứu
khoa học đã công bố.
8.2. Luận cứ thực tế
- Kết quả khảo sát hiện trạng nghiên cứu, sản xuất và thương mại
hoá các kết quả nghiên cứu tại một số tổ chức NC&TK của Việt Nam;

14
- Kết quả khảo sát hiện trạng nghiên cứu, sản xuất và thương mại
hoá tại một số tổ chức NC&TK của ngành dược: Viện Vệ sinh dịch tễ;
Công ty Dược của Trường Đại học Dược; Một số doanh nghiệp và tổ
chức, cá nhân có liên quan đến thương mại hoá kết quả NC&TK v.v.;
- Kinh nghiệm một số nước trên thế giới;
9. Phương pháp nghiên cứu
9.1. Phương pháp tiếp cận
- Kết hợp phương pháp tiếp cận hệ thống đổi mới quốc gia, phân
tích và tổng hợp, định tính và định lượng;
9.2. Phương pháp thu thập thông tin
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: nghiên cứu cơ sở lý thuyết từ các
lý thuyết có liên quan và kế thừa kết quả từ các đề tài nghiên cứu khoa học
đã có. Thu thập và phân tích thông tin từ các bài báo khoa học, từ kết quả

NC&TK trong các viện NC&TK

Kết luận
Khuyến nghị
Danh mục tài liệu tham khảo

16
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ÐỔI MỚI, DOANH NGHIỆP SPIN-OFF
1.1. Một số khái niệm sử dụng trong luận văn
1.1.1. Khái niệm về đổi mới
Thuật ngữ đổi mới đã xuất hiện từ những năm đầu thế kỷ XX khi
nhà kinh tế học Schumpeter (1911) nghiên cứu sự khác biệt giữa việc hình
thành một ý tưởng cho sản phẩm hoặc qui trình (phát minh/sáng chế) và
việc ứng dụng ý tưởng đó đến quá trình kinh tế (đổi mới). Đến năm 1939,
Schumpeter mở rộng khái niệm đổi mới như là tập hợp các chức năng sản
xuất mới, bao gồm cả tạo ra hàng hoá mới, hình thái tổ chức mới, mở ra
những thị trường mới, sự kết hợp các nhân tố theo phương thức mới hoặc
tiến hành sự kết hợp mới.
Edquist (1997) đưa ra khái niệm đổi mới như là việc đưa ra nền kinh
tế tri thức mới hoặc sự kết hợp mới của những tri thức đang có. Bên cạnh
đó ông cũng phân biệt các loại đổi mới: đổi mới quy trình (công nghệ và tổ
chức) và đổi mới sản phẩm (hàng hoá và dịch vụ).
Ngược lại với cách tiếp cận tuyến tính trong đó quá trình đổi mới
phát triển qua những giai đoạn theo trật tự thời gian và tiệm tiến (từ nghiên
cứu cơ bản đến nghiên cứu ứng dụng, triển khai thực nghiệm, sản xuất sản
phẩm/dịch vụ và thị trường…), một số học giả đã vận dụng cách tiếp cận
mới: cách tiếp cận hệ thống. Cách tiếp cận hệ thống nhấn mạnh tầm quan
trọng của những hợp phần khác nhau và sự tương tác giữa các hợp phần đó
trong toàn bộ hệ thống diễn ra quá trình đổi mới. Ở đây, thuật ngữ “đổi

phẩm mới/được cải tiến ra thị trường hoặc quy trình mới/được cải tiến áp
dụng trong sản xuất), doanh nghiệp cần thực hiện nhiều hoạt động khác
nhau tuỳ thuộc vào bản chất của đổi mới đó.
1.1.2. Sản phẩm của quá trình đổi mới
Một sản phẩm hoặc dịch vụ chỉ được xem là đổi mới một khi sản
phẩm, dịch vụ hoặc quy trình công nghệ mới đã ra khỏi phòng thí nghiệm,
được đưa ra thị trường và được thị trường chấp nhận, được mua - bán và
sử dụng trong xã hội.
Sản phẩm của quá trình đổi mới được hình thành theo một quá trình:
từ khi tạo ra sáng chế và qua các hoạt động thử nghiệm, chế tạo, sản xuất

1
Nguyễn Mạnh Quân: Đề tài cấp cơ sỏ “Nghiên cúu nhận dạng hệ thống quốc gia về đổi mới của Việt
Nam”
2
Hoàng Văn Tuyên: Đề tài cấp cơ sở” Nghiên cứu quá trình phát triển chính sách đổi mới”

18
để biến sáng chế từ chỗ chỉ là ý tưởng, những bản vẽ trở thành những sản
phẩm và dịch vụ mới được mua bán trên thị trường, được thị trường chấp
nhận. Mục đích cuối cùng của đổi mới là đưa ra các sản phẩm mới, dịch vụ
mới được người sử dụng chấp nhận, trong khi sáng chế công nghệ chỉ
được xem như là phương tiện, là một trong số nhiều điều kiện cần để tạo ra
sản phẩm mới, dịch vụ mới.
Theo tổ chức OECD “Các sản phẩm hay quy trình công nghệ mới
chỉ được coi là được thực hiện nếu như đã được thị trường chấp nhận hoặc
được sử dụng trong quá trình sản xuất”.
1.1.3. Hoạt động đổi mới
Hoạt động đổi mới là một hoạt động tổng thể bao gồm nhiều hoạt
động khác nhau từ NC&TK đến thiết kế, chế tạo, sản xuất, thương mại

lợi và môi trường thúc đẩy cho sự thay đổi kinh tế có lợi nhất, khuyến
khích phát triển nguồn nhân lực, hình thành những ý tưởng mới và hiện
thực hoá những ý tưởng mới này thành các sản phẩm, quy trình và dịch vụ.
Chính sách đổi mới là những chính sách tác động đến những quyết
định của doanh nghiệp để phát triển, thương mại hoá và thực hiện những
công nghệ mới.
4

Khi xem xét quá trình phát triển chính sách đổi mới của mỗi quốc
gia, người ta thường căn cứ vào một số vấn đề cơ bản như: i) Quá trình
hoạch định và điều phối chính sách đổi mới; ii) Môi trường có lợi cho đổi
mới; iii) Truyền bá tri thức và công nghệ trong nền kinh tế và iv) Phát triển
nguồn nhân lực và văn hoá đổi mới.
Cũng cần phải nhấn mạnh rằng, chính sách đổi mới không thuần túy
là một chính sách mới, mà là tập hợp có hệ thống các chính sách công
nghiệp, chính sách thương mại, chính sách giáo dục, chính sách khoa học
và công nghệ… Nếu tập hợp đó không có tính hệ thống thì không thể nói
đến chính sách đổi mới.
1.1.5. Hệ thống đổi mới quốc gia
Theo định nghĩa của OECD, hệ thống đổi mới quốc gia (NIS)
5

một hệ thống các cơ quan, tổ chức nhà nước và tư nhân, thực hiện các hoạt
động nhằm nghiên cứu, du nhập, cải tiến và phổ biến các công nghệ mới.
Trong NIS, các doanh nghiệp công và tư, các trường đại học và các cơ
quan của Chính phủ tương tác với nhau nhằm hướng đến sự phát triển của
KH&CN trong phạm vi quốc gia. Tính tương hỗ của các đơn vị này có thể

4
Mowery: 1992

trình của Chính phủ, các quỹ đầu tư mạo hiểm cũng đóng vai trò tạo động
lực cho đổi mới. Tất cả tạo hệ trên đây liên kết với nhau theo quan hệ
tương tác và có mục tiêu chung là tạo ra sản phẩm đổi mới ở doanh nghiệp.
Vì vậy, người ta thường nói, trong hệ thống đổi mới quốc gia, doanh
nghiệp là trung tâm.

21
1.2. Khái niệm doanh nghiệp spin-off
Hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm doanh nghiệp
KH&CN, doanh nghiệp spin-off. Do vậy, trong luận văn này cần thiết phải
phân tích các quan niệm về doanh nghiệp spin-off của các kết quả nghiên
cứu trước đây về loại hình doanh nghiệp này.
1.2.1. Doanh nghiệp spin-off - bộ phận hợp thành của cơ sở hạ
tầng đổi mới
1.2.1.1. Khái niệm doanh nghiệp khoa học và công nghệ (spin-off)
Khái niệm “spin-off” về bản chất xuất phát từ lĩnh vực vật lý nguyên
tử là một quá trình điện tử chuyển động quay quanh hạt nhân khi tích đủ
năng lượng thì điện tử đó văng ra khỏi quỹ đạo chuyển động xa hạt nhân
hơn.
Trong các tài liệu nghiên cứu phương tây, đặc biệt là ở Mỹ và Anh,
khái niệm doanh nghiệp khoa học và công nghệ được hiểu là doanh nghiệp
khoa học spin-off (academic spin-offs) và doanh nghiệp dựa trên công
nghệ mới/doanh nghiệp dựa trên công nghệ cao.
Doanh nghiệp spin-off được hiểu là doanh nghiệp hoạt động trong
lĩnh vực khoa học và công nghệ, được hình thành dựa trên cơ sở áp dụng,
khai thác các kết quả nghiên cứu khoa học công nghệ được tạo ra ở viện
nghiên cứu, trường đại học hoặc do cá nhân hoặc tập thể các nhà khoa học,
kĩ sư,… có trình độ kiến thức và năng lực chuyên môn cao, có tinh thần
kinh thương rời khỏi tổ chức mẹ để bắt đầu một sự kinh doanh độc lập,
mới.

áp dụng/khai thác kết quả nghiên cứu khoa học và công nghệ được tạo ra ở
viện nghiên cứu, trường đại học, tổ chức nghiên cứu tư nhân hoặc bởi một
cá nhân hoặc tập thể nhà khoa học, công nghệ, sáng chế (người khởi
xướng/sáng lập doanh nghiệp).
Người sáng lập doanh nghiệp spin-off thường có một hoặc cả ba đặc
trưng sau đây:
 Sở hữu một bí quyết công nghệ cụ thể và có thể áp dụng bí quyết
công nghệ đó để đổi mới sản phẩm hoặc đổi mới quá trình;
 Có tinh thần kinh thương: quan tâm đến việc khai thác một cách tối
đa bí quyết công nghệ cụ thể đã có;

23
 Để sản xuất sản phẩm và dịch vụ cụ thể đủ năng lực cạnh tranh trên
thị trường trên cơ sở khai thác các nguồn vốn tự có hoặc coi như tự
có (vốn vay, vốn mạo hiểm v.v…).
Doanh nghiệp spin-off có thể được xem xét trong mối liên hệ với
chuyển giao công nghệ hoặc luân chuyển (mobility) cán bộ nghiên cứu
như là một phương thức khai thác giá trị kinh tế đối với kết quả nghiên
cứu. Nói một cách khác việc hình thành doanh nghiệp spin-off luôn gắn
với việc chuyển giao bí quyết công nghệ và luân chuyển nguồn nhân lực
tham gia vào việc tạo nên bí quyết công nghệ đó.
1.2.1.2. Các loại hình doanh nghiệp spin-off chủ yếu:
Phân loại doanh nghiệp spin-off theo nguồn gốc thành lập doanh
nghiệp:
Xét về nguồn gốc hình thành doanh nghiệp, quá trình hình thành
doanh nghiệp spin-off thường xuất phát từ 3 khu vực: viện nghiên cứu,
trường đại học và trong doanh nghiệp có tổ chức NC&TK. Tuy nhiên, do
chức năng nhiệm vụ nên trong mỗi khu vực lại có những đặc thù riêng.
- Trong viện nghiên cứu
Viện nghiên cứu có chức năng chính là nghiên cứu, đào tạo, hoạch

thế vượt trội của doanh nghiệp so với khu vực viện nghiên cứu và trường
đại học. Vấn đề khó khăn nhất cho doanh nghiệp chính là chứng minh
được hoạt động NC&TK để được hưởng chính sách ưu đãi về đầu tư và
thuế. Mặt khác, không dễ dàng gì mà các doanh nghiệp mẹ để doanh
nghiệp con tách ra hoạt động độc lập, thường do các cá nhân hoặc nhóm tự
tách ra hoặc thậm chí là kết quả của các xung đột rồi tách ra thành lập
doanh nghiệp độc lập.
Trong luận văn này, tác giả chủ yếu tập trung nghiên cứu các doanh
nghiệp spin-off có nguồn gốc từ các trường đại học và viện nghiên cứu.
Phân loại doanh nghiệp spin-off theo hình thức sở hữu:
Doanh nghiệp Nhà nước;
Doanh nghiệp cổ phần, sở hữu tư nhân trong đó viện/trường đại
học… mẹ đại diện cho sở hữu nhà nước có cổ phần trong doanh nghiệp
KH&CN;
Doanh nghiệp sở hữu thuộc gia đình;

25
Phân biệt các loại hình doanh nghiệp KH&CN
Theo Nghị định 80/2007/NĐ-CP, hoạt động chính của doanh nghiệp
KH&CN là thực hiện sản xuất, kinh doanh các loại sản phẩm hàng hoá
hình thành từ kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ và thực
hiện các nhiệm vụ KH&CN. Ngoài các hoạt động này, doanh nghiệp
KH&CN có thể thực hiện sản xuất, kinh doanh các loại sản phẩm hàng hoá
khác và thực hiện các dịch vụ khác theo quy định của pháp luật.
Theo quy định trên thì phàm là các doanh nghiệp sản xuất và kinh
doanh các sản phẩm mới từ kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển
công nghệ thì đều được gọi là doanh nghiệp KH&CN. Như vậy, hầu hết
các doanh nghiệp sản xuất đều được xếp vào loại hình doanh nghiệp này
bởi đa số các dây chuyền sản xuất, các sản phẩm đều là kết quả của quá
trình nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ.

có.
Là doanh nghiệp do
nhà nước thành lập
hoặc ủy quyền cho
các cơ quan nhà
nước có thẩm quyền
thành lập đặt trực
thuộc các cơ sở đào
tạo, viện nghiên cứu
công lập.
Là doanh nghiệp do tổ
chức, cá nhân sở hữu
hoặc sử dụng hợp pháp
các kết quả nghiên cứu
khoa học và phát triển
công nghệ thành lập.
Cấu trúc,
các mối
quan hệ
- Tách ra từ một bộ phận
của tổ chức mẹ hoặc kết
hợp với một số tác nhân
(state holders) bên ngoài
thành lập đơn vị mới;
- Hoạt động độc lập và có
thể vẫn giữ mối quan hệ
với tổ chức mẹ nhưng
không phụ thuộc vào tổ
chức mẹ
- Một bộ phận tách ra

tổ chức mẹ (có thể
bao gồm các sản
phẩm công nghệ cao,
mới).
Sản xuất, kinh doanh
các loại sản phẩm hàng
hoá hình thành từ kết
quả NC&TK của mình
(có thể bao gồm các
sản phẩm công nghệ
cao, mới).

27
Theo Trần văn Dũng (2007), nếu tiếp cận theo khái niệm tập hợp
trong toán học, có thể suy diễn như sau:
- Gọi A: là tập hợp doanh nghiệp spin-off.
- Gọi B: là tập hợp doanh nghiệp 68.
- Gọi C: là tập hợp doanh nghiệp 80.
- Gọi D: là tập hợp các phần tử được tách ra từ một bộ phận của tổ
chức mẹ để thành lập hệ thống mới (doanh nghiệp) hoạt động dựa trên cơ
sở khai thác các công nghệ cao, mới, hoặc vừa cao vừa mới hoặc các sản
phẩm thuần túy được sản xuất từ các dây chuyền công nghệ đó.
: là quan hệ giao. Khi đó: D = A  B  C
Quan hệ giữa 3 loại hình có thể mô tả theo sơ đồ sau:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status