ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN TRƯƠNG QUỐC CHÍNH
QUAN ĐIỂM CỦA MÁC, ĂNGGHEN, LÊNIN VỀ NHÀ
NƯỚC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VÀ VIỆC VẬN DỤNG ĐỂ
XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC CỦA DÂN, DO DÂN,VÌ DÂN Ở
VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ HÀ NỘI - 2008
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: QUAN ĐIỂM CỦA MÁC, ĂNGGHEN, LÊNIN VỀ NHÀ NƯỚC VÀ
NHÀ NƯỚC XHCN 14
1.1. Quan điểm của Mác, Ăngghen, Lênin về nhà nước 14
1.1.1. Về nguồn gốc nhà nước 14
1.1.2. Về bản chất và chức năng của nhà nước 24
1.2. Quan điểm của Mác, Ăngghen, Lênin về nhà nước XHCN 29
3.2. Một số giải pháp xây dựng Nhà nước Việt Nam hiện nay theo hướng
nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân 126
3.2.1. Thực hành dân chủ XHCN, đa dạng hoá các hình thức dân chủ trong
tổ chức, xây dựng và hoạt động của nhà nước 126
3.2.2. Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với
Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam 130
3.2.3. Đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của các cơ quan nhà nước 135
3.2.4. Kế thừa có chọn lọc những phương thức tổ chức và hoạt động có
hiệu quả của các nhà nước trong lịch sử Việt Nam và trên thế giới hiện nay . 151
KẾT LUẬN 161
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN ĐÃ CÔNG BỐ 164
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 165 1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Chính quyền nhà nước là vấn đề cơ bản của mọi cuộc cách mạng. Song,
đối với cách mạng xã hội chủ nghĩa, việc giành chính quyền nhà nước không
có mục tiêu tự nó, mà nhằm giải phóng sức sản xuất, phát triển toàn diện con
người. Muốn vậy, trong khi xem phát huy cao độ vai trò nhân tố con người -
động lực thường xuyên của lịch sử - là vấn đề mang tính quyết định, chủ
nghĩa Mác - Lênin cũng không xem nhẹ tác động mạnh mẽ của nhà nước tới
giải phóng sức sản xuất, giải phóng con người. Bởi lẽ, nhà nước tuy do con
người lập ra, nhưng sau khi ra đời, nó có tác động mạnh mẽ tới bản thân con
người, tới việc kìm hãm hoặc phát huy sức mạnh của con người. Một nhà
nước được tổ chức và vận hành hợp lý, phù hợp yêu cầu phát triển kinh tế - xã
hội, yêu cầu giải phóng con người, sẽ nâng sức mạnh sáng tạo của con người
lên một trình độ cao về chất. Ngược lại, nó sẽ là lực cản rất lớn tới việc phát
quyền lực nhà nước kiểu mới so với trước đây đã được khẳng định về mặt lý
luận và đang từng bước hiện thực hoá trong thực tiễn: Nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa Việt Nam của dân, do dân, vì dân. Trên một ý nghĩa nhất
định, đây là một cuộc cách mạng trên cả lĩnh vực nhận thức lý luận lẫn trên
lĩnh vực tổ chức xây dựng một cách thực tiễn một kiểu nhà nước mới trong
lịch sử - nhà nước xã hội chủ nghĩa. Bước tiến đạt được trong xây dựng nhà
nước có tác động tích cực đến phát huy dân chủ. Nền dân chủ xã hội chủ
nghĩa đang từng bước được hình thành, sự tham gia của nhân dân vào công
việc nhà nước và xã hội ngày càng tăng lên. Những tiềm năng sáng tạo của
con người không ngừng được khai thác vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã
hội công bằng, dân chủ, văn minh. Đó là cội nguồn thắng lợi của hơn 20 năm
đổi mới vừa qua.
3
Mặt khác, như Đại hội X Đảng cộng sản Việt Nam đã chỉ ra, tuy việc
xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của dân, do dân,
vì dân có tiến bộ trên cả ba lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp, nhưng so
với nhu cầu thực tiễn đổi mới, nhà nước ta còn tỏ ra chưa ngang tầm. Tổ chức
và hoạt động của nhà nước còn có một số khâu chậm đổi mới. Quốc hội còn
lúng túng trong việc thực hiện chức năng của mình. Bộ máy quản lý nhà nước
các cấp, nhất là ở cơ sở còn yếu kém. Tình trạng nhũng nhiễu, cửa quyền,
thiếu trách nhiệm… chậm được khắc phục. Mô hình tổ chức chính quyền địa
phương còn những điểm chưa hợp lý. Cải cách hành chính chưa đạt yêu cầu.
Dân chủ trong xã hội còn bị vi phạm. Kỷ cương, kỷ luật ở nhiều nơi không
nghiêm.
Để đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, sớm đưa nước ta ra khỏi
tình trạng kém phát triển và phấn đấu đến năm 2020, về cơ bản, nước ta trở
thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại, chúng ta không thể không
tiếp tục đổi mới nhà nước, làm cho nhà nước có thể góp phần phát huy cao
hơn nữa tác động tích cực của mình trong phát triển kinh tế, văn hoá - xã hội
Nam hiện nay” làm đề tài luận án của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề nhà nước XHCN hay nhà nước vô sản là một trong những nội
dung cơ bản và đặc biệt quan trọng của triết học Mác - Lênin nói riêng và chủ
nghĩa Mác - Lênin nói chung. Vì thế, đã có nhiều công trình nghiên cứu về đề
tài này. Chẳng hạn như: các công trình nghiên cứu nhằm làm sáng tỏ những
nội dung chính của quan điểm mácxít về nhà nước vô sản (phần lớn được
thực hiện ở các nước XHCN trước đây); những công trình bàn về việc tìm tòi
những hình thức mới của CCVS, ngoài những mô hình mà C. Mác, Ph.
5
Ăngghen, V.I. Lênin đã chỉ ra, như công trình nghiên cứu về mô hình "CNXH
tự quản" của Nam Tư; những công trình xét lại quan điểm về nhà nước của
chủ nghĩa Mác - Lênin, đánh giá lại nhà nước tư bản hiện đại cũng như
phương thức xây dựng một nhà nước mới của "chủ nghĩa cộng sản châu Âu".
Ví dụ như tác phẩm "Chủ nghĩa cộng sản châu Âu" và nhà nước của S.
Carilô - Tổng bí thư Đảng cộng sản Tây Ban Nha, xuất bản tháng 4 năm
1977; hay tác phẩm "Hãy để chúng tôi nói thật" của G. Mácxe - Tổng bí thư
Đảng cộng sản Pháp, xuất bản tháng 11 năm 1977. Hai tác phẩm đã trình bầy
một cách có hệ thống lý luận và sách lược của "chủ nghĩa cộng sản châu Âu"
và có ảnh hưởng to lớn trong các đảng cộng sản ở các nước Tây Âu. Trong đó
đặt vấn đề: căn cứ lý luận chủ yếu của "chủ nghĩa cộng sản châu Âu" nhằm
kiên trì thông qua con đường dân chủ độc đáo để thực hiện cuộc cải cách
XHCN là "nhận thức lại" quan điểm Mác - Lênin về nhà nước, thậm chí là
việc từ bỏ khái niệm CCVS.
Hiện nay, có nhiều công trình nghiên cứu nhằm phân tích, bổ sung lý
luận về nhà nước XHCN và tìm ra những hình thức xây dựng nhà nước
XHCN thích hợp trong điều kiện lịch sử mới. Nghiên cứu lịch sử chủ nghĩa
Mác - Lênin, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế nói chung, trong đó
có vấn đề nhà nước và nhà nước XHCN, ở nước ngoài gần đây, đáng kể nhất
trong tác phẩm "Nhà nước và cách mạng"; vấn đề mối quan hệ giữa quan niệm
về dân chủ vô sản với tư cách cơ sở triết học - chính trị với sự hình thành và
phát triển tư tưởng về nhà nước kiểu mới cũng như bản thân nhà nước kiểu mới
ở Việt Nam. Có thể đề cập một số cuốn sách và các bài báo sau đây:
- "Về nhà nước xã hội chủ nghĩa" Trích tác phẩm của C.Mác, Ph.
ĂNgghen, V.I. Lênin, I.V. Xtalin. Nxb Sự thật, Hà Nội năm 1978. Tập hợp
7
các đoạn trích tiêu biểu của các Nhà kinh điển về vấn đề nhà nước, nhà nước
XHCN.
- “Tìm hiểu tác phẩm Nhà nước và cách mạng” của GS. TS Nguyễn
Hữu Vui, do Nhà xuất bản Sự thật xuất bản năm 1986.
- “Quan điểm của V.I. Lênin về sự kết hợp tất yếu, hữu cơ giữa dân chủ
và chủ nghĩa xã hội” của Đặng Hữu Toàn (Triết học, số 2, 2000).
- “Mấy suy nghĩ về bản chất nhà nước kiểu mới qua nghiên cứu "Nhà
nước và cách mạng" của Lê nin”, của Vũ Trọng Dung (Triết học số 3, 1999).
- “Dân chủ vô sản - cơ sở triết học - chính trị cho sự hình thành và phát
triển nhà nước kiểu mới ở Việt Nam” của Trần Kỳ Đồng (Triết học, số 2,
1999).
Hai là, các công trình nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước.
Các công trình đề cập và đi sâu phân tích một số nội dung như vị trí vấn đề
nhà nước trong tư tưởng Hồ Chí Minh; nguồn gốc và quá trình hình thành,
phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nước kiểu mới ở Việt Nam;
bản chất và việc xây dựng nhà nước kiểu mới - nhà nước của dân, do dân, vì
dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh.
“Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật” của Bộ Tư
pháp - Viện Nghiên cứu Khoa học Pháp lý - Chương trình khoa học - công nghệ
cấp nhà nước KX 02, Đề tài KX 02-13, năm 1993.
- “Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng lãnh đạo Nhà nước” của
Học viện Hành chính quốc gia, năm 1997.
9
- Chương trình KX-04 “Xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của
dân, do dân, vì dân” (2001 – 2005) gồm 10 đề tài nhánh, đã nghiệm thu, do
GS. VS Nguyễn Duy Quý làm chủ nhiệm đề tài.
- “Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam” năm
2005 do GS. TS Đào Trí Úc chủ biên, tham gia đề tài khoa học mã số
KHXH.05.05: “Xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân dưới
sự lãnh đạo của Đảng” (thuộc chương trình KHXH. 05).
- “Xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam trong thời kỳ đổi
mới”, (2006) do GS. TS Lê Hữu Nghĩa và đồng chí Nguyễn Văn Yểu đồng
chủ biên.
- "Tư tưởng pháp trị của Pháp gia với sự nghiệp xây dựng nhà nước
pháp quyền Việt Nam", (2007) của PGS. TS Doãn Chính và TS Nguyễn Văn
Trịnh
Ngoài ra còn có nhiều bài viết trên các tạp chí khoa học chuyên ngành
và một số luận án, luận văn về vấn đề nhà nước, nhà nước pháp quyền
XHCN, nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam :
Các bài viết đăng tải trên các tạp chí khoa học: “Đảm bảo sự thống
nhất giữa bản chất giai cấp công nhân với tính nhân dân của nhà nước - Vấn
đề cấp bách trong việc củng cố nhà nước ta hiện nay” của Phạm Ngọc Quang,
Tạp chí Triết học, số 2/2000; “Về một số nét đặc thù của nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa ở Việt Nam” của Phạm Văn Đức, Tạp chí Triết học, số 9/2005;
“Đảng Cộng sản cầm quyền lãnh đạo nhà nước và xã hội trong sự nghiệp đổi mới
- một số vấn đề đặt ra” của Hoàng Chí Bảo, Tạp chí Cộng sản, số 17/2006; “Xây
dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân dưới sự lãnh
đạo của Đảng trong điều kiện nước ta hiện nay” của Nguyễn Duy Quý, Tạp chí
Triết học, số 10/2002; “Nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng đối với việc xây
dựng nhà nước pháp quyền và nền dân chủ xã hội chủ nghĩa” của Nguyễn Trọng
10
dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam; một số “căn bệnh” của bộ máy
nhà nước cũng như một số đặc điểm của nhà nước pháp quyền XHCN Việt
Nam mà chúng ta đang xây dựng; mối quan hệ giữa dân chủ XHCN và việc
thực hiện dân chủ với xây dựng và thực hiện nhà nước pháp quyền trong điều
kiện Việt Nam Tuy nhiên, các công trình này phần nhiều chỉ là những
nghiên cứu về nhà nước, nhà nước XHCN chủ yếu từ góc độ khoa học pháp
lý. Nếu có tiếp cận từ góc độ triết học thì cũng chủ yếu là những nghiên cứu
riêng biệt các vấn đề lý luận về nhà nước XHCN hoặc thực tiễn xây dựng nhà
nước XHCN Việt Nam. Nhìn chung còn ít những công trình chuyên biệt
nghiên cứu về sự vận dụng quan điểm kinh điển trong thực tiễn xây dựng nhà
nước XHCN Việt Nam. Chính vì vậy, vấn đề nhận thức, nhận thức lại một
cách thấu đáo và đúng đắn hơn những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin
về nhà nước XHCN và đặc bịêt là việc vận dụng quan điểm của các nhà kinh
điển cũng như những sáng tạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong tổ chức xây
dựng nhà nước XHCN Việt Nam để làm rõ thực trạng cũng như phương
hướng tiếp tục xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì dân ở nước ta hiện nay
còn nhiều điểm cần được làm sáng tỏ thêm. Mặt khác, tiến trình xây dựng nhà
nước XHCN Việt Nam mặc dù luôn được định hướng và dẫn dắt bởi học
thuyết Mác - Lênin về nhà nước, nhưng được thực hiện trong những điều kiện
và hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam. Nghiên cứu tiến trình xây dựng nhà nước
Việt Nam kiểu mới sau cách mạng Tháng Tám 1945 cho đến nay như là sự
vận dụng lý luận mácxít về nhà nước XHCN đồng thời là sự hiện thực hoá
những tư tưởng độc lập sáng tạo của Hồ Chí Minh về nhà nước dân chủ nhân
dân, nhà nước XHCN là một hướng nghiên cứu nhằm bổ sung những điểm
cần được làm sáng tỏ thêm đó. Sự ra đời của luận án này là một cố gắng theo
hướng nghiên cứu trên.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
12
Mục đích: nghiên cứu quan điểm của C. Mác, Ph. Ăngghen, V.I. Lênin
ra cũng sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phân tích,
so sánh, tổng hợp, kết hợp lôgíc và lịch sử, quy nạp và diễn dịch.
6. Cái mới của luận án
- Góp phần chứng minh việc xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN
Việt Nam là sự vận dụng sáng tạo lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin về nhà nước
XHCN trong điều kiện cụ thể của Việt Nam; bước chuyển từ nhà nước dân
chủ nhân dân lên nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân là nét
đặc thù của Việt Nam.
- Làm rõ những nguyên nhân khách quan và chủ quan dẫn đến những
hạn chế về cơ cấu tổ chức cũng như phương thức hoạt động của nhà nước
XHCN Việt Nam trước đổi mới và hiện nay. Phân tích được một số quan
điểm có tính nguyên tắc và giải pháp cơ bản để để vận dụng tốt hơn lý luận chủ
nghĩa Mác - Lênin trong việc tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp
quyền XHCN Việt Nam của dân, do dân, vì dân.
14
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
- Luận án góp phần làm rõ sự vận dụng lý luận mácxít về nhà nước vào
quá trình xây dựng và hoạt động của nhà nước XHCN Việt Nam.
- Luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng
dạy Triết học, Chủ nghĩa xã hội khoa học
8. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận án
gồm 3 chương với 6 tiết.
Để thực hiện mục tiêu thứ hai, các ông đã từng bước kết hợp nghiên
cứu lý luận với tổng kết thực tiễn cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân. Vì
vậy, nghiên cứu lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin về nhà nước trước hết phải
nghiên cứu các quan điểm của Mác, Ăngghen, Lênin về nguồn gốc nhà nước.
Vấn đề nguồn gốc nhà nước đã được đề cập trong lịch sử triết học từ
thời cổ đại. Các học thuyết triết học chính trị và các nhà tư tưởng đã cắt nghĩa
vấn đề này dưới nhiều hình thức khác nhau. Hai loại quan điểm cơ bản của
thời cổ đại về nguồn gốc nhà nước là quan điểm của các nhà thần học và quan
điểm của những người theo thuyết gia trưởng.
Quan điểm đầu tiên về nguồn gốc nhà nước là những quan điểm của
các nhà thần học - thường là thần bí hoá nhà nước. Họ cho rằng, nhà nước là
sản phẩm của thượng đế dùng để bảo vệ trật tự chung của xã hội. Nhà nước
thuộc về những lực lượng siêu nhiên, bắt nguồn từ một lực lượng siêu nhiên,
tức “Chúa”, “Trời”. Quyền lực của những lực lượng siêu nhiên đó được trao
cho vua thay Trời trị vì dân chúng. Quyền lực nhà nước là vĩnh viễn, con
người phải phục tùng quyền lực đó một cách tuyệt đối. Người đứng đầu nhà
nước trong xã hội là các bậc vua chúa, chỉ tuân theo “mệnh trời” để cai trị dân
chúng. Theo đó, nhà nước là hiện thân của một sức mạnh siêu nhiên, nằm
ngoài xã hội và chi phối, quyết định xã hội.
Trong khi đó, quan điểm của những người theo thuyết gia trưởng lại
cho rằng: nhà nước là kết quả của sự phát triển gia đình, là hình thức tổ chức
tự nhiên của đời sống con người. Nhà nước là một hiện tượng vĩnh viễn trong
xã hội. Cũng như gia đình, nhà nước tồn tại trong mọi xã hội. Quyền lực nhà
nước, về thực chất, cũng giống như và là sự kế tiếp (tiếp nối) quyền lực của
người đứng đầu gia đình. Arixtốt (384 - 322), một trong những đại diện của
thuyết gia trưởng đã cho rằng nhà nước, quyền lực nhà nước xuất hiện một
cách tự nhiên, được hình thành do lịch sử. Nhà nước được phát triển từ gia
17
đình, công xã và là một hình thức tổng thể, hoàn thiện nhất trong quan hệ giữa
Những thoả thuận giữa con người với nhau là cơ sở cho mọi chính quyền hợp
pháp, được thể hiện thông qua “khế ước xã hội” - mỗi người trao nhân cách
của mình cho lãnh đạo tối cao mang ý chí chung và do đó trở thành thành
viên của nó. Toàn bộ học thuyết của Rútxô về nguồn gốc nhà nước cho thấy
ông đã nhận ra mâu thuẫn cơ bản nhất trong xã hội phong kiến là mâu thuẫn
giàu nghèo, trong chính trị là mâu thuẫn giữa kẻ áp bức và người bị áp bức,
kẻ giàu có sẽ nắm quyền lực. Vì thế, ông ủng hộ thể chế cộng hoà, coi đó là
hình thức cầm quyền tốt nhất, trong đó, các quan chức là do nhân dân bầu ra.
“Khế ước xã hội” là học thuyết có tính cách mạng. Một khi nhà nước được
thiết lập theo khế ước thì chế độ dân chủ được đảm bảo, mọi người được tự
do, khi nhà nước lạm quyền thì nhân dân có quyền bãi bỏ nhà nước.
Cũng theo thuyết này, con người vốn dĩ có các quyền tự nhiên là
quyền sống, quyền có tư liệu sản xuất, quyền được sản xuất và các quyền
chính trị khác. Nhưng các quyền đó của con người thường xuyên bị vi phạm,
vì thế, con người buộc phải tranh chấp, phải đấu tranh với nhau để bảo vệ các
quyền của mình. Điều đó tất yếu làm xuất hiện cái gọi là quyền lực xã hội.
Quyền lực xã hội là kết quả của việc mỗi cá nhân tự giác đem một phần
quyền của mình giao cho các cơ quan quyền lực xã hội nhằm mục đích điều
chỉnh hoạt động chung của con người và xã hội. Theo đó, nhà nước là một
hiện tượng vĩnh viễn đi cùng với xã hội loài người và sẽ không bao giờ mất
đi. Quan điểm trên đã phần nào khắc phục sự giải thích thần bí và siêu tự
nhiên về nguồn gốc của nhà nước, nhưng vẫn bế tắc khi lý giải nhà nước chỉ
như là kết quả ý chí chung của con người, là một hiện tượng vĩnh cửu, và
điều đó đã làm sai lạc bản chất của nhà nước.
19
Xuất phát từ quan điểm duy vật về lịch sử, khi nghiên cứu vấn đề nhà
nước, Mác và Ăngghen đã phân tích toàn bộ sự tiến triển của lịch sử loài
người trong mối quan hệ hữu cơ của con người, xã hội và tự nhiên ở từng
giai đoạn lịch sử để làm rõ quá trình hình thành và phát triển của nhà nước
Không dừng lại ở đó, Mác và Ăngghen còn xác định rõ cơ sở kinh tế của
nhà nước. Trong tác phẩm Hệ tư tưởng Đức, thông qua việc bàn về mối liên hệ
giữa cơ cấu xã hội và chính trị với sản xuất, trên cơ sở nắm được mối quan hệ
giữa thực chất của nhà nước và tính chất của những mối liên hệ xã hội, các ông
đã nêu tư tưởng về vai trò quyết định của chế độ tư hữu trong kinh tế đối với chế
độ chính trị. Khi khẳng định tính quyết định xét đến cùng của cơ sở kinh tế, đồng
thời chỉ ra rằng cơ sở hạ tầng của đời sống xã hội không phải được xem xét như
trong tư tưởng hay suy nghĩ thuần tuý của con người, Mác, Ăngghen cho rằng:
Cơ cấu xã hội và nhà nước luôn nảy sinh từ quá trình sinh sống của
những cá nhân nhất định, không phải của những cá nhân đúng như
bản thân những cá nhân ấy có thể tự hình dung hay đúng như người
khác có thể hình dung, mà là của những cá nhân đúng như trong
hiện thực, nghĩa là đúng như họ đang hành động, sản xuất một cách
vật chất, tức là đúng như họ hành động trong những giới hạn, tiền
đề và điều kiện vật chất nhất định, không phụ thuộc vào ý chí của
họ [62, tr. 36].
Các ông tiếp tục nêu lên một cách chi tiết và cụ thể khía cạnh nền tảng của
xã hội công dân với tư cách tổ chức xã hội - kết quả trực tiếp của sản xuất và
giao tiếp của các cá nhân trong xã hội; vai trò cơ sở của nó đối với sự hình thành
nhà nước (mà như Ph. Ăngghen đánh giá, là chìa khoá để hiểu quá trình phát
triển của lịch sử nhân loại). Theo Mác, Ăngghen:
21
Thuật ngữ “xã hội công dân” xuất hiện trong thế kỷ XVIII khi
những quan hệ sở hữu thoát khỏi thể cộng đồng [Gemeinwesen] cổ
đại và trung cổ. Xã hội tư sản [burgerliche Gesellschaf] với tính
cách là xã hội tư sản chỉ phát triển cùng với giai cấp tư sản; tuy
nhiên, tổ chức xã hội trực tiếp sinh ra từ sản xuất và giao tiếp và
trong mọi thời đại đều cấu thành cơ sở của nhà nước và của kiến
trúc thượng tầng tư tưởng, vẫn luôn được gọi bằng danh từ đó
Mác, Ăngghen cũng chứng minh rằng, ở một giai đoạn xác định của sự
phát triển xã hội, đã xuất hiện nhu cầu phải tập hợp dưới một quy tắc chung,
những hành vi sản xuất, phân phối và trao đổi sản phẩm được lặp đi lặp lại
nhiều lần, do vậy phải làm thế nào để mọi người phục tùng những điều kiện
chung của sản xuất, phân phối và trao đổi. Quy tắc chung đó lúc đầu chỉ là
thói quen, nhưng sau đó đã trở thành pháp luật và “…có pháp luật thì những
cơ quan có nhiệm vụ duy trì pháp luật đó tất yếu phải xuất hiện: quyền lực
công cộng, tức là nhà nước” [67, tr. 378]. Theo các ông, thực chất của mối
quan hệ giữa nhà nước và xã hội là ở chỗ, toàn bộ sự vận động của đời sống
xã hội mà yếu tố quyết định là đời sống kinh tế, đã làm cho nhà nước - vốn
xuất phát từ xã hội, do nhu cầu xã hội lại tách ra, trở thành như là cái độc lập,
thậm chí đối lập với xã hội. Trong quan hệ này, xã hội luôn là cái quyết định.
Mác viết: “nói chung, không phải nhà nước chế định và quyết định xã hội
công dân mà xã hội công dân chế định và quyết định nhà nước, rằng do đó
phải lấy những quan hệ kinh tế và sự tiến triển của những quan hệ ấy để giải
thích chính trị và lịch sử chính trị chứ không phải ngược lại” [70, tr. 321].
Sau khi Mác qua đời, Ăngghen đã viết tác phẩm "Nguồn gốc của gia
đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước" vừa để trình bày những quan điểm
của hai ông, vừa bổ sung thêm những tư liệu mới, nhất là những kiến thức về