ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
================== PHẠM THỊ HƢỜNG TÍNH CỘNG ĐỒNG CỦA NÔNG DÂN VIỆT NAM
TRONG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ THỊ TRƢỜNG HIỆN NAY
(Qua nghiên cứu khu vực đồng bằng sông Hồng)
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học
Hà Nội - 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn thạc sỹ với đề tài “Tính cộng đồng của
nông dân Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị trƣờng hiện nay (Qua
nghiên cứu khu vực đồng bằng sông Hồng) là công trình nghiên cứu của
riêng cá nhân tôi và những kết quả nghiên cứu trong luận văn này hoàn
toàn trung thực. Hà Nội, tháng 9 năm 2014
Tác giả Luận văn Phạm Thị Hƣờng
LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian nghiên cứu và thực hiện luận văn, bên cạnh những nỗ lực
Chƣơng 2: TÍNH CỘNG ĐỒNG CỦA NÔNG DÂN VIỆT NAM KHU VỰC
ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG TRONG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ THỊ
TRƢỜNG HIỆN NAY: BIẾN ĐỔI CƠ BẢN VÀ GIẢI PHÁP 45
2.1. Khái quát về kinh tế thị trƣờng và sự tác động của nó đối với nông
thôn Việt Nam hiện nay 45
2.2. Biến đổi cơ bản tính cộng đồng của nông dân Việt Nam khu vực đồng
bằng sông Hồng trong điều kiện kinh tế thị trƣờng hiện nay 62
2.3. Một số giải pháp nhằm tiếp tục phát huy tính cộng đồng, hạn chế chủ
nghĩa cá nhân của nông dân Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị trƣờng
hiện nay 82
KẾT LUẬN 96
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 98
2
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Một trong những nội dung căn bản trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam
là bước chuyển biến từ nền kinh tế tập trung, bao cấp sang nền kinh tế thị trường,
cụ thể là kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, có
sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa (kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa). Sau gần ba mươi năm xây dựng và phát triển, kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã có ảnh hưởng lớn đến mọi lĩnh vực
của đời sống xã hội, trước hết là kinh tế đến văn hóa, xã hội và con người Việt
Nam.
Một mặt kinh tế thị trường đã đem đến sự tăng trưởng kinh tế với tốc độ
cao, đời sống nhân dân được cải thiện, vị thế của Việt Nam không ngừng được
nâng cao trên trường quốc tế. Mặt khác, kinh tế thị trường cũng nảy sinh những
tác động tiêu cực đến sự phát triển của xã hội. Khoảng cách giàu nghèo giữa các
tầng lớp nhân dân có xu hướng gia tăng, một số giá trị văn hóa, đạo đức có nguy
cơ bị xói mòn. Những giá trị truyền thống như lòng yêu nước, tinh thần nhân
đồng bằng sông Hồng)” làm đề tài nghiên cứu của mình.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong những năm gần đây, tính cộng đồng của người Việt Nam nói chung
và nông dân Việt Nam nói riêng trở thành một trong những vấn đề được quan
tâm hàng đầu trong nghiên cứu của các ngành xã hội và nhân văn. Các công trình
nghiên cứu đó thể hiện những góc nhìn và quan điểm khác nhau về tính cộng
đồng. Kết quả của các nghiên cứu đó được phân chia thành các nhóm sau:
- Nhóm công trình nghiên cứu, tìm hiểu về biến đổi giá trị văn hóa truyền
thống của người Việt Nam trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa hay
trước những thách thức của toàn cầu hóa như:
+ Chương trình khoa học và công nghệ cấp Nhà nước KX - 07. Đề tài KX
07 - 02, Phan Huy Lê - Vũ Minh Giang (chủ biên) (1994), “Các giá trị truyền
thống và con người Việt Nam hiện nay” (1994), Công trình khoa học công nghệ
cấp nhà nước, KX.07.
4
+ Trần Quốc Vượng (2000), Văn hóa Việt Nam - Tìm tòi và suy ngẫm,
Nxb. Văn hóa dân tộc, Tạp chí văn hóa nghệ thuật.
+ Đỗ Huy (2001), Giá trị truyền thống Việt Nam trước thách thức của
toàn cầu hóa, Nxb. Chính trị quốc Gia, Hà Nội.
+ Nguyễn Trọng Chuẩn, Phạm Văn Đức, Hồ Sĩ Quý (chủ biên) (2002),
Tìm hiểu giá trị văn hóa truyền thống trong quá trình công nghiệp hóa - hiện đại
hóa, Nxb. Chính trị quốc Gia, Hà Nội.
+ Phan Đại Doãn (2004), Mấy vấn đề về văn hóa làng xã Việt Nam trong
lịch sử, Nxb. Chính trị quốc Gia, Hà Nội.
+ Dương Phú Hiệp (2010), Nghiên cứu về văn hóa và con người Việt Nam
hiện nay, Nxb. Chính trị quốc Gia, Hà Nội.
+ Đặng Vũ Cảnh Linh (chủ biên) (2010), Con người Việt Nam truyền
thống - những giá trị đối với sự phát triển, Nxb. Lao động, Hà Nội.
+ Nguyễn Ngọc Hà (2011), Đặc điểm tư duy và lối sống của con người
Nxb. Lý luận chính trị, Hà Nội.
+ Ngô Thị Phượng (2014), Lối sống của nông dân Việt Nam do ảnh
hưởng của chuyển đổi mục đích sử dụng đất (trường hợp nghiên cứu tỉnh Ninh
Bình), Nxb. Đại học quốc Gia, Hà Nội.
…
Các công trình và bài viết trên đã nghiên cứu về những giá trị văn hóa
truyền thống, tính cộng đồng và sự biến đổi của tính cộng đồng của người Việt
Nam. Tuy nhiên, trong các công trình đã liệt kê ở trên thì có rất ít các công trình
đi sâu vào nghiên cứu những thay đổi trong tính cộng đồng của người nông dân
Việt Nam hiện nay. Mặt khác, các tác giả cũng chưa đưa ra những giải pháp tăng
cường mặt tích cực cũng như nhằm hạn chế những yếu tố tiêu cực của tính cộng
đồng. Vì thế, tác giả luận văn hy vọng đem lại cái nhìn mới, cái nhìn sâu sắc và
toàn diện hơn về tính cộng đồng của nông dân Việt Nam trong truyền thống và
hiện nay với mong muốn đưa ra những giải pháp tăng cường hơn nữa mặt tích
cực và hạn chế mặt tiêu cực trong tính cộng đồng của nông dân Việt Nam hiện
nay.
6
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
- Mục đích:
Luận văn làm rõ những biến đổi cơ bản từ đó đề xuất những giải pháp
nhằm phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực trong tính cộng đồng của nông
dân Việt Nam khu vực đồng bằng sông Hồng dưới tác động của kinh tế thị
trường hiện nay.
- Nhiệm vụ:
Để đạt được mục đích trên, luận văn thực hiện các nhiệm vụ sau:
+ Khái quát quan niệm về tính cộng đồng
+ Trình bày cơ sở hình thành và những biểu hiện tính cộng đồng của nông
dân Việt Nam khu vực đồng bằng sông Hồng trong lịch sử.
+ Phân tích những biến đổi cơ bản trong tính cộng đồng của nông dân
8. Ý nghĩa của luận văn
- Ý nghĩa lý luận: Luận văn góp phần làm rõ hơn tính cộng đồng của nông
dân trong giai đoạn hiện nay.
- Ý nghĩa thực tiễn: Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho các
chuyên đề về tính cộng đồng của nông dân Việt Nam, đặc biệt có thể làm tài liệu
tham khảo cho các nhà lãnh đạo, các nhà quản lý để xây dựng thành công mô
hình nông thôn mới hiện nay.
9. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm 2 chương 5 tiết. 8
NỘI DUNG
Chƣơng 1: TÍNH CỘNG ĐỒNG CỦA NÔNG DÂN VIỆT NAM KHU VỰC
ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG - CƠ SỞ HÌNH THÀNH VÀ BIỂU HIỆN CƠ
BẢN CỦA NÓ TRONG LỊCH SỬ
1.1. Quan niệm về tính cộng đồng và cơ sở hình thành tính cộng đồng
của nông dân Việt Nam khu vực đồng bằng sông Hồng
1.1.1. Quan niệm về tính cộng đồng
“Tính cộng đồng” là khái niệm được nhiều nhà khoa học thuộc các lĩnh
vực khác nhau như: tâm lý học, văn hóa học, xã hội học… quan tâm, nghiên cứu
và có cách tiếp cận, theo các cấp độ khác nhau. Do đó, khái niệm này được hiểu
rất rộng và không hoàn toàn thống nhất.
Ở góc độ tâm lý học, tính cộng đồng được nghiên cứu như là một đặc
điểm tâm lý của con người. Theo tác giả Đỗ Long, “Tính cộng đồng là một đặc
trưng tâm lý của nhóm, thể hiện năng lực phối hợp, kết hợp ở sự thống nhất các
thành viên trong hành động và làm cho các mối quan hệ qua lại của các hoạt
động diễn ra một cách nhịp nhàng nhất” [48, tr.46 – 47]. Cùng cách tiếp cận này,
tác giả Hofstede cho rằng: “Tính tập thể/ cộng đồng là một mô thức văn hóa theo
công ích, ý thức dân chủ làng xã; tình yêu quê hương đất nước, ý thức cộng đồng
dân tộc và tinh thần đại đoàn kết; truyền thống hợp tác tương trợ, tinh thần tập
thể - cộng đồng trong cách mạng và kháng chiến chống giặc ngoại xâm” [63,
tr.46]. Cách tiếp cận này cho thấy, mục tiêu, lợi ích của cộng đồng, sự gắn kết,
hợp tác tương trợ trong cộng đồng được coi trọng.
Theo cách tiếp cận này, tác giả Trần Ngọc Thêm định nghĩa: “Tính cộng
đồng là một sự liên kết các thành viên trong làng lại với nhau, mỗi người đều
hướng tới những người khác - nó là đặc trưng dương tính, hướng ngoại” [76,
tr.96].
Những quan niệm trên về tính cộng đồng đã phản ánh tính chất phức tạp
của khái niệm tính cộng đồng. Mỗi quan niệm đã chỉ ra được một hoặc một vài
đặc điểm nào đó của tính cộng đồng. Một số đề cập đến tính cộng đồng với tư
cách là một đặc điểm tâm lý của nhóm, số khác lại đề cập với tư cách là một đặc
điểm tâm lý của nhân cách. Điểm tương đồng trong quan niệm về tính cộng đồng
10
của các tác giả vừa nêu là ở chỗ, họ đều khẳng định tính cộng đồng là đặc điểm
tâm lý dân tộc, là một giá trị văn hóa, là tinh thần đoàn kết, tương trợ, giúp đỡ lẫn
nhau. Tuy nhiên, điểm khác biệt trong các quan niệm trên ở chỗ, trong khi một số
nhà khoa học nhấn mạnh tính cộng đồng ở góc độ tâm lý dân tộc, số khác lại
nhấn mạnh khía cạnh là đặc điểm tâm lý của nhân cách. Trong nghiên cứu này,
tính cộng đồng được tiếp cận chủ yếu với tư cách là một giá trị văn hóa với mục
đích tìm hiểu tính cách dân tộc Việt Nam.
Nghiên cứu tính cộng đồng của nông dân Việt Nam là một công việc
không dễ, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn quan trọng đối với việc hoàn thiện nhân
cách con người Việt Nam. Tính cộng đồng tạo nên tinh thần đoàn kết, tương
thân, tương ái là một trong những truyền thống quý báu nhất của dân tộc Việt
Nam. Truyền thống ấy đã góp phần tạo nên những kỳ tích trong lịch sử dựng
nước và giữ nước của nhân dân Việt Nam. Giá trị, truyền thống này có cội rễ sâu
xa từ phương thức sinh tồn và tổ chức xã hội truyền thống. Trải qua hàng nghìn
Như vậy, cơ sở hình thành tính cách nói chung và tính cộng đồng của con
người Việt Nam nói riêng chính là tồn tại xã hội của con người Việt Nam. Tồn
tại xã hội ấy là những điều kiện tự nhiên, điều kiện lịch sử, điều kiện kinh tế - xã
hội của Việt Nam.
Với những nhận thức trên chúng tôi quan niệm tính cộng đồng là sự liên
kết, hòa đồng, đoàn kết giữa người và người, tạo nên những cộng đồng (hay tập
thể nhất định), hoạt động với những mục đích và lợi ích chung. Tính cộng đồng
vừa phản ánh đặc điểm nhân cách, cách thức tổ chức của con người trong xã hội,
đồng thời phản ánh một đặc điểm trong quan hệ xã hội. Tính cộng đồng, một mặt
tạo nên sức mạnh để con người vừa có khả năng chống chọi với thiên nhiên, vừa
chống chọi với chính con người. Mặt khác, chính tính cộng đồng đó lại tạo nên
sự biệt lập nhất định giữa các cộng đồng người với nhau và, đôi khi, tính cộng
đồng lại thủ tiêu chính vai trò của cá nhân trong xã hội.
1.1.2. Cơ sở hình thành tính cộng đồng của nông dân Việt Nam khu vực
đồng bằng sông Hồng
Điều kiện tự nhiên
Đồng bằng sông Hồng là một châu thổ được bồi đắp nên bởi hai con sông
lớn của Việt Nam: sông Hồng và sông Thái Bình, bao gồm một số huyện của Phú
12
Thọ, Quảng Ninh, Thái Nguyên, Hòa Bình và các tỉnh Vĩnh Phúc, Bắc Giang,
Bắc Ninh, Hà Nội, Hưng Yên, Hải Dương, Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định,
Ninh Bình. Đặc trưng cơ bản về địa hình của đồng bằng sông Hồng là đất tương
đối thấp và cơ bản là bằng phẳng, dốc thoải từ Tây Bắc xuống Đông Nam. Tuy
nhiên, mỗi vùng cụ thể, địa hình cao thấp không đồng đều. Vùng địa hình cao vẫn
có những nơi trũng thấp, vùng địa hình thấp vẫn có những dải cồn cát nổi lên cao.
Khí hậu đồng bằng sông Hồng thuận lợi cho việc trồng lúa nước. Tuy
nhiên, so với đồng bằng miền Trung và miền Nam, khí hậu đồng bằng sông
Hồng có nét độc đáo riêng, với bốn mùa khá rõ nét và cũng rất thất thường. Mùa
đông thì lạnh giá, khô hạn, gây nên các trận hạn hán, đồng ruộng khô nẻ, có thể
mát những cánh đồng nhiều làng; những vùng đất mênh mông lấn ra biển cả…tất
cả chẳng là biểu tượng sáng ngời của tính cộng đồng dân tộc?” [45, tr.151]. Và
như vậy “đê là một công trình tập thể vĩ đại, một sản phẩm của quan hệ cộng
đồng làng xã ở Việt Nam” [87, tr.180].
Đê điều, hệ thống thủy lợi đòi hỏi sức lao động chung của nhiều người,
của nhiều cộng đồng mà trước hết là của những người dân làng: “Chúng đòi hỏi
sức lao động không phải của một người mà của nhiều người, hoặc trước hết là
của một tập thể xã dân nhất định. Điều đó không phải chỉ do khối lượng to lớn
phải hoàn thành của nó quyết định, mà còn do tác dụng của nó ảnh hưởng tới
quyền lợi không phải của một người mà của rất nhiều người kế tiếp nhau quyết
định” [87, tr.180 – 181]. Công việc này không chỉ làm một lần là xong mà phải
không ngừng đắp mới, tu bổ, sửa chữa từ năm này qua năm khác, từ thế hệ này
đến thế hệ khác, đời nối đời kế tiếp nhau. Vì vậy, từ bao đời nay, việc trị thủy
luôn là công việc quan trọng của nhà nông và của cả dân tộc. Là người Việt,
chúng ta đã rất quen với những kinh nghiệm mà cha ông để lại: Nước - Phân -
Cần - Giống hoặc nói một cách khẳng định hơn, văn vẻ hơn đó là “Nhất Nước,
nhì Phân, tam Cần, tứ Giống”. Vì thế, trong dân gian, “giặc thủy” luôn được xếp
là nạn lớn số một, truyện Sơn Tinh Thủy Tinh chính là kết quả của sự hình tượng
hóa công việc trị thủy vô cùng khắc nghiệt, một mất một còn của con người Việt
Nam nói chung và nông dân Việt Nam khu vực đồng bằng sông Hồng nói riêng.
14
Thực tế cho thấy, để tồn tại, điều kiện đầu tiên là con người phải gắn bó
với nhau trong lao động, trong cuộc sống hàng ngày. Do vậy, người dân Việt
Nam ở đây, từ xưa đến nay đã phải lao động trong những hoàn cảnh khó khăn,
đồng cam cộng khổ, tương trợ giúp đỡ lẫn nhau để vượt qua hoàn cảnh sống khắc
nghiệt. Lịch sử phát triển Việt Nam từ Bắc tới Nam cho thấy, nếu con người
không đùm bọc nhau, không yêu thương nhau thì không thể tồn tại. Trong gian
khổ, con người càng phải nương tựa vào nhau để sống, đấu tranh bảo vệ thành
quả lao động của mình. Gắn bó với nhau trong lao động như vậy, con người càng
động trị thủy, thủy lợi chung. Trên cơ sở cuộc sống cộng đồng xóm làng và
những hoạt động chung này, tính cộng đồng của nông dân được hình thành và
củng cố trong lịch sử.
Điều kiện lịch sử
Việt Nam nằm ở ngã ba của khu vực Đông Nam Á, nối liền hai đại dương
là Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương, đồng thời là đầu cầu để mở vào Đông
Nam Á theo hướng Ấn Độ và Trung Quốc. Đây là điều kiện thuận lợi để phát
triển, mở rộng giao lưu với nhiều nước trong khu vực và quốc tế. Từ vị trí địa lý
đặc biệt quan trọng như vậy nên Việt Nam thường xuyên bị các thế lực ngoại xâm
đe dọa thôn tính. Dân tộc Việt Nam luôn phải gồng mình đối phó, đấu tranh chống lại
các thế lực ngoại xâm từ phương Bắc và sau đó là chống các đế quốc hùng mạnh khác
từ phương Tây.
Một đất nước đất không rộng, người không đông, muốn đánh thắng được
những đội quân xâm lược hùng mạnh nhất thế giới thì trước hết phải có tinh thần
đoàn kết, tính cộng đồng dân tộc cao. Điều đó đã trở thành một truyền thống quý
báu, không chỉ trong công cuộc dựng nước mà còn là truyền thống trong công
cuộc giữ nước của dân tộc Việt Nam.
Sống trong điều kiện một đất nước luôn luôn phải có ý thức thường trực
chống nạn ngoại xâm, người Việt Nam nói chung và người Việt vùng đồng bằng
sông Hồng nói riêng luôn tìm sức mạnh vật chất và tinh thần qua tính cộng đồng,
thể hiện tập trung cao độ của tính cộng đồng là tình đoàn kết. Do vậy, tính cộng
đồng, tinh thần đoàn kết dân tộc của người Việt Nam được hình thành từ rất sớm,
16
trong quá trình phát triển của lịch sử. Tinh thần ấy ngày càng được phát triển,
củng cố vững chắc, tạo nên truyền thống bền vững thấm sâu vào tình cảm, tâm
hồn của mỗi con người xứ Việt. Tinh thần ấy, ý thức ấy tạo nên sức mạnh vô địch
của dân tộc để chiến thắng mọi thiên tai, địch họa. Điều này đã được đúc kết và thể
hiện trong triết lý: “Một cây làm chẳng lên non, Ba cây chụm lại lên hòn núi cao”.
Cơ sở của tính cộng đồng là tinh thần đoàn kết trong chiến đấu chống
sống, làm nảy sinh ý thức và tình cảm đối với dân tộc, sớm phát triển chủ nghĩa
yêu nước, chủ nghĩa anh hùng dân tộc, ý chí độc lập dân tộc, ý thức cộng đồng
dân tộc và tinh thần quật cường, bất khuất của dân tộc Việt Nam nói chung và
người nông dân Việt Nam khu vực đồng bằng sông Hồng nói riêng.
Từ thuở Hùng Vương, khi cùng lúc phải chống trọi và thích nghi với thiên
nhiên nghiệt ngã vừa liên tiếp đương đầu với nhiều kẻ thù xâm lược, người Việt
nói chung và người nông dân nói riêng đã có ý thức cộng đồng dân tộc và chủ
quyền đất nước. Đúng như một nhà nghiên cứu đã viết: “Thời Bắc thuộc, ý thức
cộng đồng dân tộc ngày càng trở nên rõ nét, nhất là trong bối cảnh nước ta có
nguy cơ bị đồng hóa một cách vĩnh viễn. Không phải ngẫu nhiên mà truyền
thuyết trăm bọc trăm trứng, các dân tộc Việt đều từ cùng một bọc mà ra (đồng
bào) lúc này xuất hiện” [30, tr.44]. Đó chính là nhờ con người Việt Nam đã sớm
có lòng tự hào dân tộc, có ý thức về chủ quyền dân tộc, ý thức về văn hóa, về
lãnh thổ, về truyền thống dân tộc. Những yếu tố này đã thấm sâu vào tư tưởng
của mỗi con người Việt Nam hình thành nên bản lĩnh dân tộc. Mặc dù phong
kiến phương Bắc có nền văn hóa và trình độ cao hơn, luôn muốn bành trướng
xâm lược, đồng hóa cưỡng bức các dân tộc khác. Trong thực tế, các thế lực
phương Bắc đã đồng hóa được nhiều dân tộc cổ đại, duy chỉ có dân tộc Việt
Nam, sau hơn 1.000 năm đô hộ mà vẫn không hề bị đồng hóa. Việt Nam là điểm
dừng trong sự nghiệp mở rộng bờ cõi của đế chế Trung Hoa về phía Nam, đã
vượt qua những thảm họa lớn mà có lúc tưởng chừng như không thể vượt qua để
trở về với chính mình, bảo tồn toàn vẹn bờ cõi, bảo tồn toàn vẹn nền văn hóa và
tâm hồn người Việt.
18
Tinh thần yêu nước, ý thức cộng đồng của con người Việt Nam được biểu
hiện mạnh mẽ trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc, không chỉ trong 1.000 năm
Bắc thuộc, mà còn đến cả các triều đại phong kiến về sau, đặc biệt hơn cả là
trong cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ giành lại nền độc lập dân tộc.
Suốt 4.000 năm lịch sử, đã có thế kỷ nào dân tộc Việt Nam lại ngừng đấu tranh vì
Chế độ ruộng công làng xã có nguồn gốc lâu đời, gắn với quá trình hình
thành và phát triển của làng Việt. Giai đoạn đầu, khi tổ tiên người Việt tiến
xuống định cư ở miền đồng bằng, thì lúc ấy ruộng đất vẫn thuộc về toàn bộ dân
làng. Thời kỳ đầu, việc chế tác công cụ còn ở trình độ rất thấp, lao động sản xuất
được tiến hành như những hoạt động chung, trên những ruộng đất chung thì ý
thức cộng đồng và tâm lý cộng đồng làng biểu hiện rất mạnh. Thời kỳ Văn Lang
- Âu Lạc, mặc dù thư tịch cổ cho biết có “ruộng lạc” và “dân lạc”; có “lạc dân
cày ruộng”, “lạc hầu ăn ruộng”; và có dấu hiệu của chế độ nô tỳ sơ khai, nhưng
trên thực tế, làng vẫn là chủ sở hữu của hầu hết ruộng đất. Ruộng đất của làng được
chia cho dân làng cày cấy theo nguyên tắc bình đẳng. Làng giữ lại một phần ruộng đất
cày cấy chung phục vụ những nhu cầu công cộng và đóng góp để nuôi lạc hầu, lạc
tướng. Tình hình sở hữu làng xã đó kéo dài mãi sang thời kỳ đầu Bắc thuộc.
Trong thời Bắc thuộc, về danh nghĩa, toàn bộ đất đai trong cả nước thuộc
về nhà vua xâm lược. Tuy nhiên, do không can thiệp được vào đời sống làng xã
nên hầu như quyền sở hữu thực sự đối với ruộng đất vẫn thuộc về làng. Chế độ
ruộng đất công của làng Việt về cơ bản không có gì thay đổi. Việc cùng nhau
chiếm hữu toàn bộ ruộng đất, cùng nhau phân chia quyền sử dụng cũng như
quyền cày cấy trên mảnh đất tổ tiên làng để lại, hưởng những hoa lợi trên mảnh
đất chung đó đã góp phần tạo nên tính cộng đồng giữa những người nông dân từ
đời này sang đời khác, kéo dài hàng mấy nghìn năm.
Sau khi đất nước giành độc lập, nhà nước trung ương tập quyền đứng đầu
là nhà vua tuyên bố quyền sở hữu tối cao của mình đối với ruộng đất. Nhưng trên
thực tế, nhà vua vẫn phải thông qua làng để thực hiện quyền sở hữu tối cao đó.
Nhà nước vẫn phải để cho làng những quyền khá lớn trong việc quản lý và phân
phối ruộng đất. Ngoại trừ ruộng quốc khố là ruộng do nhà nước trực tiếp quản lý
20
và tổ chức sản xuất, làng vẫn là người phân chia ruộng đất công làng xã theo tục
lệ của mình. Trong quá trình cai trị, nhà nước phong kiến nhận thức được vai trò
quan trọng của ruộng đất công trong việc giữ gìn sự thống nhất quốc gia, chống
Ngoài ruộng đất công thuộc sở hữu của nhà nước do làng quản lý, làng
còn có một loại ruộng khác thuộc toàn quyền sở hữu của làng. Đó là bản xã công
điền công thổ. Ở miền Bắc trước đây, hầu như làng nào cũng có loại ruộng này
(trừ làng làm nghề đánh cá), với số lượng không nhiều từ vài mẫu đến vài ba
chục mẫu. Nguồn gốc của bản xã công điền công thổ có thể là ruộng của vua ban
cho làng khi sắc phong Thành Hoàng để làng dùng vào việc tế lễ; có thể làng tự ý
trích một phần ruộng công của nhà nước, những ruộng đó lâu dần trở thành ruộng
của làng; có thể là ruộng tư nhân cúng cho làng để được làng khói hương sau khi
chết (ruộng hậu); có thể do dân làng góp tiền mua, hoặc làng lấy tiền bán chức
sắc để mua…Ngoài ra, trong làng thường có một bộ phận đất đai không ghi trong
sổ điền bạ như đất bến, bãi, đất chợ, ao, đầm, khe, suối, gò đồi…Số ruộng đất
này thường cho thuê hoặc bán đấu giá lấy tiền dùng vào việc chung.
Sự tồn tại lâu dài của chế độ ruộng công làng xã, bao gồm sự thừa nhận
trên thực tế quyền lực khá lớn của làng trong việc sử dụng số ruộng đất thuộc
quyền sở hữu của làng và của nhà nước theo cách riêng của mình, trong đó làng
dựa vào tục lệ của mình nhiều hơn là dựa vào pháp luật của nhà nước. Đây là cơ
sở kinh tế quan trọng góp phần hình thành và củng cố tính cộng đồng làng.
Một vấn đề nữa mà chúng ta nói đến đó là nền kinh tế tự cấp, tự túc.
Nông dân là lực lượng lao động trong nông nghiệp. Khi nói đến phương thức lao
động của nông dân tức là nói đến tính chất, trình độ lao động và cả những loại
hình lao động, sản xuất mà nông dân thực hiện để tạo ra của cải, duy trì sự tồn tại
của chính mình. Trong lịch sử của dân tộc Việt Nam, lao động của người nông
dân luôn mang tính chất cá thể, với kỹ thuật canh tác lạc hậu, dựa vào kinh
nghiệm và thói quen. Điều này có phần nào cho thấy, nông dân Việt Nam có
điểm giống với nông dân các nước phương Tây, trong nhận định của C.Mác:
“Mảnh đất cỏn con, người nông dân và gia đình anh ta; cạnh đó lại một mảnh đất
cỏn con khác, một nông dân khác và một gia đình khác. Một nhóm những đơn vị