Chuyên đề thực tập
Khoa Toán Kinh Tế
MỤC LỤC
SV: Nguyễn Văn Trung
Lớp: Toán Tài chính 49
Chuyên đề thực tập
Khoa Toán Kinh Tế
LỜI MỞ ĐẦU
Chỉ trong vòng 4 năm kể từ khi Việt Nam gia nhập WTO – thời điểm nền kinh
tế chuyển biến mạnh mẽ theo hướng hội nhập, chúng ta đã chứng kiến những biến
đổi đa dạng. Trong tất cả những biến chuyển đó, từ lĩnh vực xuất nhập khẩu, cổ
phần hóa, thị trường bất động sản, thị trường chứng khoán, các chính sách về tỷ giá
và lãi suất,… càng ngày càng nhận thấy rõ vai trò của đầu tư tài chính với tư cách
vừa là động lực, vừa là sự thụ hưởng từ sự phát triển và suy thoái của nền kinh tế.
Kể từ ngày chính thức khai trương Trung tâm giao dịch chứng khoán thành
phố Hồ Chí Minh (nay là Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh) vào
07/2000, thị trường chứng khoán Việt Nam đã trải qua gần 11 năm hoạt động. Quy
mô thị trường ngày càng được mở rộng với số lượng công ty niêm yết ngày càng
tăng trên cả hai sàn giao dịch Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Trong mấy năm
gần đây, chúng ta đã chứng kiến thị trường có nhiều thăng trầm, với rất nhiều cơ hội
cho các chủ thể tham gia vào thị trường nhưng cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro khó lường.
Việc thị trường chứng khoán tăng giá cực mạnh vào cuối năm 2006 và đầu năm
2007 đã gây ra nhiều luồng nhận định về giá trị các tài sản đầu tư này. Trong cơn
phấn khích của thị trường, nhiều nhà đầu tư đã bỏ qua những cảnh báo của các
chuyên gia phân tích về giá trị cổ phiếu, thậm chí còn cho rằng không có giá trị ảo,
chỉ có giá trị thật đang được giao dịch trên thị trường, và mọi phân tích là xa rời
thực tế. Thế nhưng, sự suy thoải của thị trường chứng khoán đã khiến nhà đầu tư
mất đến 70% - 80% tài sản, rồi sự phát nổ của bong bóng của thị trường vào năm
2008. Trước bối cảnh đó, các nhà đầu tư khi tham gia vào thị trường chứng khoán
cũng tỏ ra lo ngại và dè dặt hơn. Nếu như trước đây phần lớn các nhà đầu tư cá
nhân chạy theo tâm lý bày đàn là chính thì hiện nay họ quan tâm nhiều hơn tới các
Tôi xin chân thành cám ơn!
SV: Nguyễn Văn Trung
Lớp: Toán Tài chính 49
2
Chuyên đề thực tập
Khoa Toán Kinh Tế
CHƯƠNG I
LÝ THUYẾT PHÂN TÍCH VÀ ĐỊNH GIÁ CỔ PHIẾU
1.Giá hợp lý và giá thị trường của cổ phiếu
1.1.Giá thị trường của cổ phiếu
Cổ phiếu phổ thông của công ty niêm yết là một loại tài sản tài chính được
giao dịch trên thị trường nên có “ giá “ do thị trường xác định tại từng thời điểm.
Các mức giá của cổ phiếu biểu hiện trên thị trường tại các thới điểm khác nhau gọi
là giá thị trường (thị giá).
Thị giá của cổ phiếu phụ thuộc vào nhiều yếu tố, tuy nhiên nhân tố tác động
chính tới thị giá là quan hệ cung cầu cổ phiêu trên thị trường.
1.2.Giá hợp lý của cổ phiếu
1.2.1.Khái niệm
Giá hợp lý của cổ phiếu còn được gọi là “giá nội tại” là mức giá thể hiện một
bộ phận giá trị của công ty niêm yết. Công ty có giá trị cao thì cổ phiếu có giá trị
cao và ngược lại.
1.2.2.Đo lường giá hợp lý của cổ phiếu
Khi nhà đầu tư nắm giữ cổ phiếu, họ kỳ vọng vào thu nhập trong tương lai mà
cổ phiếu đó mang lại, do đó giá cổ phiếu phải thể hiện luồng thu nhập tương lai đó.
Để xác định giá cổ phiếu tại một thời điểm hiện tại cần xác định giá trị hiện tại của
luồng thu nhập tương lại từ cổ phiếu. Đây cũng là nguyên tắc chung cho mọi mô
hình định giá.
Thông thường hai mức giá: thị giá và giá hợp lý sai lệch nhau. Nếu thị giá cao
(thấp) hơn giá hợp lý thì cổ phiếu đang được thị trường định giá cao (thấp). Nếu mà
hai mức giá trùng nhau thì cổ phiếu được thị trường định giá đúng.
nhưng tùy vào đặc thù của từng công ty mà chịu ảnh hưởng khác nha. Một vài yếu
tố vĩ mô quan trọng như:
-Tổng sản phẩm quốc nội (GDP)
-Chính sách lãi suất và lạm phát
-Tỷ giá hối đoái
-Việc làm
Phân tích ngành
Các ngành có khả năng phản ứng khác nhau với những thay đổi của các yếu tố
vĩ mô. Triển vọng của ngành trong nền kinh tế quyết định kết quả của mỗi công ty
SV: Nguyễn Văn Trung
Lớp: Toán Tài chính 49
4
Chuyên đề thực tập
Khoa Toán Kinh Tế
trong ngành có thể đạt được. Do đó, việc phân tích ngành diễn ra trước việc phân
tích công ty. Phân tích ngành cần tính toán các chỉ số trung bình ngành làm mốc so
sánh với chỉ số của từng công ty trong ngành và so sánh với các ngành khác trong
quốc gia hay trong khu vực kinh tế đó.
2.2.2.2.Các yếu tố vi mô – phân tích công ty
Trong phân tích công ty, ta phân tích các yếu tố tài chính và phi tài chính của
công ty. Việc phân tích tài chính công ty nhằm đánh giá tình hình tài chính của một
doanh nghiệp, đánh giá rủi ro, mức độ và chất lượng hiệu quả hoạt động của doanh
nghiệp đó, khả năng và tiềm lực của doanh nghiệp, giúp người sử dụng thông tin
đưa ra các quyết định tài chính, quyết định quản lý phù hợp. Phân tích tài chính tiếp
tục nghiên cứu và đưa ra những dự đoán về kết quả hoạt động nói chung và mức
doanh lợi nói riêng của doanh nghiệp trong tương lai. Nói cách khác, phân tích tài
chính là cơ sở để dự đoán tài chính - một trong các hướng dự đoán doanh nghiệp.
Ngoài ra, khi phân tích chúng ta cần chú ý tới các yếu tố phi tài chính.Việc nghiên
cứu các yếu tố này giúp chúng ta có cái nhìn tổng quan hơn nữa về công ty. Điều
này đặc biệt quan trọng đối với những nền kinh tế đang phát triển, khi mà thông tin
Giá trị thương hiệu và hệ thống phân phối
Thương hiệu và hệ thống phân phối cho biết sự phát triển của công ty. Sẽ
chẳng một công ty nhỏ nảo nào mà mọi người đều biết tới thương hiệu của nó và
công ty đó lại có hệ thống phân phối rộng khắp. Một công ty có thương hiệu tốt thì
cổ phiếu của nó cũng sẽ hấp dẫn nhà đầu tư hơn.
Hệ số thanh toán ngắn hạn (hiện hành)
Tỷ lệ khả năng thanh toán ngắn hạn là thước đo khả năng thanh toán ngắn hạn
của doanh nghiệp, nó cho biết mức độ các khoản nợ của các chủ nợ ngắn hạn được
trang trải bằng các tài sản có thể chuyển thành tiền trong một giai đoạn tương ứng
với thời hạn của các khoản nợ đó.
Hệ số thanh toán hiện hành
(ngắn hạn)
=
Tài sản lưu động
Nợ ngắn hạn
Tỷ lệ này có giá trị càng cao thì khả năng thanh toán nợ ngắn hạn của doanh
nghiệp càng tốt và ngược lại. Nêú khả năng thanh toán chung nhỏ hơn 1 thì doanh
nghiệp không đủ khả năng thanh toán nợ ngắn hạn. Tuy nhiên, nếu con số này quá
cao thì có nghĩa là doanh nghiệp đã đầu tư quá nhiều vào tài sản lưu động so với
nhu cầu. . Vì thế mà việc đầu tư đó sẽ kém hiệu quả
SV: Nguyễn Văn Trung
Lớp: Toán Tài chính 49
6
Chuyên đề thực tập
Khoa Toán Kinh Tế
Hệ số thanh toán nhanh
Hàng tồn kho là tài sản khó chuyển thành tiền hơn trong tổng tài sản lưu động
và dễ bị lỗ khi đem bán. Do vậy, tỷ lệ khả năng thanh toán nhanh cho biết khả năng
hoàn trả các khoản nợ ngắn hạn không phụ thuộc vào việc bán dự trữ (tồn kho).
Hệ số thanh toán nhanh
Lớp: Toán Tài chính 49
7
Chuyên đề thực tập
Khoa Toán Kinh Tế
này được các chủ nợ quan tâm.
Vòng quay khoản phải thu
Vòng quay khoản phải thu =
Doanh thu thuần
Khoản phảthu bình quân
Tỷ số cho biết tốc độ thu hồi vốn của doanh nghiệp
Vòng quay hàng tồn kho
Vòng quay hàng tồn kho =
Giá vốn hàng bán
Hàng tồn kho bình quân
Chỉ tiêu vòng quay hàng tồn kho phản ánh số lần hàng tồn kho được bán ra
trong kỳ kế toán và có ảnh hưởng trực tiếp đến nhu cầu vốn luân chuyển. Con số
này càng cao chứng tỏ khả năng bán ra càng lớn. Tuy nhiên, khi phân tích cũng cần
phải chú ý đến những nhân tố khác ảnh hưởng đến hệ số quay vòng tồn kho như
việc áp dụng phương thức bán hàng, kết cấu hàng tồn kho, thị hiếu tiêu dùng, tình
trạng nền kinh tế, đặc điểm theo mùa vụ của doanh nghiệp, thời gian giao hàng của
nhà cung cấp
Vòng quay tài sản lưu động
Vòng quay vốn lưu động =
Doanh thu thuần
Vốn lưu động
Chỉ tiêu này cho biết vốn lưu động quay được mấy vòng trong kỳ. Nếu số
vòng quay tăng chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn tăng và ngược lại. Chỉ tiêu này còn
được gọi là hệ số luân chuyển. Đẩy nhanh tốc độ luân chuyển vốn sẽ góp phần giải
quyết nhu cầu về vốn cho doanh nghiệp, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
Vòng quay tổng tài sản
Chỉ tiêu cho biết một đồng vốn chú sở hữu bỏ ra kiếm được bao nhiêu đồng lợi
nhuận sau thuế. Chỉ tiêu này khá quan trọng với các nhà đầu tư khi họ quyết định
đầu tư vào doanh nghiệp.
2.3.Phân tích kỹ thuật
2.3.1. Khái niệm
Là phương pháp dựa vào biểu đồ, đồ thị diễn biến giá cả và khối lượng giao
dịch của cổ phiếu nhằm phân tích các biến động cung cầu đối với cổ phiếu để chỉ ra
cách ứng xử trước mắt đối với giá cả, tức là chỉ cho nhà phân tích thời điểm nên
mua vào, bán ra hay giữ nguyên cổ phiếu trên thị trường.Vì vậy, nhà phân tích kỹ
thuật chủ yếu dựa vào nghiên cứu biến động giá thị trường của cổ phiếu, và tập
trung nhấn mạnh vào hành vi biến động về giá và về khối lượng giao dịch cũng như
các xu hướng của hành vi giá và khối lượng đó.
Để thực hiện được phân tích kỹ thuật, cần có các giả định mấu chốt là:
• Hành vi của bất kỳ cổ phiếu nào, hoặc của cả thị trường cổ phiếu, đều có thể
liên quan đến xu hướng diễn biến theo thời gian, trong đó xu hướng là phương
SV: Nguyễn Văn Trung
Lớp: Toán Tài chính 49
9
Chuyên đề thực tập
Khoa Toán Kinh Tế
hướng chính đi lên hay đi xuống của cổ phiếu (hoặc cả thị trường cổ phiếu)
• Biến động giá không phải là ngẫu nhiên mà chúng xảy ra dưới các dạng thức
có thể được phân tích để dự đoán biến động tương lai
• Biến động thị trường được phản ánh tất cả trong giá cổ phiếu
• Lịch sử được lặp lại do bản chất của con người (nhà đầu tư) là không đổi nên
sẽ lặp lại những hành vi giống nhau trước những tình huống tương tự, và điều đó
dẫn đến các xu hướng giá cả lặp lại.
Để thực hiện phân tích kỹ thuật, nhà đầu tư phải dựa vào hình ảnh các đồ thị,
trong đó trục tung biểu thị giá cổ phiếu và trục hoành biểu thị đường thời gian, với
nhiều dạng như đồ thị đường thẳng (line chart), đồ thị dạng vạch (bar chart), hoặc
MA là chỉ báo được dùng thường xuyên trong phân tích kỹ thuật. MA hiển thị
giá trị trung bình của giá chứng khoán trên số phiên giao dịch được xét. MA được
sử dụng để đo lường đà tăng giá hoặc giảm giá hay cũng có thể dùng để định nghĩa
những vùng hỗ trợ hay kháng cự thích hợp và hợp lý với tình hình hiện tại. Đường
trung bình MA có các kiểu phổ biến sau:
• Đường trung bình đơn giản - Simple Moving Average (SMA): SMA được
xem là công cụ phân tích kỹ thuật phổ biến và được nhiều người tin dùng nhất.
SMA được sử dụng phần lớn vào việc nhận biết hướng đi của xu hướng đường giá.
Nhưng đôi khi cũng được sử dụng để phát hiện những tín hiệu mua và bán. SMA là
giá trị trung bình mang tính chất thống kê.
• Đường trung bình theo số mũ - Exponential Moving Average (EMA): EMA
có tác dụng để đo sức nặng giá hiện hành xem coi có nặng hơn giá trong quá khứ
hay không? EMA có thể đánh giá nhanh sự dao động giá hơn là đường SMA. Chính
vì thế nó cũng có nhiều điểm bất lợi hơn bởi vì EMA có độ dốc hơn đường SMA
(cho nhiều tín hiệu sai).
• Đường trung bình theo trọng lực - Weighted Moving Average (WMA):
WMA khá quan trọng trong việc nhận biết sự vận động của đường giá ở thời
điểm mới nhất. Vì thế WMA có tách dụng hiển thị sự biến động giá rõ nét hơn là
đường SMA.
• Đường trung bình ba bên TMA - Triangular Moving Average (TMA): TMA
cũng giống như đường SMA nhưng được làm cho mượt mà hơn, uyển chuyển hơn.
Thông thường thì đường SMA cũng đã khá mượt nhưng TMA sẽ làm cho nó uyển
chuyển giống như cơn sóng vậy.
2.3.2.3. Dải Bollinger ( Bollinger Bands)
Bollinger Bands là công cụ kết hợp giữa đường trung bình động Moving
SV: Nguyễn Văn Trung
Lớp: Toán Tài chính 49
11
Chuyên đề thực tập
Khoa Toán Kinh Tế
Lớp: Toán Tài chính 49
12
Chuyên đề thực tập
Khoa Toán Kinh Tế
thì đây là một sự xác nhận chắc chắn việc tăng hoặc giảm giá sẽ tiếp tục diễn ra với
cường độ di chuyển của đường giá là rất mạnh.
• Khi đường giá đang tăng hoặc giảm và có sự suy giảm về khối lượng giao
dịch thì điều này thể hiện cường độ di chuyển của đường giá là khá yếu. Bởi vì khi
đường giá di chuyển với 1 chút cường độ thì chỉ làm cho những nhà đầu cơ quan
tâm đến nó mà thôi.
3.Các mô hình định giá cổ phiếu
3.1.Phương pháp định giá cổ phiếu trên cổ tức – Mô hình chiết khấu cổ
tức (Divident Discount Model – DDM)
Theo quan điểm chặt chẽ nhất, khi bạn nắm giữ cổ phiếu của một công ty giao
dịch công khai thì cổ tức là dòng tiền duy nhất bạn nhận được. Mô hình đơn giản
nhất để định giá vốn cổ phần là mô hình chiết khấu luồng cổ tức (DDM). Mô hình
là công cụ hữu ích để định giá nhiều công t
3.1.1.Cơ sở lý thuyết và các giả thiết
Khi mua cổ phiếu, nhà đầu tư thường kỳ vọng sẽ nhận được hai loại dòng tiền
là dòng cổ tức trong suốt thời gian nắm giữ và một mức giá cổ phiếu kỳ vọng tại
thời điểm kết thúc thời gian nắm giữ. Cơ sở của mô hình nằm ở quy luật giá trị hiện
tại – giá trị của một tài sản bất kỳ là giá trị hiện tại của tất cả dòng tiền kỳ vọng
tương lai, được chiết khấu tại một tỷ suất chiết khấu tương ứng với độ rủi ro của
dòng tiền được chiết khấu. Các giả thiết của mô hình:
• (chi phí vốn cổ phần) là hằng số
• Các quá trình {k
t
}, {d
t
}, {P
+
=
11
1
Cho T → +∞, ta có công thức định giá theo DDM:
SV: Nguyễn Văn Trung
Lớp: Toán Tài chính 49
13
Chuyên đề thực tập
Khoa Toán Kinh Tế
P
0
=
( )
( )
∑
+
∞+
=
1
1
t
t
t
k
d
e
E
Ký hiệu:
=
( )
∑
+
+∞
=
1
1
t
t
k
e
d
= d =
k
e
d
Có thể dễ dàng nhận ra rằng, mô hình không phù hợp với thực tế khi mà giả
thiết là cổ tức sẽ được chi trả bằng nhau trong mọi giai đoạn.
3.1.4.Mô hình DDM trong trường hợp cổ tức tăng trưởng đều - Mô hình
Gordon
Mô hình này do M.J Gordon đưa ra vào năm 1962 dựa trên giả thiết cổ tức
tăng trưởng đều đặn với nhịp tăng trưởng g, nghĩa là:
d
t
= (1 + g)*d
t-1
d
t
= (1+ g)
( )
∑
+
+
∞+
=
1
1
1
t
t
t
k
g
e
SV: Nguyễn Văn Trung
Lớp: Toán Tài chính 49
14
Chuyên đề thực tập
Khoa Toán Kinh Tế
Nếu giả thiết >g ta có:
P
0
=
( )
( )
g
g
k
d
Công thức mô hình DDM hai giai đoạn:
( ) ( ) ( )
1
0
1
1 1
T
t
T
t T
t
p
e e e
d
d
g
k k k
+
=
= +
∑
+ − +
Những hạn chế của mô hình:
• Việc xác định độ dài của giai đoạn tăng trưởng bất thường.
• Sự thay đổi đột ngột của tỷ lệ tăng trưởng trong 2 giai đoạn là ít thực tế, và
sẽ thực tế hơn nếu chúng ta cho rằng nó diễn ra từ từ qua thời gian.
SV: Nguyễn Văn Trung
Lớp: Toán Tài chính 49
15
Chuyên đề thực tập
∞+
=
=
11
11
*
t
t
t
t
t
t
t
k
EPS
P
k
d
ee
(1)
Trong đó: không đổi, EPS được giả định tăng trưởng nên
EPS
t
= EPS
t-1
* (1 + )
Thay vào mô hình (1) ta được:
P
0
=
16
Chuyên đề thực tập
Khoa Toán Kinh Tế
Chia cả 2 về cho ta có:
P/E
chuẩn
=
EPS
P
0
0
=
( )
( )
∑
+
∏
+
∞+
=
∞
=
∗
1
1
1
1
t
t
t
T: Số năm trong giai đoạn đầu.
Tương tự cách thức xây dựng hệ số chuẩn trong hai trường hợp trên (dựa vào
công thức định giá trong mô hình chiết khấu luồng cổ tức tương ứng và cách thức
biểu diễn EPS qua các thời kỳ theo tốc độ tăng trưởng), ta có hệ số P/E
chuẩn
được xác
định theo công thức sau:
P/E
chuẩn
=
( )
( )
∑
+
∏
+
=
=
T
t
t
T
t
t
k
g
P
e
E
t
1
11
Phương pháp định giá tương đối được sử dụng khá phổ biến với mốt số lý do sau:
• Quy trình định giá dựa trên bội số và các công ty so sánh đòi hỏi ít giả định
hơn và nhanh gọn hơn so với phương pháp dòng tiền chiết khấu.
• Phương pháp này dễ hiểu và dễ trình bày hơn.
SV: Nguyễn Văn Trung
Lớp: Toán Tài chính 49
17
Chuyên đề thực tập
Khoa Toán Kinh Tế
Tuy nhiên còn một số hạn chế của mô hình:
• Khi EPS âm thì mô hình sẽ không có ý nghĩa kinh tế.
• EPS có thể bị bóp méo, hoặc ẩn chứa dưới nhiều con số, phụ thuộc vào cách
thức làm sổ sách kế toán của doanh nghiệp.
• Tỷ lệ P/E có khuynh hướng thấp hơn trong suốt thời gian lạm phát cao bởi
lợi nhuận đã bị bóp méo đi, lớn hơn với con số thực tế.
• Chỉ số P/E hiện tại cao hay thấp không nói lên điều gì khi không so sánh với
tốc độ tăng trưởng lợi nhuận và thu nhập dự kiến của công ty.
3.3. Ước lượng các tham số trong mô hình DDM và mô hình P/E
3.3.1. Ước lượng tỷ lệ tăng trưởng g
Giá trị của công ty là giá trị hiện tại của dòng tiền mà công ty kỳ vọng sẽ tạo ra
trong tương lai. Việc ước lượng tỷ lệ tăng trưởng là rất quan trọng, vì trên cơ sở đó
có thể dự tính doanh thu & lợi nhuận của công ty trong tương lai. Có nhiều phương
pháp để ước lượng tỷ lệ g:
• Nhìn lại tốc độ tăng trưởng thu nhập của công ty trong quá khứ - tỷ lệ tăng
trưởng lịch sử. Dữ liệu này sẽ hữu ích với các công ty ổn định, và không phù hợp
với công ty tăng trưởng cao.
• Dựa vào các yếu tố cơ bản của công ty. Ở đây ta có công thức sau:
1 1
= giá trị sổ sách của vốn cổ phần năm (t-1)
Nếu ROE không đổi (
1t t
ROE ROE ROE
−
= =
) thì có công thức:
t
g
= LNGL * ROE
Nếu ROE thay đổi thì
SV: Nguyễn Văn Trung
Lớp: Toán Tài chính 49
18
Chuyên đề thực tập
Khoa Toán Kinh Tế
t
g
= LNGL *
t
ROE
+
1
( ) /
t t t
ROE ROE ROE
−
−
3.3.2. Ước lượng chi phí vốn cổ phần Ke
Chi phí vốn cổ phần là mức lợi nhuận mà nhà đầu tư yêu cầu đối với khoản
Hệ số beta theo dữ liệu lịch sử:đây là phương pháp phổ biến nhất để tính
beta, những công ty phát hành công phiếu ra công chúng trong một thời gian dài
không khó khăn gì khi tính beta bằng cách hồi quy lợi suất của cổ phiếu đó (Rj) với
tỷ suất lợi nhuận của thị trường (Rm): Rj = a + b*Rm và hệ số góc của phương trình
hồi quy tương ứng với hệ số beta của cổ phiếu.
Hệ số beta cơ bản: dựa vào các đặc trưng của công ty như:loại hình kinh
doanh, hệ số đòn bẩy kinh doanh và hệ số đòn bẩy tài chính. Khi tách các beta thành
hai thành phần là rủi ro lĩnh vực kinh doanh và đòn bẩy tài chính, chúng ta sẽ có
một phương pháp khác để ước tính beta của một công ty hoặc một tài sản.
3.3.2.2. Mô hình APT
SV: Nguyễn Văn Trung
Lớp: Toán Tài chính 49
19
Chuyên đề thực tập
Khoa Toán Kinh Tế
Việc ước lượng
i
r
và coi đó là Ke. Mô hình APT sẽ được trình bày chi tiết tại
chương V-Mô hình đa nhân tố và lý thuyết định giá cơ lợi trong sách Mô hình phân
tích và định giá tài sản tài chính của PGS-TS Hoàng Đình Tuấn.
3.3.2.3. Sử dụng kết hợp CAPM và phân tích tài chính công ty
Đó chính là việc kết hợp giữa CAPM và M&M với một số công thức quan
trọng như sau:
Mô hình M&M Mô hình CAPM
)(1 )
W (1 )
b f
s b c
c
= − τ +
Từ đó rút ra công thức:
(1 (1 ) )
L U c
B
S
β = β + −τ
Khi đó ta sẽ coi Ks chính là chi phí vốn cổ phần Ke.
CHƯƠNG II
PHÂN TÍCH VÀ ĐỊNH GIÁ CỔ PHIẾU
CÔNG TY CỔ PHẦN THÉP VIỆT-Ý (VIS)
1.Phân tích nền kinh tế Việt Nam
1.1.Tốc độ tăng trưởng kinh tế
Kinh tế-xã hội qua các năm gần đây của nước ta diễn ra trong bối cảnh có nhiều
khó khăn, thách thức. Do tác động bởi nhiều yếu tố khách quan cũng các yếu tố chủ
quan. Kinh tế thế giới vừa trải qua cuộc khủng hoảng tài chính, các nền kinh tế lớn
như: Mỹ, Nhật, EU,…đã đưa ra nhiều chính sách nhằm khôi phục kinh tế, tạo công
SV: Nguyễn Văn Trung
Lớp: Toán Tài chính 49
20
Chuyên đề thực tập
Khoa Toán Kinh Tế
ăn việc làm. Mặc dù, các chính sách và đặc biệt là các gói kích cầu đã phần nào phát
huy tác dụng giúp nền kinh tế phục hồi sau khủng hoảng nhưng vẫn tiềm ẩn nhiều
yếu tố rủi ro. Ở trong nước, lạm phát tăng cao, thời tiết diễn biến phức tạp, dịch bệnh
tiếp tục xảy ra trên cây trồng vật nuôi. Những yếu tố bất lợi trên tác động mạnh đến
hoạt động sản xuất kinh doanh và ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống dân cư. Trên
thực tế, theo tổng cục thống kê, Tổng giá trị GDP trong quý 1 tính theo giá thực tế đạt
441.70 nghìn tỷ đồng, theo giá năm 1994 đạt 109.31 nghìn tỷ đồng. Tăng trưởng kinh
tế trong quý 1/2010 đạt 5.43%. Trước đó, trong năm 2010 tăng trưởng GDP quý 4 đạt
18/8/2010 đến nay, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã phải 2 lần điều chỉnh tỷ giá
liên ngân hàng với tổng cộng tăng 11.58%.Đặc biệt đợt điều chỉnh ngày
11/02/2011, tỷ giá liên ngân hàng tăng từ 18,932 lên 20,693 VND/USD, tăng 9.3%,
đây là mức điều chỉnh 1 lần cao nhất kể từ năm 1994 đến nay. Mục tiêu của việc
SV: Nguyễn Văn Trung
Lớp: Toán Tài chính 49
22
Chuyên đề thực tập
Khoa Toán Kinh Tế
tăng tỷ giá là thu hẹp tỷ giá giữa hai thị trường chính thức và thị trường tự do. Tuy
nhiên trên thực tế tình trạng vẫn không được thay đổi là bao. Mức đỉnh điểm tỷ giá
trên thị trường tự do có thời điểm lên tới 22,500 VND/USD, cao hơn tỷ giá chính
thức tới 1,500 đồng so với tỷ giá chính thức, vào giữa cuối tháng 2. Một số nguyên
nhân dẫn tới tình trạng trên là:
• Tài khoản vãng lai bị thâm hụt lớn.
• Lòng tin vào đồng nội tệ giảm và tâm lý đô la hóa nền kinh tế gia tăng.
• Lạm phát cao.
Các biện pháp của chính phủ thời gian qua đã phần nào phát huy hiệu quả thu
hẹp khoảng cách tỷ giá trên hai thị trường nhưng đó mới chỉ là các biện pháp tạm
thời trong ngắn hạn.
1.4.Tăng trưởng tín dụng và lãi suất
Tín dụng là yếu tố rất quan trọng ảnh hưởng tới thị trường chứng khoán nói
riêng và toàn bộ nền kinh tế nói chung. Tín dụng hay chính xác hơn là tín dụng cho
khu vực phi sản xuất sẽ trực tiếp tác động vào dòng tiền chảy vào thị trường. Kết
thúc năm 2009, tín dụng trong nền kinh tế tăng tới 37% và tăng 29.89% vào năm
2010 đã gây áp lực mạnh lên lạm phát trong năm 2010 và năm 2011.Với mức tăng
trưởng tín dụng cao đó thì áp lực lạm phát trong thời tới vẫn còn lớn, chính vì vậy
chính phủ đưa ra nhiều biện pháp nhằm ổn định kinh tế vĩ mô, gần đây nhất là quyết
định số 11 ban hành ngày 24/02/2011 với 7 nhóm giải pháp cho thấy quyết tâm
kiềm chế lạm phát và đảm bảo an sinh xã hội. Trong đó, tăng trưởng tín dụng của