A. LỜI MỞ ĐẦU
Giao kết hợp đồng mua bán nhà nói chung và hợp đồng mua bán căn hộ chung cư nói
riêng có nhiều nét đặc thù vì đối tượng của hợp đồng chính là nhà ở - Một tài sản vừa có
giá trị lớn, vừa có tính xã hội sâu sắc đáp ứng nhu cầu thiết yếu của đời sống con người.
Ngoài quá trình giao kết hợp đồng còn có giai đoạn thực hiện hợp đồng và cuối cùng là
giai đoạn hoàn tất hợp đồng. Sự phức tạp của việc giao kết hợp đồng mua bán nhà ở phụ
thuộc vào nhiều yếu tố mà trong đó đáng kể đến yếu tố về chủ thể, về đối tượng hợp đồng,
chủ trương chính sách của cơ quan quản lý nhà nước.
Để tìm hiểu rõ hơn về vấn đề này chúng ta sẽ cùng đi vào giải quyết nội dung đề tài:
“Mua bán căn hộ trong nhà chung cư ở Việt Nam trong giai đoạn từ 2005 trở lại đây –
Một số vấn đề bàn luận”.
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ:
I. Lý luận chung:
1. Khái quát chung về nhà chung cư, căn hộ trong nhà chung cư:
1.1. Khái niệm nhà chung cư, căn hộ chung cư:
Theo quy định tại Điều 70 Luật Nhà ở năm 2005 quy định thì:
“Nhà chung cư là nhà ở có từ hai tầng trở lên, có lối đi, cầu thang và hệ thống công
trình hạ tầng sử dụng chung cho nhiều hộ gia đình, cá nhân. Nhà chung cư có phần sở
hữu riêng của từng hộ gia đình, cá nhân và phần sở hữu chung của tất cả các hộ gia đình,
cá nhân sử dụng nhà chung cư.”
“Căn hộ chung cư được hiểu là phần sở hữu riêng trong nhà chung cư của mỗi cá
nhân, gia đình, tổ chức bao gồm: Phần diện tích bên trong căn hộ, bao gồm cả diện tích
ban công, lôgia gắn liền với căn hộ đó; phần diện tích khác trong nhà chung cư được
công nhận là sở hữu riêng theo quy định của pháp luật; hệ thống trang thiết bị kỹ thuật sử
dụng riêng gắn liền với căn hộ, phần diện tích thuộc sở hữu riêng.”
1
1.2. Đặc điểm nhà chung cư, căn hộ chung cư:
1.2.1. Sở hữu chung cộng đồng trong nhà chung cư:
Theo quy định của pháp luật thì phần sở hữu chung trong nhà chung cư bao gồm:
Phần diện tích nhà còn lại của nhà chung cư ngoài phần diện tích thuộc sở hữu riêng;
không gian và hệ thống kết cấu chịu lực, trang thiết bị dùng chung trong nhà chung cư,
và lợi ích hợp pháp của các chủ sở hữu và những người sử dụng trong quá trình sử dụng
nhà chung cư. Ban quản trị có quyền và trách nhiệm quản lý việc sử dụng nhà chung cư
theo quy định của pháp luật như: xây dựng nội quy sử dụng nhà chung cư; thực hiện thu,
chi tài chính trong quá trình quản lý việc xử dụng nhà chung;…
2. Lý luận chung về hợp đồng mua bán căn hộ chung cư:
2.1. Khái niệm hợp đồng mua bán căn hộ chung cư:
Hiện nay chưa có một khái niệm cụ thể nào về hợp đồng mua bán căn hộ chung cư,
nhưng dựa vào bản chất của loại hợp đồng này là một dạng của hợp đồng mua bán nhà ở,
đó đó dựa vào Điều 428 Bộ luật dân sự ta có thể đưa ra khái niệm về hợp đồng mua bán
căn hộ chung cư như sau:“ Hợp đồng mua bán căn hộ chung cư là sự thỏa thuận giữa các
bên, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao căn hộ chung cư và chuyển quyền sở hữu căn hộ
chung cư cho bên mua, còn bên mua có nghĩa vụ trả tiền cho bên bán theo thỏa thuận
hoặc theo quy định của pháp luật”
3
2.2. Đặc điểm của hợp đồng mua bán căn hộ chung cư:
2.2.1. Hợp đồng mua bán căn hộ chung cư mang những đặc điểm chung của hợp
đồng mua bán tài sản và hợp đồng mua bán nhà ở:
- Là hợp đồng ưng thuận: khi tham gia giao kết hợp đồng các bên phải tuân theo
nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác và trung thực. Họ có quyền quyết định
có hay không tham gia vào quan hệ hợp đồng, có quyền lựa chọn và thảo luận về nội dung
và hình thức của hợp đồng theo quy định của pháp luật. Thời điểm phát sinh hiệu lực của
hợp đồng là khi các bên đã thỏa thuận các điều khoản và hoàn thành thủ thụ tục công
chứng, chứng thực.
- Là hợp đồng có tính chất đền bù: Trong hợp đồng mua bán căn hộ chung cư khi
bên bán chuyển giao căn hộ thuộc sở hữu của mình cho bên mua thì sẽ nhận được khoản
tiền đền bù từ bên mua và ngược lại, bên mua sẽ nhận được tài sản là căn hộ chung cư
được chuyển giao từ bên bán sau khi đã trả tiền cho bên bán khoản tiền có giá trị tương
ứng.
- Là hợp đồng song vụ: các bên trong quan hệ hợp đồng có các quyền và nghĩa vụ
đối nhau. Quyền của bên này sẽ tương ứng với phần nghĩa vụ bên kia và ngược lại.
chung cư thì người mua căn hộ nhà chung cư được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất với hình thức quyền sử dụng đất là quyền sử dụng chung. Trường hợp chủ sở hữu nhà
ở đồng thời là chủ sử dụng đất ở, chủ sở hữu căn hộ trong nhà chung cư thì cấp một giấy
chứng nhận là Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở; Trong
trường hợp chủ sở hữu nhà ở không đồng thời là chủ sử dụng đất ở thì cấp Giấy chứng
nhận quyền sở hữu nhà ở.
4
- Đối với hợp đồng mua bán căn hộ chung cư dự án: là căn hộ mới chỉ có trong dự
án hoặc đang xây dựng, thì hiện nay loại hợp đồng này thường có hai dạng là:
Hợp đồng giữa chủ đầu tư và người mua gốc thường có dạng là hợp đồng hứa mua
hứa bán: Theo đó chủ đầu tư cam kết sẽ bán cho người mua gốc căn hộ chung cư theo
diện tích, kiểu dáng, thiết kế, chất lượng,…như trong dự án xây dựng nhà chung cư đã
được lập và được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt trước đó. Còn người mua gốc cam kết
sẽ mua căn hộ này sau khi được xây dựng và hoàn thiện như trong thiết kế ban đầu. Và để
đảm bảo cho cam kết của người mua gốc phải trả trước cho chủ đầu tư khoản tiền nhất
định tương ứng với giá trị của căn hộ chung cư đó.
Hợp đồng mua bán căn hộ chung cư dự án giữa người mua gốc và người mua lại:
thường được lập dưới dạng hợp đồng ủy quyền có công chứng. Đối với loại hợp đồng này
người mua gốc thường ủy quyền cho người mua lại thực hiện tiếp hợp đồng mua bán căn
hộ chung cư dự án với chủ đầu tư, được nhận căn hộ sau khi chủ đầu tư bàn giao, được
bán đứt căn hộ thuộc sở hữu của người mua gốc cho người khác,…
2.3. Phân loại hợp đồng mua bán căn hộ chung cư:
Trong sự đa dạng của hợp đồng mua bán căn hộ chung cư hiện nay, dựa vào những
dấu hiệu đặc trưng ta có thể phân hợp đồng thành các nhóm sau đây:
2.3.1. Dựa vào mục đích của hợp đồng:
- Hợp đồng mua bán căn hộ chung cư với mục đích để ở: Đây là loại hợp đồng khá
phổ biến vì nhu cầu về nhà ở đang ngày càng tăng theo sự gia tăng dân số ở nước ta hiện
nay
- Hợp đồng mua bán căn hộ chung cư nhằm mục đích kinh doanh: căn hộ chung
cư ngoài mục đích là để ở thì bản chất của nó là một loại tài sản. Do vậy pháp luật vẫn cho
1.1. Điều kiện chủ thể:
1.1.1. Đối với chủ thể là cá nhân:
Cá nhân khi tham gia vào hợp đồng mua bán căn hộ chung cư phải có năng lực pháp
luật và năng lực hành vi dân sự:
- Về nguyên tắc mọi cá nhân đều bình đẳng về năng lực pháp luật, nghĩa là đều có
năng lực pháp luật như nhau. Tuy nhiên đối với mỗi cá nhân khác nhau thì năng lực pháp
luật có thể bị hạn chế theo quy định của pháp luật. Ví dụ dựa trên nguyên tắc chủ quyền
quốc gia pháp luật Việt Nam có những quy định hạn chế quyền sở hữu đối với căn hộ
chung cư của người nước ngoài như: Người nước ngoài chỉ được mua và sở hữu căn hộ
chung cư tài Việt Nam theo đó là người có công đóng góp đối với đất nước Việt Nam,
người kết hôn với công dân Việt Nam…có thời hạn cư trú tại Việt Nam trên 1 năm…và
chỉ được sở hữu một căn hộ chung cư tại thời điểm cư trú với mục đích để ở, không được
cho thuê hoặc sử dụng với mục đích khác….
5
- Theo quy định của pháp luật dân sự thì cá nhân từ đủ 18 tuổi trở lên và không bị Tòa
án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự thì có
năng lực hành vi dân sự đầy đủ. Họ có toàn quyền trong việc xác lập, thực hiện các giao
dịch dân sự cũng như thực hiện các nghĩa vụ khi tham gia các giao dịch đó.
5
- Nghị quyết số 19/2008/QH12 ngày 03 tháng 6 năm 2008 về việc thí điểm cho tổ chức, cá nhân nước ngoài mua và sở hữu nhà ở tại
Việt Nam;
- Nghị định số 51/2009/NĐ-CP ngày 03 tháng 6 năm 2009 hướng dẫn thi hành một số Điều của Nghị quyết số 19/2008/QH12
4
Đối với người năng lực hành vi dân sự hạn chế, người không có năng lực hành vi dân
sự và người bị mất năng lực hành vi dân sự thì theo quy định của pháp luật giao dịch dân
sự của những người này phải thông qua người đại diện hợp pháp.
Việc pháp luật quy định điều kiện về năng lực hành vi dân sự của chủ thể là cá nhân
nhằm đảm bảo cho các chủ thể này khi tham gia giao kết hợp đồng một cách hoàn toàn tự
nguyện, bình đẳng, trung thực cũng như có thể thực hiện các nghĩa vụ pháp lý phát sinh từ
hợp đồng.
kiện chặt chẽ khác.
1.2. Các loại chủ thể:
1.2.1. Bên bán:
Bên bán căn hộ chung cư là chủ sở hữu căn hộ chung cư hoặc là người được chủ sở
hữu ủy quyền cho phép bán căn hộ chung cư hoặc là người được bán căn hộ chung cư
theo quy định của pháp luật.
- Các chủ thể bán:
+ Nhà nước:
6
- Thông tư số 13/2008/TT-BXD ngày 21/05/2008 hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Nghị định số 153/2007/NĐ-CP ngày 15
tháng 10 năm 2007 của chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật kinh doanh bất động sản.
- Điều 11 Quy chế khu đô thị mới, Ban hành kèm theo Nghị định số 02/2006/NĐ-CP ngày 05 tháng 01 năm 2006 của Chính phủ
5
Nhà nước trở thành chủ thể bán khi tiến hành bán căn hộ chung cư thuộc sở hữu của
mình cho các cá nhân, tổ chức có nhu cầu và theo những điều kiện nhất định.
Căn hộ chung cư thuộc sở hữu Nhà nước bao gồm:
Căn hộ chung cư được tạo lập bằng nguồn vốn ngân sách Nhà nước (ngân sách Trung
ương, ngân sách địa phương) hoặc có nguồn vốn từ ngân sách Nhà nước.
Căn hộ chung cư có nguồn gốc thuộc sở hữu khác và được chuyển thành sở hữu nhà
nước theo quy định của pháp luật.
Căn hộ chung cư được tạo lập từ nguồn vốn ngân sách nhà nước hoặc có nguồn vốn
từ ngân sách Nhà nước và một phần tiền góp của cá nhân, của tập thể theo thỏa thuận hoặc
theo hợp đồng mua trả góp nhưng chưa trả hết tiền.
Nhà nước đầu tư, xây dựng các căn hộ chung cư nhằm mục đích chủ yếu là giải quyết
yêu cầu về chỗ ở cho các đối tượng xã hội như cán bộ công chức, viên chức, sĩ quan,…khi
đi công tác hoặc thực hiện nhiệm vụ và gặp khó khăn về chỗ ở. Các đối tượng này chủ yếu
được Nhà nước giao, cho thuê hoặc cho thuê mua căn hộ chung và sau đó họ có thể được
Nhà nước chuyển giao quyền sở hữu thông qua việc công nhận quyển sở hữu (đối với căn
hộ chung cư được cho thuê mua) hoặc bán hóa giá.
+ Chủ sở hữu nhà chung cư mà không phải là Nhà nước:
cư mà chủ sở hữu từ bỏ quyền sở hữu (căn hộ chung cư sẽ thuộc sở hữu của nhà nước).
7
Khoản 32 Điều 2 Luật Nhà ở 2005
8
Điều 36 Luật Nhà ở 2005
6
Quyền sở hữu được xác lập theo thời hiệu (Ví dụ: trường hợp chiếm hữu căn hộ
chung cư ngay tình nhưng không có căn cứ pháp luật nhưng chiếm hữu liên tục trong thời
hạn 30 năm).
Chủ sở hữu căn hộ chung cư sẽ được cấp giấy chứng nhận nhà ở, đây là giấy chứng
nhận quyền sở hữu căn hộ của chủ sở hữu và khi có được giấy tờ này chủ sở hữu có thể
tiến hành các giao dịch liên đến căn hộ của mình một cách hợp pháp và thuận tiện.
Quyền sở hữu căn chung cư của chủ sở hữu bao gồm ba quyền năng cơ bản là quyền
chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt căn hộ chung cư. Việc chủ sở hữu bán căn
hộ chung cư chính là sự thực hiện quyền định đoạt của mình. Thông thường chủ sở hữu sẽ
được thực hiện quyền năng này một cách độc lập và không phụ thuộc vào ý chí của người
khác, có nghĩa là tự mình thực hiện việc mua bán căn hộ chung cư. Tuy nhiên, trên thực tế
chủ sở hữu cũng có thể ủy quyền cho người khác thực hiện công việc này.
+ Các chủ thể khác:
Trong giao dịch mua bán căn hộ chung cư có những chủ thể không là chủ sở hữu hay
đại diện hợp pháp của chủ sở hữu nhưng họ vẫn tham gia hợp đồng với tư cách là bên bán
hợp pháp và được pháp luật bảo vệ.
Trường hợp thứ nhất: Bên bán là người nhận bảo đảm. Đây là trường hợp chủ sở
hữu căn hộ chung cư sử dụng căn hộ là tài sản bảo đảm (bên bảo đảm) cho khoản vay tại
tổ chức tín dụng hoặc tổ chức cá nhân khác (bên nhận bảo đảm). Khi đến hạn trả nợ mà
bên bảo đảm không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì theo quy định của
pháp luật bên nhận bảo đảm có quyền xử lý tài sản bảo đảm là căn hộ chung cư. Bên nhận
bảo đảm lúc này sẽ thông qua việc bán đấu giá căn hộ chung cư để có thể thu hồi khoản
vay.
Trường hợp thứ hai: Bên bán căn hộ chung cư là Cơ quan thi hành án dân sự. Đây là
và người bán còn có sự xuất hiện của bên thứ ba đó là các công ty môi giới bất động sản.
Một thực tế hiện nay là phần lớn trong các giao dịch mua bán căn hộ chung cư, người mua
thường là bên chịu nhiều bất lợi hơn bởi họ thiếu tính chuyên nghiệp. Trong khi đó, các
chủ đầu tư là những người kinh doanh với tính chuyên nghiệp rất cao, họ xây dựng hợp
đồng mua bán với rất nhiều rằng buộc về mặt pháp lý đối với người mua và người mua
thường không có nhiều sự lựa chọn cho mình. Hơn nữa khi giao kết hợp đồng mua bán
người mua thường không lường hết được những rủi ro và hậu quả pháp lý phát sinh từ hợp
đồng, nên không có những thỏa thuận cụ thể về giá cả, chất lượng, diện tích, quyền và
trách nhiệm của mỗi bên…vì vậy khó có thể tự đảm bảo quyền lợi cho mình.
+ Chủ thể mua là đồng chủ sở hữu đối với căn hộ chung cư thuộc sở hữu chung:
Căn hộ chung cư thuộc sở hữu chung là căn hộ thuộc quyền sở hữu của nhiều người,
có thể do nhiều người cùng xây dựng, cùng được tặng chi, cùng được thừa kế hoặc cùng
góp tiền để mua chung,…Sở hữu chung bao gồm sở hữu chung theo phần và sở hữu
chung hợp nhất.
Căn hộ chung cư là tài sản thuộc sở hữu chung theo phần thì quyền sở hữu được các
đồng chủ sở hữu xác định một cách rõ ràng và theo tỷ lệ nhất định. Mỗi chủ sở hữu chung
theo phần có quyền và nghĩa vụ đối với căn hộ thuộc sở hữu chung tương ứng với phần
quyền của mình trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Căn hộ chung cư là tài sản chung hợp nhất thì các chủ thể có quyền quyết định ngang
nhau đối với nó trừ trường hợp các chủ sở hữu có sự thỏa thuận phân chia khác.
Việc bán căn hộ thuộc sở hữu chung hợp nhất thì phải được sự đồng ý của tất cả chủ
sở hữu bằng văn bản. Khi đó các chủ sở hữu phải cùng đứng tên hoặc ký tên trong hợp
đồng mua bán căn hộ chung cư.
Việc bán một phần quyền sở hữu căn hộ chung cư thuộc sở hữu chung theo phần
không được làm ảnh hưởng tới quyền và lợi ích của các chủ sở hữu chung khác.
Trường hợp có chủ sở hữu căn hộ chung cư thuộc sở hữu chung không đồng ý bán thì
các chủ sở hữu chung khác có quyền làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của
pháp luật. Nếu có chủ sở hữu chung vắng mặt và không xác định được nơi cư trú của
người đó, thì các chủ sở hữu chung còn lại phải có đơn yêu cầu Tòa án tuyên người đó
mất tích theo quy định của pháp luật trước khi thực hiện việc bán căn hộ. Nếu người bị
Theo quy định của Điều 105 Luật Nhà ở 2005 thì thuê mua nhà ở xã hội là việc người
thuê nhà ở được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận quyền sở hữu đối với nhà ở
đang thuê sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ của người thuê trong một thời gian quy định.
Căn hộ chung cư là một dạng của nhà ở xã hội, là các căn hộ được Nhà nước hoặc các
doanh nghiệp bỏ vốn đầu tư để cho các đối tượng theo quy định được thuê mua.
Người thuê mua chủ yếu là cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan, quân nhân chuyên
nghiệp thuộc lực lượng vũ trang nhân dân, công nhân làm việc tại các khu kinh tế, khu
công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao và các đối tượng khác. Họ phải chưa có
nhà và chưa được thuê mua nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước hoặc có nhà ở thuộc sở hữu của
mình nhưng diện tích bình quân trong hộ gia đình dưới 5m
2
sàn/người hoặc có nhà ở thuộc
sở hữu của mình nhưng lại là nhà tạm, hư hỏng, dột nát. Người thuê mua phải thanh toán
lần đầu 20% giá trị căn hộ và không được chuyển nhượng quyền thuê này dưới bất cứ
hình thức nào. Trường hợp người thuê mua không còn nhu cầu mua thì phải trả lại căn hộ
cho đơn vị quản lý quỹ nhà ở xã hội. Đơn vị này sẽ hoàn trả số tiền 20% giá trị hợp đồng
mà người thuê mua đã trả lần đầu. Nếu người thuê mua có hành vi vi phạm quy định của
pháp luật về việc thuê mua (như chuyển nhượng quyền thuê mua cho người khác) thì sẽ bị
đơn vị quản lý quỹ nhà ở xã hội thu hồi căn hộ cho thuê mua và không được hoàn trả lại
số tiền trả lần đầu.
Thuê mua căn hộ chung cư thuộc sở hữu của cá nhân, tổ chức kinh doanh bất động
sản:
Theo quy định của Luật Kinh doanh bất động sản thì căn hộ chung cư được đưa vào
thuê mua phải đã có sẵn, phải đảm bảo chất lượng an toàn vệ sinh môi trường và các dịch
vụ cần thiết khác, để căn hộ được sử dụng, vận hành bình thường theo công năng thiết kế
và theo thỏa thuận trong hợp đồng. Việc thuê mua căn hộ chung cư của tổ chức, cá nhân
kinh doanh bất động sản phải được thực hiện qua sàn giao dịch bất động sản và phải được
lập thành văn bản.
Người thuê mua căn hộ có quyền sở hữu căn hộ cho thuê mua sau khi kết thúc thời
hạn thuê mua hoặc theo thỏa thuận của các bên trong hợp đồng. Họ có quyền cho thuê lại
hoặc giấy tờ tương ứng với Giấy chứng nhận đầu tư do cơ quan có thẩm quyền của Việt
Nam cấp để chứng minh có hoạt động đầu tư tại Việt Nam.
Nhà ở được mua và sở hữu phải là căn hộ chung cư trong các dự án phát triển nhà ở
thương mại và không thuộc khu vực cấm hoặc hạn chế người nước ngoài cư trú đi lại.
Cá nhân nước ngoài thì chỉ được sở hữu 1 căn hộ trong cùng một thời điểm cư trú tại
Việt Nam.Thời hạn sở hữu tối đa căn hộ là 50 năm và chủ sở hữu chỉ được sử dụng để ở,
không được cho thuê không được sử dụng căn hộ đã mua vào mục đích khác. Trường hợp
đang có sở hữu căn hộ mà chủ sở hữu được thừa kế hoặc được tặng cho nhà ở khác thì chỉ
được lựa chọn sở hữu 1 căn hộ trong dự án phát triển nhà ở thương mại. Chủ sở hữu được
bán căn hộ chung cư đã mua sau thời hạn 1 năm, kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận
quyền sở hữu nhà ở, trừ trường hợp lý do đặc biệt mà chủ sở hữu không thể tiếp tục cư trú
tại Việt nam (như ốm đau phải xuất cảnh về nước trước thời hạn…) thì được quyền bán
căn hộ trước thời hạn này. Khi hết thời hạn được sở hữu nhà ở tại Việt Nam thì chủ sở
hữu phải bán hoặc tặng cho căn hộ đã mua cho người khác, nếu không thực hiện quyền
này thì sẽ bị thu hồi Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và không được sử dụng nhà ở
đã mua.
Đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì được quyền mua và sở hữu một
hoặc một số căn hộ chung cư tại các dự án phát triển nhà ở thương mại (có thể mua nhiều
căn hộ) để cho người lao động đang làm việc trong doanh nghiệp đó ở. Thời hạn sở hữu
căn hộ của doanh nghiệp tương ứng với thời hạn ghi trong Giấy chứng nhận đầu tư cấp
cho doanh nghiệp đó. Cũng như đối với cá nhân nước ngoài, các doanh nghiệp cũng
không được cho thuê hoặc sử dụng căn hộ đã mua vào mục đích khác. Khi hết thời hạn
đầu tư hoặc doanh nghiệp bị phá sản, giải thể thì căn hộ đã mua được xử lý theo quy định
của pháp luật doanh nghiệp, pháp luật phá sản và các quy định khác của pháp luật Việt
Nam.
+ Bán hóa giá căn hộ chung cư thuộc sở hữu Nhà nước:
10