Mở rộng cho vay khách hàng cá nhân tại ngân hàng TMCP Á Châu - Chi nhánh Hà Nội - Pdf 26

MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
ABC Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu
ABC – Hà Nội Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu chi nhánh Hà Nội
A/O Nhân viên tín dụng
C/A Nhân viên phân tích tín dụng
CLMS Phần mềm quản lý tín dụng cá nhân
HMTD Hạn mức tín dụng
KHDN Khách hàng doanh nghiệp
KHCN Khách hàng cá nhân
Loan CSR Nhân viên dịch vụ tín dụng
NHNN Ngân hàng nhà nước
NHTM Ngân hàng thương mại
NH TMCP Ngân hàng thương mại cổ phần
PFC Nhân viên tư vấn tài chính cá nhân
PGD Phòng giao dịch
TCTD Tổ chức tín dụng
Teller Giao dịch viên
TPHCM Thành phố Hồ Chí Minh
TSĐB Tài sản đảm bảo
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cùng với quá trình mở cửa và phát triển của ngành ngân hàng Việt Nam,
khách hàng cá nhân ngày càng đóng vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển
của các NHTM. Các sản phẩm dịch vụ ngân hàng dành cho cá nhân đặc biệt là các
sản phẩm tín dụng đang được các ngân hàng cung cấp rất đa dạng, phong phú và trở
thành những công cụ cạnh tranh chủ yếu của các NHTM. Không chỉ những
NHTMCP Việt Nam lâu nay mặn mà với dịch vụ tín dụng và cho vay cá nhân mà
các ngân hàng nước ngoài tên tuổi như HSBC, ANZ, UOB, SCB… hay các công ty
tài chính mới ra đời như PRUFC, SGVF cũng nhảy vào giành giật khách hàng, điều

- Đề xuất các giải pháp mở rộng cho vay khách hàng cá nhân tại NH TMCP Á
Châu - chi nhánh Hà Nội
3. Đối tượng, phạm vi và thời gian nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu hoạt động cho vay khách hàng cá nhân -
là các cá nhân và hộ gia đình. Các sản phẩm cho vay: các sản phẩm cho vay cá nhân
phục vụ tiêu dùng, sản xuất kinh doanh nhưng không bao gồm cho vay sản xuất
nông nghiệp, cho vay các đối tượng thuộc diện chính sách.
- Phạm vi nghiên cứu: Hoạt động cho vay khách hàng cá nhân tại NH TMCP
Á Châu - Chi nhánh Hà Nội.
- Thời gian nghiên cứu: Trong giai đoạn từ năm 2008 đến năm 2010
4. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, các phương pháp chủ yếu được sử dụng bao
gồm: Phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, phương pháp thống kê,
phân tích, hệ thống, so sánh, tổng hợp…
5. Những đóng góp khoa học đề tài nghiên cứu
- Thứ nhất, hệ thống hoá một số vấn đề lý luận cơ bản về hoạt động cho vay
khách hàng cá nhân của NHTM
- Thứ hai, phân tích thực trạng, đánh giá quá trình mở rộng hoạt động cho vay
khách hàng cá nhân tại NH TMCP Á Châu Chi nhánh Hà Nội.
- Thứ ba, để xuất những giải pháp và kiến nghị góp phần mở rộng cho vay
khách hàng cá nhân tại NH TMCP Á Châu chi nhánh Hà Nội.
2
6. Tên và kết cấu của đề tài
Tên đề tài: "Mở rộng cho vay khách hàng cá nhân tại ngân hàng TMCP Á
Châu - Chi nhánh Hà Nội"
Ngoài phần mở đầu, kết cấu và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính
của đề tài nghiên cứu bao gồm ba chương:
- Chương 1: Những vấn đề co bản về cho vay khách hàng cá nhân tại ngân
hàng thương mại.
- Chương 2: Thực trạng mở rộng cho vay khách hàng cá nhân tại NH TMCP Á

sắm máy móc thiết bị, đầu tư cơ sở vật chất cho hoạt động sản xuất kinh doanh, đầu
tư kinh doanh chứng khoán, vàng.
+ Căn cứ vào nhu cầu sử dụng từng khoản vay của khách hàng và khả năng
4
kiểm tra, giám sát của Ngân hàng, có các phương thức cho vay sau:
- Cho vay từng lần: Là phương thức cho vay mà mỗi lần vay vốn khách hàng
và ngân hàng làm các thủ tục vay vốn cần thiết và ký kết hợp đồng tín dụng.
- Cho vay trả góp: Khi vay vốn ngân hàng và khách hàng thoả thuận xã định
số lãi vốn vay phải trả cộng với số nợ gốc được chia ra để trả nợ theo nhiều kỳ hạn
trong thời gian cho vay.
- Cho vay theo hạn mức thấu thi: Là việc cho vay mà ngân hàng thoả thuận
bằng văn bản chấp thuận cho khách hàng chia vượt số tiền tự có trên tài khoản
khách hàng phù hợp với quy định của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
về hoạt động thanh toán qua các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán.
- Cho vay theo hạn mức tín dụng (HMTD): Ngân hàng và khách hàng xác
định và thoả thuận một mức dư nợ vay tối đa duy trì trong một khoảng thời gian
nhất định.
+ Căn cứ mức độ tín nhiệm khách hàng, hiện tại các ngân hàng xem xét cho
vay với khách hàng dựa trên hai hình thức:
- Cho vay có tài sản đảm bảo: là các khoản vay được đảm bảo bằng tài sản
thuộc sở hữu của khách hàng vay vốn hoặc của người thứ ba. Tài sản đảm bảo cho
khoản vay có thể là số dư tài khoản tiền gửi, sổ tiết kiệm, hàng hoá, máy móc thiết
bị, bất động sản…
- Cho vay không có tài sản đảm bảo (tín chấp): Là cho vay không cần đảm
bảo bằng tài sản mà dựa trên uy tín của khách hàng. Ngân hàng lựa chọn các khách
hàng có uy tín và khả năng trả nợ tốt để cho vay theo hình thức này.
1.1.3. Đặc điểm hoạt động cho vay khách hàng cá nhân tại Ngân hàng
thương mại
Đối tượng
Là các cá nhân và hộ gai đình có nhu cầu vay vốn sử dụng cho những mục

Lãi suất cho vay
Lãi suất của các khoản KHCN thường cao hơn các khoản vay khác của
NHTM. Nguyên nhân là do các chi phí của cho vay KHCN lớn, các khoản vay
KHCN có mức độ rủi ro cao như đã đề cập ở trên KHCN thường kém nhạy cảm với
lãi suất cho vay. Các KHCN thường chỉ quan tâm đến số tiền được vay, thời hạn
vay và số tiền phải trả theo định kỳ và không xem lãi suất vay vốn là yếu tố quan
trọng nhất để quyết định vay vốn. Cả ba nguyên nhân trên dẫn đến lãi suất cho vay
6
KHCN thường cao hơn các khoản vay khác của NHTM. Chẳng hạn, ở những nước
có hoạt động cho vay KHCN phát triển như Mỹ lãi suất cho vay KHCN có thể cao
gấp 3 - 4 lần lãi suất cho vay doanh nghiệp, ở Việt Nam lãi suất cho vay KHCN
thông thường cao hơn lãi suất cho vay doanh nghiệp từ 1,2 - 1,5 lần.
Rủi ro tín dụng
Các khoản cho vay KHCN thường có nhiều rủi ro nhất đối với ngân hàng. Sở
dĩ như vậy là do tình hình tài chính của KHCN thường thay đổi nhanh chóng tuỳ
theo tình trạng công việc và sức khoẻ của họ. Trong hoạt động sản xuất kinh doanh,
các cá nhân và hộ gia đình thường có trình độ quản lý yếu, thiếu kinh nghiệm,
trìnhđộ kỹ thuật và khoa học công nghệ lạc hậu do đó khả năng cạnh tranh trên thị
trường bị hạn chế. Do đó, ngân hàng sẽ phải đối mặt với nhiều rủi ro khi người vay
bị thất nghiệp, gặp tai nạn, phá sản… Mặt khác, việc thẩm định và quyết định cho
vay KHCN thường gặp khó khăn về vấn đề thông tin không đầy đủ, không rõ ràng,
các thông tin về cá nhân thường bị giấu kín. Do đó chất lượng thẩm định khách
hàng không cao điều này ảnh hưởng đến các quyết định cho vay của ngân hàng.
Chính vì vậy, các khoản vay KHCN thường được quản lý chặt chẽ.
1.2. MỞ RỘNG CHO VAY KHCN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.2.1. Quan điểm về mở rộng cho vay KHCN
Mở rộng cho vay KHCN là việc NHTM tăng cường sử dụng các nguồn lực
của mình nhằm mục đích gia tăng dư nợ cho vay từ đó gia tăng thu nhập từ hoạt
động cho vay KHCN.
Mục đích của việc mở rộng cho vay KHCN là nhằm gia tăng thu nhập cho

x 100%
Dư nợ cho vay cuối năm t
Chỉ tiêu này phản ánh tốc độ gia tăng dư nợ cho vay KHCN qua các năm. Tuy
vậy khi sử dụng chỉ tiêu này để đánh giá sự mở rộng cho vay KHCN của một
NHTM người ta thường xem xét chỉ tiêu này trên cơ sở so sánh với tốc độ tăng
trưởng dư nợ cho vay KHCN bình quân của ngành. Nếu tốc độ tăng trưởng cho vay
KHCN của một NHTM cao hơn tốc độ tăng trương dư nợ cho vay KHCN chung
của ngành thì chứng tỏ hoạt động cho vay KHCN của NHTM đó thực sự được mở
rộng. Đối với một chi nhánh NHTM, ngoài việc so sánh với chỉ tiêu tăng trưởng dư
nợ bình quân của ngành ngân hàng trên địa bàn hoạt động, người ta thường đánh giá
việc mở rộng cho vay KHCN thông qua việc so sánh chỉ tiêu tăng trương dư nợ của
chi nhánh NHTM được đánh giá với chỉ tiêu bình quân của NHTM đó.
1.2.2.2. Gia tăng tỷ trọng dư nợ cho vay KHCN trong tổng dư nợ của Ngân
hàng
Tỷ trọng dư nợ KHCN trong tổng dư nợ của NHTM được xác định
Dư nợ cho vay KHCN (t)
x 100%
Tổng dư nợ cho vay (t)
8
Chỉ tiêu này phản ánh quy mô cho vay KHCN trong tỏng dư nợ cho vay của
NHTM. Tỷ trọng dư nợ cho vay KHCN trong tổng dư nợ cho vay của một NHTM
càng lớn thì hoạt động cho vay KHCN của NHTM đó càng phát triển. Ở các NHTM
hoạt động theo định hướng bán lẻ chỉ tiêu này thường cao hơn các NHTM hoạt
động theo định hướng bán buôn. Thông qua chỉ tiêu này, ta cũng có thể so sánh
được mức độ phát triển hoạt động cho vay KHCN của các NHTM khác nhau.
1.2.2.3. Tăng thu nhập lãi suất từ hoạt động cho vay KHCN
Thu nhập thuần lãi từ hoạt động cho vay KHCN được xác định bằng cách lấy
lãi đầu ra trừ đi lãi đầu vào của hoạt động cho vay KHCN hay cụ thể hơn là lấy lãi
thu được từ hoạt động cho vay KHCN trừ đi lãi phải trả cho nguồn vốn dùng để cho
vay KHCN. Đây vừa là chỉ tiêu phản ánh việc mở rộng cho vay KHCN vừa là mục

- Các khoản nợ khác được phân loại vào nhóm 3 theo quy định tại khoản 3,4
điều 6 của Quyết định 493.
Nợ nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm:
- Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày
- Các khoản nợ khoanh chờ Chính phủ xử lý
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn trên 180 ngày theo thời hạn
đã cơ cấu lại.
- Các khoản nợ được các TCTD đánh giá là không còn khả năng thu hồi, mất vốn.
- Các khoản nợ khác được phân loại vào nhóm 3 theo quy định tại khoản 3,4
điều 6 của Quyết định 493.
Như trên đã đề cập, việc mở rộng cho vay KHCN phải đi đôi với việc nâng
cao chất lượng tín dụng. Các NHTM không thể chỉ mở rộng cho vay mà không
quan tâm đến tỷ lệ nợ xấu. NHTM chỉ có thể tiếp tục mở rộng cho vay khi việc mở
rộng này không làm tăng tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ.
1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến mở rộng cho vay KHCN tại NHTM
Hoạt động cho vay KHCN của NHTM chịu ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố, các
nhân tố này có thể chia thành hai nhóm: nhóm nhân tố bên trong ngân hàng - nhân
tố chủ quan và nhóm nhân tố bên ngoài ngân hàng - nhân tố khách quan. Để có thể
có những giải pháp mở rộng cho vay KHCN hiệu quả, mỗi NHTM cần tìm hiểu,
xem xét kỹ lưỡng từng nhân tố và tác động của nó đối với hoạt động cho vay
KHCN của mình.
10
1.3.1. Nhân tố khách quan
Môi trường kinh tế
Môi trường kinh tế ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động cho vay nói chung của
NHTM và hoạt động cho vay KHCN nói riêng. Tác động của môi trường kinh tế
đối với hoạt động cho vay KHCN của NHTM là tác động thuận chiều, tức là khi
nền kinh tế phát triển thì hoạt động cho vay KHCN cũng được mở rộng, cho vay
KHCN sẽ bị thu hẹp khi nền kinh tế đi vào suy thoái hoặc trong giai đoạn khó khăn.
Khi nền kinh tế tăng trưởng, thu nhập của người dân tăng cao và ổn định, mức

vay KHCN tại các NHTM. Sự tác động của môi trường văn hoá xã hội có thể là tác
động tích cực - kích thích sự phát triển hoặc tác động tiêu cực - hạn chế sự phát
triển của hoạt động cho vay KHCN. Một số yếu tố văn hoá xã hội có thể tác động
đến hoạt động cho vay KHCN bao gồm: Yếu tố về nhân khẩu học, thói quen tiêu
dùng, trình độ dân trí, phong tục tập quán, bản sắc dân tộc,…
Quy mô dân số lớn, dân số trẻ và có thu nhập cao là môi trường lý tưởng cho
việc phát triển hoạt động cho vay của NHTM. Tuy nhiên, yếu tố trình độ dân trí, tập
quán và thói quen tiêu dùng lại là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến việc mở rộng
cho vay KHCN. Chẳng hạn, ở thành thị nhu cầu tiêu dùng thường cao hơn khu vực
nông thôn do đó mà nhu cầu vay tiêu dùng cũng lớn hơn. Mỹ là quốc gia có thị
trường tiêu dùng lớn, phần lớn dân cư Mỹ đã sử dụng vốn vay NHTM để tài trợ cho
nhu cầu tiêu dùng của mình, chính vì vậy thị trường cho vay KHCN của Mỹ được
đánh giá là lớn nhất thế giới và có tốc độ tăng trưởng cao hàng năm.
Môi trường pháp lý
Hoạt động kinh doanh của NHTM đặc biệt là hoạt động cho vay chịu sự ảnh
hưởng của rất nhiều quy định, văn bản pháp luật có liên quan từ Luật các Tổ chức
tín dụng, Luật Dân sự, Luật đất đai, các quy định về thực hiện giao dịch đảm bảo,
đăng ký cầm cố thế chấp, các quy định về xử lý tài sản,…
Trong môi trường pháp lý chặt chẽ, đồng bộ, bảo vệ được quyền lợi hợp pháp của
các bên tham gia, hoạt động cho vay có nhiều cơ hội được phát triển, người đi vay sẽ
sẵn sàng vay vốn và quan trọng hơn các NHTM cũng mạnh dạn và dễ dàng mở rộng
hoạt động cho vay của mình. Ngược lại, trong môi trường pháp lý không rõ ràng chặt
chẽ và đồng bộ, quyền lợi của người đi vay và đặc biệt là người cho vay không được
bảo vệ chính đáng, hoạt động cho vay sẽ bị hạn chế và khó phát triển.
Chẳng hạn, hiện tại ở Mỹ vẫn còn một số quy định có xu hướng bảo vệ người
đi vay như Đạo Luật cải cách phá sản năm 1978, sửa đổi năm 1984 có xu hướng hỗ
trợ có những kiến nghị của các cá nhân phá sản và hạn chế chặt chẽ các dạng tài sản
của con nợ mà người ta có thể chuyển thành tiền để phân chia co các ngân hàng và
các chủ nợ khác. Hiện nay, một phần đáng kể tài sản của các hộ gia đình có thể
12

khoản vay hay không. Vì đây là nguồn cơ bản để người vay trả các khoản vay,
NHTM muốn biết chính xác kế hoạch trả nợ của người vay trong tương lai. NHTM
sẽ xem xét luồng tiền trong kinh doanh, thời gian chi trả và khả năng chi trả thành
13
công khoản vay.
Vốn (Capital) là tiều của người vay đã đầu tư và chỉ tiêu này cho biết người
vay sẽ thua lỗ bao nhiêu khi công việc kinh doanh không thành công. NHTM muốn
người vay thế chấp tài sản riêng và chịu trách nhiệm về rủi ro tài chính khi hỏi vay
vốn ngân hàng. NHTM xem xét chỉ số nợ của người vay để hiểu được tổng nợ trên
tổng đầu tư của khách hàng.
Thế chấp (Collateral) hay sự bảo lãnh của bên thứ ba là một hình thức khác
người vay có thể đảm bảo với NHTM. Nếu lượng tiền của người vay không đủ trả
nợ, NHTM vẫn được đảm bảo bằng nguồn thanh toán khác. Nếu người vay không
trả được nợ, NHTM sẽ thu hồi và thanh lý máy móc thiết bị, nhà xưởng, các khoản
phải thu, hàng tồn kho. Hợp đồng cho vay nên xác định cẩn thận những mục được
coi là khoản thế chấp. Trong một số trường hợp NHTM có thể yêu cầu bên bảo lãnh
thứ ba ký giấy bảo lãnh cam kết sẽ thanh toán vay nếu người vay (bên được bảo
lãnh) không thể trả nợ.
Điều kiện khác (Conditions) liên quan đến hoàn cảnh kinh tế của từng địa
phương từng quốc gia. Liệu thu nhập của người vay có thể bị ảnh hưởng? Nếu nền
kinh tế bị suy thoái, liệu thu nhập của người vay có giảm mạnh hay không hoặc có
thể không bị ảnh hưởng những khách hàng có thu nhập ổn định không bị ảnh hưởng
nhiều bởi nền kinh tế thì thông thường sẽ được các NHTM ưu ái hơn.
Các yếu tố cạnh tranh
Cho vay KHCN là hoạt động nghiệp vụ quan trọng trong chiến lược bán lẻ của
NHTM, do đó sự cạnh tranh trong hoạt động này của các NHTM ngày càng trở nên
gay gắt. Các NHTM cạnh tranh với nhau thông qua việc nghiên cứu và triển khai
các sản phẩm mới, nâng cao chất lượng dịch vụ, mở rộng điều kiện và đối tượng
cho vay, giảm lãi suất cho vay,… Việc cạnh tranh này một mặt có tác động mở rộng
thị trường cho vay cho nhiều nhu cầu vay vốn của KHCN được "đánh thức" bởi

định mức cho vay đối với khách hàng. Căn cứ xác định mức cho vay đối với khách
hàng bao gồm; nhu cầu vay vốn của khách hàng, mức vốn tự có của khách hàng
tham gia vào phương án sản xuất kinh doanh, dịch vụ, đời sống, khả năng hoàn trả
của khách hàng, khả năng nguồn vốn của ngân hàng và các quy định khác theo từng
sản phẩm cho vay cụ thể.
Chính sách lãi suất quy định cách thức xác định lãi suất cho vay đối với khách
hàng. Lãi suất cho vay của NHTM áp dụng cho mỗi khách hàng là khác nhau tuỳ
thuộc vào các đặc điểm như: sản phẩm cho vay, số tiền vay, thời han cho vay, loại
tài sản đảm bảo, tỷ lệ cho vay trên TSĐB
Chính sách về thời hạn cho vay quy định thời gian cho vay tối đa đối với
15
khách hàng. Thông thường thời hạn cho vay được quy định căn cứ vào từng loại sản
phẩm cho vay, khả năng hoàn trả của người vay và khả năng đáp ứng nguồn vốn
của ngân hàng tại mỗi thời kỳ.
Chính sách đảm bảo tiền vay quy định các loại tài sản được ngân hàng chấp
nhận làm tài sản đảm bảo cho các khoản vay, tỷ lệ cho vay tối đa trên mỗi loại tài
sản đảm bảo và thủ tục pháp lý thực hiện đối với các loại tài sản đảm bảo chính
sách quy mô và giới hạn cho vay, lãi suất cho vay, thời hạn cho vay, chính sách về
đảm bảo tiền vay…
Quy mô của NHTM
Quy mô của NHTM được đánh giá qua các chỉ tiêu: vốn tự có, tổng nguồn vốn
(tổng tài sản) và mạng lưới các điểm giao dịch.
Vốn tự có là một trong những tiêu chí quan trọng nhất khi đánh giá năng lực của
một ngân hàng thương mại, vốn tự có càng lớn thì chứng tỏ tiềm lực của ngân hàng càng
mạnh, càng có điều kiện thuận lợi trong việc phát triển hoạt động kinh doanh, đặc biệt là
phát triển hoạt động kinh doanh tín dụng. Vốn tự có lớn sẽ dễ dàng xây dựng các trụ sở,
mua sắm trang thiết bị hiện đại, có khả năng bao phủ thị trường rộng và tạo nên các ưu
thế so với các đối thủ cạnh tranh. Các ngân hàng nhỏ với quy mô vốn bé sẽ tập trung vào
phát triển cho vay tiêu dùng vì với lượng vốn điều lệ ít ỏi sẽ không cạnh tranh được với
các ngân hàng lớn khi cho vay các khoản vay lớn.

Trong hoạt động ngân hàng, công nghệ đóng một vai trò rất quan trọng. Công
nghệ hiện đại như máy tính, máy ATM, hệ chương trình quản lý ngân hàng lõi giúp
cho các ngân hàng đơn giản hoá thủ tục, rút ngắn thời gian giao dịch, bảo mật thông
tin cho khách hàng lớn hơn. Trình độ quản lý thể hiện trong việc điều hành, kiểm
tra, kiểm soát các hoạt động của ngân hàng, với khả năng quản lý tốt sẽ giúp cho
các ngân hàng hoạt động có hiệu quả, đạt được các mục tiêu về lợi nhuận.
Khi đề ra chiến lược phát triển cho vay KHCN các ngân hàng phải quan tâm
tới công nghệ của mình, nó sẽ tạo nên những thuận lợi hay khó khăn cho ngân hàng. Nếu
ngân hàng có trình độ công nghệ hiện đại, tiên tiến sẽ là một yếu tố thúc đẩy phát triển
cho vay KHCN: rút ngắn thời gian cho vay đối với mỗi cá nhân, tạo được uy tín, sự tin
tưởng đối với khách hàng… qua đó làm tăng doanh số cho vay, gia tăng lợi nhuận.Các
ngân hàng phải đánh giá lại trình độ công nghệ của mình ở mức nào, khi so sánh với các
ngân hàng cạnh tranh và trình độ phát triển công nghệ ngân hàng trên thế giới.
Trình độ quản lý
Trình độ quản lý thể hiện trong việc điều hành, kiểm tra, kiểm soát các hoạt
động của ngân hàng, với khả năng quản lý tốt sẽ giúp cho các ngân hàng hoạt động
có hiệu quả, đạt được các mục tiêu về lợi nhuận
17
Chất lượng đội ngũ nhân viên
Hoạt động cho vay KHCN là hoạt động nghiệp vụ phức tạp và bao gồm nhiều
công đoạn. Ngoài sự trợ giúp của các trang thiết bị và công nghệ, yếu tố con người
được xem là rất quan trong, quyết định sự thành công hay thất bại của hoạt động
cho vay. Một NHTM muốn mở rộng được hoạt động cho vay KHCN cần phải có
đội ngũ nhân viên giỏi về chuyên môn nghiệp vụ, có đạo đức nghề nghiệp ở tất cả
các khâu từ nghiên cứu phát triển sản phẩm, tiếp thị, thẩm định, phân tích tín dụng
đến các khâu quản lý và thu hồi nợ. Việc chú trọng phát triển nguồn nhân lực tốt
trong các công đoạn cho vay đảm bảo cho NHTM có được các sản phẩm cho vay
phù hợp, đáp ứng được đa dạng các nhu cầu vay vốn của khách hàng, đảm bảo cho
việc xử lý hồ sơ vay vốn của kháhc hàng nhanh chóng, an toàn, hạn chế rủi ro, đảm
bảo khả năng thu hồi nợ tốt.

nhân viên của ACB Hà Nội chỉ khoảng 20 người, đến nay con số này đã khoảng hơn 500
nhân viên, từ một điểm giao dịch duy nhất, hiện tại ACB Hà Nội có hơn 50 điểm giao
dịch bao gồm: Chi nhánh chính và 30 Phờng giao dịch. Tính đến cuối năm 2010, tổng
huy động từ dân cư và tổ chức kinh tế đạt 4.637 tỷ đồng, dư nợ cho vay khách hàng đạt
1.938 tỷ đồng và tổng lợi nhuận trước thuế đạt 91 tỷ đồng. Với các kết quả đạt được
trong hoạt động kinh doanh, ngoài việc đóng góp một phần không nhỏ vào kết quả hoạt
động chung của ACB, ACB Hà Nội còn có đóng góp vai trò quan trọng trong việc phát
triển hoạt động của ACB tại khu vực Miền Bắc như hỗ trợ các chi nhánh khác trong
việc tuyển dụng, đào tạo, phát triển mạng lưới…
19
2.1.2. Cơ cấu tổ chức của ngân hàng TMCP Á châu Chi nhánh Hà Nội.
Sơ đồ 2.1. Sơ đồ tổ chức của ngân hàng TMCP Á Châu Chi nhánh Hà Nội
Ngoài các phòng giao dịch trực thuộc, ACB - Hà Nội được chia làm hai khối:
Khối kinh doanh và khối hỗ trợ kinh doanh.
Khối hỗ trợ kinh doanh bao gồm các phòng: Phòng kế toán và Phòng tổ chức
hành chính.
Khối kinh doanh được tổ chức định hướng theo đối tượng khách hàng bao
gồm hai phòng: Phòng khách hàng cá nhân và Phòng khách hàng doanh nghiệp,
trong đó mỗi phòng được tổ chức và có chức năng hoạt động như một "Chi nhánh
ngân hàng con". Điều đó có nghĩa là trong mỗi phòng điều có các bộ phận nghiệp
vụ tiền gửi, dịch vụ khách hàng và bộ phận tín dụng riêng phục vụ cho khách hàng
là KHCN hay KHDN.
Tại các PGD trực thuộc cơ cấu tổ chức chia thành 2 bộ phận chính: Bộ phận
giao dịch ngân quỹ và bộ phận tín dụng.
2.1.3. Tình hình hoạt động kinh doanh của ngân hàng TMCP Á Châu chi
nhánh Hà Nội trong giai đoạn 2008 - 2010
So sánh với các chi nhánh NHTM trên địa bàn Hà Nội, nguồn vốn huy động
20
Ban giám đốc
Phòng khách hàng

STT Các chỉ tiêu
31/12/2008 31/12/2009 31/12/2010
Số dư Số dư
+/- so với
năm
2008
Số dư
+/- so với
năm
2009
I
Tiền gửi của khách
hàng
2.481.128,3 4.115.420 66%
7.727.871,
6
88%
1 Tiền gửi thanh toán 680.895
1.053.498,
3
55% 2.304.135 119%
2 Tiền gửi tiết kiệm 1.800.233,3
3.061.921,
6
70%
5.423.736,
6
77%
II
Tiền gửi của các

1.465.998,
3
7% 1.942.210 32%
Tổng dư nợ 1.673.253,3
2.920.321,
6
75% 3.298.890 13%
(Nguồn: Báo cáo tổng kết hoạt động các năm 2008, 2009, 2010 của ACB Hà Nội)
Dư nợ cho vay của ACB Hà Nội qua các năm 2008 - 2010 liên tục có sự tăng
trưởng. Tổng dư nợ cho vay tính đến 31/12/2010 của ACB Hà Nội đạt 3.298 tỷ đồng
tăng 378 tỷ đồng so với cuối năm 2009 và tăng 1.625 tỷ đồng so với năm 2008. Mặc
dù đạt được dư nợ cho vay tương đối song, tỷ lệ dư nợ cho vay/nguồn vốn huy động
tại ACB Hà Nội đạt mức tương đối thấp khoảng 40%. Điều này phản ánh chính
sách cho vay của ACB là tương đối chặt chẽ và thận trọng và công tác marketing
trong hoạt động cho vay của ACB Hà Nội chưa đạt hiệu quả cao.
Về cơ cấu dư nợ cho vay theo khách hàng, dư nợ cho vay KHDN chiếm tỷ
trọng lớn trong tổn dư nợ cho vay tại ACB Hà Nội, tính đến hết năm 2010 dư nợ
cho vay KHDN chiếm tỷ trọng 59% tổng dư nợ, dư nợ cho vay KHCN từ năm 2009
có sự tăng trưởng khá tốt, chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong tổng dư nợ, năm 2008
dư nợ cho vay KHCN chỉ chiếm 18% tổng dư nợ đến năm 2010 tỷ lệ này đã lên đến
41%. Điều này chứng tỏ hoạt động cho vay của ACB Hà Nội trong thời gian vừa
qua có sự chú trọng mạnh vào khối khách hàng là doanh nghiệp, hoạt động cho vay
KHCN cũng còn tồn tại nhiều vấn đề : Sau khi tăng trưởng mạnh trong năm 2009,
22


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status