Khảo sát lỗi phát âm phụ âm tiếng Đức của sinh viên học chuyên ngành tiếng Đức và các biện pháp khắc phục - Pdf 26


2
Danh môc c¸c ch÷ viÕt t¾t trong luËn v¨n CTV: Céng t¸c viªn
PA: Phô ©m
NA: Nguyªn ©m
L1: Ng«n ng÷ thø nhÊt
L2: Ng«n ng÷ thø hai

3

môc lôc Trang
MỞ ĐẦU 6
1. Lý do chọn đề tài 6
2. Phạm vi và nội dung của đề tài 8
2.1. Đối tƣợng nghiên cứu 8
2.2. Nội dung của luận văn 8
2.3. Giới hạn của đề tài 9
3. Phƣơng pháp nghiên cứu 9
4. Những đóng góp của luận văn 10
5. Bố cục của luận văn 01
CHƢƠNG 1: Những khái niệm liên quan 11
1. Các tiêu chí phân loại và miêu tả phụ âm 11
2. Cấu trúc âm tiết và hệ thống phụ âm tiếng Đức. 12
2.1. Cấu trúc âm tiết tiếng Đức. 12
2.2. Hệ thống phụ âm tiếng Đức 13

1.3. Các bƣớc thu thập tƣ liệu 41
1.4. Phân loại và đánh giá các dạng lỗi 43
1.4.1. Quan niệm về lỗi phát âm 43
1.4.2. Cách xác định lỗi cụ thể 43
1.4.3. Phân loại, thống kê và miêu tả các dạng lỗi phát âm
phụ tiếng Đức. 45
2. Kết quả phân tích các lỗi phát âm phụ âm tiếng Đức 47
2.1. Các phụ âm đơn 47
2.1.1. Phụ âm đơn đứng trƣớc nguyên âm 47
2.1.2. Phụ âm đơn đứng giữa nguyên âm. 48

5
2.1.3. Phụ âm đứng sau nguyên âm 50
2.2. Các cụm phụ âm 52
2.2.1. Cum phụ âm đứng trƣớc nguyên âm 52
2.2.2. Cum phụ âm đứng sau nguyên âm 57
CHƢƠNG 3: Bước đầu giải thích nguyên nhân gây lỗi và một số
biện pháp khác phục hồi lỗi phát âm 67
1. Các nguyên nhân gây lỗi 67
1.1. Giao thoa ngôn ngữ 68
1.2. Giáo trình tiếng Đức. 72
1.3. Phƣơng pháp dạy ngoại ngữ. 73
1.4. Môi trƣờng học 73
1.5. Ý thức về việc rèn luyện phát âm 74
1.6. Đặc điểm tâm lý ngƣời Việt khi học ngoại ngữ 75
2. Giài pháp đề nghị đối với việc khắc phục các lỗi phát âm phụ
âm tiếng Đức 75
2.1. Truyền đạt kiến thức ngữ âm cơ bản đồng thời với việc
luyện tập phát âm 76
2.2. Bài tập luyện phát âm phụ âm tiếng Đức 78

gia thi tuyển niên học 2007 - 2008 là một minh chứng về vai trò của tiếng
Đức trong xã hội chúng ta.
Cũng giống nhƣ học bất cứ một ngoại ngữ nào, trong quá trình học
tiếng Đức, việc rèn luyện kĩ năng pháp âm đúng và hay ngay từ ban đầu là
mong muốn của bất cứ ngƣời dạy và ngƣời học nào. Tuy nhiên, trong học
ngoại ngữ, ngƣời học luôn sử dụng những thói quen vốn trở thành bản năng
của tiếng mẹ đẻ để áp dụng cho ngoại ngữ mà mình học ở tất cả các cấp độ:
dùng từ, đặt câu và hiểu câu… và cả trong cách phát âm. Sự khác biệt giữa

8
hai ngôn ngữ cả về mặt cấu trúc nội tại của hệ thống cũng nhƣ những khác
biệt về văn hóa mang tính chủng tộc luôn là rào cản của việc học ngoại
ngữ. Nguyên nhân này đã tạo ra những lỗi ngoại ngữ ở tất cả các bình diện
của ngôn ngữ. Những ngƣời Việt học tiếng Đức, trong phát âm, thƣờng
mắc những lỗi tiêu biểu mà nguyên nhân trƣớc tiên thói quen phát âm đơn
âm tiết của tiếng Việt sau đó là sự khác biệt giữa hai ngôn ngữ trong hệ
thống nguyên âm, phụ âm và cách dùng trọng âm, ngữ điệu…
Để chỉ ra những lỗi phát âm tiêu biểu nhằm khắc phục chúng ngay từ
giai đoạn đầu học tiếng Đức, việc đối chiếu, so sánh hệ thống ngữ âm tiếng
Việt và tiếng Đức là bƣớc đầu tiên. Đã có những công trình nghiên cứu về
vấn đề này nhƣ : Vũ Kim Bảng (1993, 1994, 1997, 2000). Tuy nhiên,
những công trình này mới chỉ dừng ở mức độ so sánh cấu trúc âm tiết, hệ
thống nguyên âm, phụ âm nhằm chỉ ra sự tƣơng đồng và khác biệt giữa hai
ngôn ngữ.
Cho đến nay, chưa có một khảo sát chi tiết mang tính thống kê nào
về thực tế lỗi phát âm của ngƣời Việt khi học tiếng Đức để chỉ ra các kiểu
lỗi phát âm điển hình là gì. Xuất phát từ thực tế đó, chúng tôi muốn tiến
hành một đề tài ứng dụng là khảo sát các lỗi phát âm các phụ âm tiếng Đức
của ngƣời học Việt Nam (các sinh viên học chuyên tiếng Đức) để từ đó tìm
những nguyên nhân gây lỗi và đề xuất cách khắc phục.

Luận văn của chúng tôi thực hiện 3 nội dung cơ bản sau:
- Xác định các dạng lỗi phát âm phụ âm mà sinh viên hay mắc phải
trên cơ sở khảo sát cách phát âm các phụ âm của sinh viên năm thứ hai
trƣờng Đại học dân lập Phƣơng Đông.
- Giải thích các nguyên nhân gây lỗi trên cơ sở so sánh đối chiếu cấu
trúc âm tiết và hệ thống phụ âm giữa tiếng Đức và tiếng Việt; các nguyên
nhân bên ngoài gây ra lỗi phát âm, ví dụ: giáo trình dạy tiếng, môi trƣờng
dạy tiếng
- Trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp nhằm khắc phục các lỗi phát
âm phụ âm của sinh viên Việt Nam học tiếng Đức. Các giải pháp này có

11
tính đến đặc điểm khác biệt mang tính loại hình giữa hai ngôn ngữ; đặc
điểm ngƣời học; môi trƣờng dạy ngoại ngữ… Hệ thống các bài tập dạy
phát âm các phụ âm tiếng Đức đƣợc xem là biện pháp cụ thể nhằm mục
đích giúp sinh viên trong một thời gian ngắn phát âm lƣu loát và chuẩn xác.
2.3. Giới hạn của đề tài
Luận văn này giới hạn phạm vi nghiên cứu là cách phát âm và các
lỗi phát âm về phụ âm của sinh viên Việt Nam khi học tiếng Đức. Thực tế,
trong khi học tiếng Đức, do sự khác biệt về loại hình, sinh viên việt Nam
còn mắc các lỗi ngữ âm khác nhƣ: lỗi phát âm nguyên âm, lỗi trọng âm,
ngữ điệu… Những vấn đề đó cần đƣợc nghiên cứu sâu bằng các chuyên
luận khác.
Các sinh viên theo học tiếng Đức tại Đại học dân lập Phƣơng Đông
phần lớn là từ các tỉnh thuộc đồng bằng Bắc Bộ. Do vậy, các em có cùng
một đặc điểm phát âm chung đó là phƣơng ngữ Bắc Bộ. Đây đƣợc xem là
cơ sở chung giúp cho việc so sánh, đối chiếu và giải thích các lỗi phát âm
phụ âm của các sinh viên khi học tiếng Đức.
3. Phương pháp nghiên cứu
Nội dung của luận văn này là phân tích lỗi phát âm. Do vậy, các 13
CHƢƠNG 1:
NHỮNG KHÁI NIỆM LIÊN QUAN
1. Các tiêu chí phân loại và miêu tả phụ âm
Trong cách mô tả truyền thống, một phụ âm đƣợc nhận diện và phân
biệt bằng chính hai tiêu chí cơ bản :
- Vị trí cấu âm: vị trí xuất hiện chƣớng ngại
- Phương thức cấu âm: phƣơng thức khắc phục vật chƣớng ngại cho
phép luồng không khí đi từ phổi ra ngoài để tạo thành một vật chƣớng ngại
trong khoang cấu âm liên quan đến các cơ quan cấu âm động và tĩnh của cơ
quan cấu âm. Các cơ quan động gồm: môi dưới, lưỡi và dây thanh. Các cơ
quan tĩnh tính từ ngoài vào trong bao gồm: môi trên, răng, lợi, ngạc cứng,
ngạc mềm; họng và hầu. Một chƣớng ngại vật tạo ra khi một cơ quan động
tiếp xúc với một cơ quan tĩnh và vị trí của cơ quan tĩnh đó đƣợc xem là vị
trí cấu âm. Các vị trí cấu âm cơ bản gồm: môi (bilabial); môi-răng (labio-
dental); răng (dental); lợi (alveolar); sau lợi (post-alveolar); quặt lưỡi
(retroflex); ngạc cứng (palatal); ngạc mềm (velar); lưỡi con (uvular);
họng (pharyngeal); hầu (glottal).
Phƣơng thức cấu âm nhƣ đã trình bày là cách thức vƣợt qua chƣớng
ngại vật của luồng hơi. Có những phƣơng thức chủ yếu thƣờng gặp nhƣ
sau: tắc (plosive); xát (fricative); mũi (nasal); rung (trill); vỗ (tap or flap);
tắc bên (lateral fricative); nước (approximant); nước bên (lateral
approximant) mà trong đó hai phƣơng thức tắc và xát là chủ đạo bắt gặp ở
tất cả các ngôn ngữ. Trong thực tế còn có các âm đƣợc tạo ra bằng cách kết
hợp cả phƣơng thức tắc và xát đƣợc gọi là những phụ âm tắc xát
(afficative).

cứng
(Palatal)
Mạc
(Velar)
Lưỡi con
(Uvu)
Thanh
quản
(Pharyn
)
Hỗu
(Glottal
)
Nổ (plosive)
p b t d

 

k g
q  

Mũi (Nasal)
m Xát (fricative)





s
z












h

Xát bên (Lat.
fric)




2. Cấu trúc âm tiết và hệ thống phụ âm tiếng Đức

15
2.1. Cấu trúc âm tiết tiếng Đức
Giống nhƣ các ngôn ngữ khác, trong tiếng Đức, vị trí hạt nhân hay
đỉnh của âm tiết là một nguyên âm (đơn hay đôi). Kết hợp với hạt nhân là
các phụ âm hay nhóm phụ âm đứng ở vị trí trước (onset) hay sau (coda) để
tạo thành âm tiết.
Ở vị trí trƣớc hạt nhân âm tiết có thể tồn tại một phụ âm, tổ hợp hai
hoặc nhiều nhất là ba phụ âm. Còn ở vị trí sau hạt nhân có thể tồn tại từ
một đến nhiều nhất là tổ hợp năm phụ âm nhƣ sơ đồ dƣới đây:
Onset
Nguyên âm
Coda
Ví dụ
NA
spree
NA
+

an
NA
+
+
Abt
NA
+
+
+
16
mới phát âm đúng đƣợc. Cũn cú những õm vừa cú tớnh chất phụ õm vừa cú
tớnh chất nguyờn õm nờn gọi là những bỏn phụ õm (semei - consonant).
Trong phân tích đối chiếu để xác định lỗi phát âm, chúng ta cần xác
định cơ sở miêu tả ngữ âm. Đặc điểm cơ bản của phụ âm là khi phát âm
chúng đƣợc cấu tạo bằng luồng không khí bị cản trở. Sự cản trở này xảy ra
ở những mức độ khác nhau. Nói chính xác là sự cản trở diễn ra bằng những
cách khác nhau và ở những bộ phận khác nhau của cơ quan phát âm.
Việc mô tả và phân loại các phụ âm tiếng Đức căn cứ vào hai tiêu chí
là: phương thức cấu âm và vị trớ cấu õm.
Tiếng Đức có 21 phụ âm đơn. Các phụ âm này đƣợc miêu tả nhƣ
sau:
+ Căn cứ vào vị trí cấu âm
Theo nguyên tắc căn cứ vào bộ phận cản trở không khí xảy ra ở đâu
trong hệ thống cơ quan cấu âm, có hàng loạt phụ âm đƣợc gọi theo vị trí
cản trở đó trong tiếng Đức. 21 phụ âm đƣợc phân loại theo tiêu chí này, cụ
thể là:
- Cỏc õm mụi : [m], [b], [p]
- Các âm đầu lƣỡi : [t], [d], [s], [z], [v], [f], [], [], [l],
[r], [n]
- Các âm mặt lƣỡi : [j], []
- Các âm gốc lƣỡi : [g], [k], [], [x]
- Cỏc õm thanh hầu : [h].
+ Căn cứ vào phương thức cấu âm
Dựa vào cách thức phát âm, các phụ âm tiếng Đức lại đƣợc phân
chia thành:
- Cỏc õm tắc: [p], [b], [t], [d], [g], [k]

17
Đặc trƣng của phụ âm tắc là có một tiếng nổ sinh ra do luồng không

sth stl
sth stl

tắc (Veschl.)
b
p d
t g
k
xát
(Enge)
trung
tâm
(zentr.) z
s


j

r
h

18
mũi (Nas.)
m


- Luồng hơi không thể đƣợc thoát ra ngoài qua đƣờng mũi cũng nhƣ
qua đƣờng miệng nhƣng luồng hơi đƣợc giữ lại trong khoang miệng trong
một thời gian ngắn.
- Hai bên lƣỡi ép chặt vào hai bên ngạc vì thế luồng hơi không thể
thoát ra theo hai bên lƣỡi.
- Khi đầu lƣỡi hạ xuống thấp luồng hơi lập tức từ vị trí chân răng (teeth
ridge) thoát ra ngoài với tiếng nổ nhẹ.
c. /k - g/
- Gốc lƣỡi ép sát vào ngạc mềm để cho luồng hơi đƣợc giữ lại một
thời gian ngắn.

20
- Khi lƣỡi hạ xuống thấp lập tức luồng hơi từ ngạc mềm đƣợc thoát
ra ngoài miệng với một tiếng nổ nhẹ.
2.3.2. Các âm xát
Đối với các âm xát luồng hơi từ phổi đi qua một khe hẹp để thoát
ra ngoài gây nên sự cọ xát.
a. /f - v/
- Ngạc mềm không cho luồng hơi thoát ra ngoài qua đƣờng mũi mà
đi qua đƣờng miệng.
- Môi dƣới ép xát vào hàm răng trên (upper front teeth). Lúc này tạo
nên một khe hẹp và luồng hơi đƣợc thoát ra ngoài qua khe hẹp đó gây ra
một sự cọ xát nhẹ.
- Lƣỡi không trực tiếp liên quan đến việc tạo ra những âm này nhƣng
không phải lƣỡi không có tác dụng gì. Thật ra, lƣỡi giúp cho việc phát âm
các âm tiếp theo, ví dụ nhƣ trong /fi:/ lƣỡi sẽ ở vị trí của /i:/; trong /fri:/ lƣỡi
sẽ ở vị trí /r/…
Sự khác nhau giữa /f/ và /v/ chủ yếu là về thanh tính .
/f/ là một phụ âm vô thanh;
/v/ là một phụ âm hữu thanh.

Để phát âm /h/, miệng ở vị trí cấu âm của NA đứng kế ngay sau /h/.
Ví dụ khi đứng trƣớc /i:/, miệng ở vị trí cấu âm /i:/, trƣớc /a:/ miệng ở vị trí
cấu âm của /a:/. Đồng thời việc chuẩn bị phát âm NA là một luồng hơi ngắn
từ phổi thoát ra ngoài /h/ không đƣợc phát âm quá mạnh cũng nhƣ không
thể bị bỏ qua. Bởi vì nhiều từ cần có sự phân biệt giữa sự hiện diện và vắng
mặt của /h/ . Lý do thứ hai là vì bỏ qua không phát âm /h/ là cách phát âm
của những ngƣời chƣa có kỹ năng phát âm đúng.
2.3.3. Các âm mũi
Khi cấu âm ba âm mũi, luồng hơi bị giữ lại trong khoang miệng để
sau đó đƣợc thoát ra ngoài qua đƣờng mũi.
a. /m-n/
- Đối với /m/, hai môi mím chặt vào nhau; đối với /n/ đầu lƣỡi ép
chặt với lợi và hai bên lƣỡi cùng ép chặt vào hai bên của ngạc.
- Cả hai âm đều hữu thanh và luồng hơi đƣợc thoát qua đƣờng mũi.
b. /

/

22
- Ngạc mềm tĩnh và luồng hơi đƣợc thoát ra ngoài qua đƣờng mũi.
- Gốc lƣỡi ép xát vào ngạc mềm
- // là âm hữu thanh.
2.3.4. Các bán âm
a. /l/
Thay vì luồng hơi đƣợc thoát qua đƣờng miệng thì nó đƣợc thoát
ra ngoài theo đƣờng vòng vì sự cản trở đƣợc tạo ra ở giữa miệng.
- Đầu lƣỡi (và hai bên thân lƣỡi) tiếp giáp với lợi, sự cản trở đƣợc
tạo ra ở giữa miệng.
- Hai bên lƣỡi không tiếp giáp với hai bên ngạc, vì vậy luồng hơi có
thể đi qua hai bên lƣỡi và ngạc, vòng qua chỗ bị cản trở ở giữa. Sự cản trở

thực của âm vị tiếng Đức nói chung và âm vị PA tiếng Đức nói riêng bị chi
phối rất lớn bởi các bối cảnh ngữ âm mà nó xuất hiện.
2.4. Mối tương quan giữa âm và chữ ở các phụ âm:
a) Các phụ âm đơn
Âm
Chữ cái
Ví dụ
1. [b]
b
Baum
2. [p]
p
Paste
3. [t]
t/ th
Tur/ Kathode
4. [d]
d
Druck
5. [g]
g
Organ
6. [k]
k/ c
Kiste/ Caritas
7. [z]
s
Seife
8. [s]
s/ ss - 

18. [h]
h
Haus
19. [m]
m
Lampe
20. [n]
n
Nagel
21. []
ng
Gang

b) Các tổ hợp phụ âm tắc xát:
Trong tiếng Đức còn có 3 phụ âm tắc - xát sau:

Âm
Chữ cái
Ví dụ
[kv]
qu
Quelle
[ks]
x
Xenophobic
[ts]
z
Zaum

3. Âm tiết và hệ thống phụ âm tiếng Việt

Âm cuối
(Theo Đoàn Thiện Thuật, tr. 80)
Theo mô hình này, ở dạng đầy đủ nhất, âm tiết tiếng Việt gồm 2
thành phần chính tạo nên: thanh (thanh điệu) và âm (âm đầu, âm đệm, âm
chính và âm cuối). Các thành phần này không bình đẳng với nhau về mức

26
độ độc lập cũng nhƣ khả năng kết hợp. Có thể miêu tả mối quan hệ giữa
các thành phần này bằng mối quan hệ hai bậc:
Bậc 1: thanh điệu, âm đầu và vần
Các phần này của âm tiết quan hệ với nhau lỏng lẻo, có thể
đƣợc phân chia bằng các thủ pháp hình thái học nhƣ: hiệp vần thơ, nói lái,
các qui tắc láy từ, iếc hoá…
Bậc 2: âm đệm, âm chính và âm cuối
Các phần này quan hệ với nhau chặt chẽ trong phạm vi phần vần của
âm tiết. Việc phân chia các thành phần này chỉ thuần tuý dựa vào đặc điểm
ngữ âm của chúng.
Trong cấu trúc âm tiết tiếng Việt, phụ âm đảm nhiệm vị trí âm đầu
và âm cuối. Điểm đặc biệt và cũng là khác biệt của cấu trúc âm tiết tiếng
Việt so với cấu trúc âm tiết của các ngôn ngữ biến hình trong đó có tiếng
Đức là:
- Trong cấu trúc âm tiết tiếng Việt, đứng ở vị trí âm đầu và âm cuối
chỉ là các phụ âm đơn. Không có các tổ hợp phụ âm (hai, ba hay nhiều hơn
các phụ âm) ở các vị trí này.
- Các phụ âm ở vị trí đầu và cuối âm tiết có cƣơng vị khác nhau. Do
vậy chúng lập thành hai hệ thống.
c) Các loại hình âm tiết tiếng Việt
Tiếng Việt là ngôn ngữ đơn tiết tính mang thanh điệu có cấu trúc âm
tiết đơn giản theo mô hình CVC ( phụ âm - nguyên âm - phụ âm ). Trong
cấu trúc này hai yếu tố bắt buộc phải tồn tại là nguyên âm và thanh điệu.

C
1
V
4
C
1
V
ta
5
C
1
VV
toa
6
C
1
VVV
toai
V C
2
7
V C
2
an
8
VV C
2

oan
9

3.2.1. Hệ thống phụ âm đầu
Trong tiếng Việt, phụ âm đầu là thành phần mở đầu âm tiết. Nó
tƣơng đối độc lập so với các thành phần khác là: âm đệm, vần và thanh
điệu.

Trích đoạn Truyền đạt kiến thức ngữ âm cơ bản đồng thời với việc
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status