Hiện tượng lặp từ trong các tư liệu thành văn cổ của tiếng Việt - Pdf 26


1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN TRẦN HƯƠNG THỤC
HIỆN TƯỢNG LẶP TỪ TRONG CÁC TƯ LIỆU
THÀNH VĂN CỔ CỦA TIẾNG VIỆT

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC Hà Nội – 2013

2
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN


4.Phƣơng pháp nghiên cứu 16
5.Cấu trúc của luận văn 17
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHƢƠNG THỨC LẶP TỪ 18
1.1. Cơ sở lý luận về phƣơng thức lặp từ 18
1.2. Ý nghĩa ngữ pháp và phƣơng thức ngữ pháp 21
1.2.1. Ý nghĩa ngữ pháp 21
1.3. Phân biệt láy hoàn toàn với lặp từ 27
1.3.1. Về hình thức và cơ chế 27
1.3.2. Về nghĩa 29
1.4. Phân biệt lặp từ thuộc ngữ pháp với lặp từ phong cách nghệ
thuật ngôn từ 30
CHƢƠNG 2: HIỆN TƢỢNG LẶP DANH TỪ TRONG CÁC NGUỒN
TƢ LIỆU KHẢO SÁT 33
2.1. Phân tích định lƣợng hiện tƣợng lặp danh từ trong các nguồn
tƣ liệu đƣợc khảo sát. 33
2.2. Một số tƣơng ứng Hán Việt và Việt ở dạng lặp danh từ 38
2.3. Những hệ quả ngữ nghĩa, ngữ pháp do lặp danh từ đem lại. . 39
2.3.1. Về cấu tạo, hình thức 40
2.3.2. Về mặt ngữ nghĩa, ngữ pháp 41
2.3.3.Về mặt ngữ dụng 42
CHƢƠNG 3: HIỆN TƢỢNG LẶP ĐỘNG TỪ, TÍNH TỪ TRONG CÁC
NGUỒN TƢ LIỆU KHẢO SÁT 45

4
3.1. Phân tích định lƣợng hiện tƣợng lặp động từ, tính từ trong các
nguồn tƣ liệu đƣợc khảo sát. 45
3.2. Một số tƣơng ứng Hán Việt và Việt ở dạng lặp động từ, tính từ 57
3.3. Những hệ quả ngữ nghĩa, ngữ pháp do lặp động từ, tính từ
đem lại 59
3.3.1. Về cấu tạo, hình thức 59

Buồn trông gió cuốn mặt gnhềnh
Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi”
(Truyện Kiều, Nguyễn Du)

6
- Của ong bướm này đây tuần tháng mật
Này đây hoa của đồng nội xanh rì
Này đây lá của cành tơ phơ phất
Của yến anh này đây khúc tình si
(Vội vàng- Xuân Diệu)
Vấn đề quan tâm của chúng tôi ở đây không phải là hiện tượng lặp từ
với tư cách là một phương tiện tu từ như thế.
Hai là, lặp từ được xem xét trong tương quan với từ láy khi nghiên cứu
về từ láy. Khi phân loại các từ láy trước hết chúng thường được chia thành: từ
láy bộ phận và từ láy hoàn toàn. Trong từ láy hoàn toàn có hai loại:
a) Những từ như cào cào, châu chấu, se sẻ
b) Những từ như xanh xanh, đo đỏ, mềm mềm, người người.
Loại b) này thường được xử lý theo hai cách:
Thứ nhất, một số nhà nghiên cứu cho chúng là từ láy, thậm chí thu thập
vào bảng từ từ điển: Nguyễn Văn Tu, Nguyễn Tài Cẩn, Hồ Lê, Đỗ Hữu Châu
Thứ hai, một số khác thì gạt chúng ra khỏi địa hạt từ láy coi chúng là
dạng láy/ dạng láy của từ/ lặp từ như: Hoàng Văn Hành, Hoàng Tuệ, Hoàng
Dũng, Nguyễn Đức Tồn
Các học giả xử lý theo hướng một vì thấy hai loại a) và b) có hình thức
cấu tạo giống hệt nhau. Nhưng thật ra, hai loại này khác xa nhau về cách thức
tổ chức cấu tạo và nội dung ngữ nghĩa, ngữ pháp.
Về cách thức cấu tạo, tuy hai loại này giống hệt nhau về hình thức nhưng
khác nhau về bản chất. Những từ như : cào cào, ba ba, châu chấu không có
hình thức đơn vị gốc, nếu như có những đơn vị song song tồn tại cả hình thức
hai âm tiết và một âm tiết như: bướm và bươm bướm, sẻ và se sẻ thì kết quả

làm biến đổi nghĩa từ vựng của đơn vị đó. (Điều này sẽ được phân tích ở các
chương sau).
Khi khảo sát một số ngữ liệu là các văn bản Nôm thuộc giai đoạn tiếng
Việt cổ và Việt trung đại
1
, chúng tôi thấy có sự xuất hiện của hiện tượng này.
Do đó, chúng tôi chọn đề tài: "Hiện tượng lặp từ trong các tư liệu thành văn
cổ của tiếng Việt” để làm sáng tỏ và trả lời cho những câu hỏi sau đây:
- Phương thức lặp từ được thực hiện như thế nào?
- Nó được thực hiện nhằm mục đích gì, đem đến những biến đổi như
thế nào?
- Đây là một hiện tượng mới hay có từ xưa, nó có liên tục hay bị đứt
đoạn trong lịch sử.
- Những hệ quả ngữ nghĩa, ngữ pháp của sản phẩm do lặp từ tạo nên là gì ?
- Bản chất của hiện tượng này là gì trong ngữ pháp tiếng Việt.
1
Hiện nay, khi nói về nguồn gốc của tiếng Việt đại đa số các nhà nghiên cứu đều đã chấp nhận được với nhau: Tiếng Việt là
một ngôn ngữ thuộc nhóm Việt Mường , ngành Môn- Khme, ngữ hệ Nam Á. Về việc phân chia các giai đoạn phát triển của tiếng Việt đã
có rất nhiều cách vì tiếng Việt đã trải qua một chặng đường dài hình thành, tiếp xúc, phát triển đầy phức tạp. Trong đề tài này chúng tôi
chọn cách phân kì lịch sử tiếng Việt của Nguyễn Tài Cẩn[3] vì sự phân chia của tác giả chi tiết, sát thực và hợp lý bởi có “dựa vào
những nhân tố , sự kiện văn hoá, xã hội, ngôn ngữ, văn tự một cách đầy đủ và chính xác, gắn liền với những sự kiện chính trị, xã hội có
vai trò như những cột mốc trên tiến trình lịch sử của ngôn ngữ và dân tộc”[34]. Như vậy, tiếng Việt với lịch sử hơn 12 thế kỉ có một
bảng phân kì như sau:
Tiếng Tiền Việt (proto Việt): vào khoảng thế kỉ VIII-IX
Tiếng Việt tiền cổ: vào khoảng thế kỉ X-XI-XII
Tiếng Việt cổ: vào khoảng thế kỉ XIII-XIV-XV-XVI
Tiếng Việt trung đại : vào khoảng thế kỉ XVII-XVIII- nửa đầu XIX

thanh huyền, thanh ngã, thanh nặng.
b. Đối lập bằng - trắc giữa các thanh điệu cùng âm vực sẽ khiến cho
trong các dạng lặp, nếu cả hai thành tố đều có thanh trắc thì bao giờ một thành
tố (tiếng) cũng chuyển sang thanh bằng cùng âm vực ấy.

10
Vì vậy, trong một số trường hợp, dạng lặp từ ở đây có thể song song
tồn tại dạng lặp hoàn toàn (giữ y nguyên) và dạng lặp có biến thanh. Thí dụ:
dưng dưng/dửng dưng (Truyền Kỳ mạn lục giải âm).
Về những trường hợp lặp từ có biến vần, sự chuyển đổi âm cuối được
thực hiện theo những qui tắc chặt chẽ:
Các phụ âm tắc, vô thanh sẽ chuyển thành các phụ âm vang mũi cùng cặp:
- p  - m
- t  - n
- k  - ng
Thí dụ: ngần ngật…
Như vậy về nguyên tắc, những từ tượng thanh miêu tả trạng thái động của
sự vật như: ồ ồ, dành dành/ đành đành, oang oang, rách rách, xác xác cũng
sẽ được khảo sát.
Tuy nhiên, luận văn sẽ không thu thập, xử lý các trường hợp sau, vì
chưa thấy đủ căn cứ để khẳng định chúng được tạo nên từ một từ gốc tương
ứng. Thí dụ:
- Con bươm bướm nhập nên chưng thế giới chiêm bao [3, tr.70 a].
-Trong ấy vây nên cờ một cuộc,
Khéo đâu vang tiếng cái ve ve [5,40]
- Miết Giáp mu dải cả thay
Sơn Xuyên Giáp dày là vẩy cái tê tê [6, 243]
-Linh Nông đàn cá rồng rồng
Chi Cáp cá luống cũng dòng chi chi [6, 203]
-Phụ Trùng dài bé cào cào

phới [3, tr.7 b] có ngữ nghĩa, ngữ pháp được tổ chức theo cách khác hẳn so
với cách tổ chức, hình thành của dạng lặp như kính lễ kính lễ và những từ láy
như bươm bướm, ve ve, tê tê, cào cào
2.1.2. Sau khi có được danh sách các dạng lặp thu thập được, với loại
lặp động từ và tính từ chúng tôi phân chia chúng thành hai loại:
- Loại A là những dạng lặp hiện nay có đơn vị gốc rõ ràng để đối chiếu,
thí dụ: nhẹ nhẹ, xanh xanh, đảo đảo, mọn mọn
- Loại B là những dạng lặp hiện nay đơn vị gốc để đối chiếu không có
hoặc không được thật rõ (vì đơn vị gốc - từ đơn - đó, không hoặc hầu như
không còn được dùng nữa, hoặc đã hoàn toàn bị mờ nghĩa ) thí dụ: dao dao,
đẵng đẵng, lẵm lẵm, chan chan, xưng xưng Sở dĩ danh từ không cần thiết
làm việc này vì tuyệt đại đa số các danh từ đều có đơn vị gốc rõ ràng.
Với những đối tượng đã được xác định như trên, luận văn thu thập tất
cả các loại từ trong các nguồn ngữ liệu, đưa vào bảng từ chung, nhưng tập
trung đi sâu nghiên cứu lặp danh từ, lặp động từ và tính từ, các loại từ còn lại
sẽ dành cho một nghiên cứu khác. Thí dụ:
a) Lặp danh từ:
- bụi bụi, đấng đấng (Phật thuyết đại báo phụ mẫu ân trọng kinh)
- chốn chốn, cành cành, phật phật ( Khóa hư lục)
- đêm đêm, kiếp kiếp, lần lần (Truyền kì mạn lục)
- chú chú, nơi nơi, voi voi (Thiên Nam ngữ lục)
- gia gia, thế thế, trần trần (Thiền tông bản hạnh)

13
- bụi bụi,bước bước,dòng dòng (Chỉ Nam ngọc âm giải nghĩa)
- đêm đêm, gió gió, mưa mưa (Hồng Đức quốc âm thi tập)
- người người, ngày ngày (Truyện Kiều)
- nơi nơi, đêm đêm (Lục Vân Tiên)
- bụi bụi, ngày ngày, ngựa ngựa, xe xe (Quốc âm thi tập)
- chậu chậu, cành cành, chữ chữ (Truyện Hoa Tiên)

-Quốc âm thi tập, tập thơ Nôm của Nguyễn Trãi, niên đại khoảng thế kỉ
XV [4]
-Hồng Đức quốc âm thi tập, tập thơ Nôm thường được tin là của hội
Tao đàn, niên đại khoảng thế kỉ XV[5]
-Chỉ Nam ngọc âm giải nghĩa, có thể xem là một cuốn từ điển sớm nhất
ở nước ta, niên đại khoảng thế kỉ XV [6].
- Truyền kỳ mạn lục giải âm gọi tắt Truyền kì mạn lục
2
đây là bản dịch
loạt truyện viết bằng Hán văn của Nguyễn Dữ sang tiếng Việt-chữ Nôm của
tác giả Nguyễn Thế Nghi, niên đại khoảng thế kỉ XVI [7].
- Thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm, niên đại khoảng thế kỉ XV- XVI[8]
Từ thế kỉ XVII đến nửa đầu thế kỉ XIX:
- Thiên Nam ngữ lục; niên đại khoảng cuối thế kỉ XVII [9].
- Thiền tông bản hạnh; niên đại khoảng cuối thế kỉ XVII [10]. 2
Trong luận văn này chúng tôi chỉ khảo sát 2 tập đầu tiên trong tòan bộ tác phẩm

15
-Truyện Hoa Tiên của Nguyễn Huy Tự niên đại khoảng thế kỉ XVIII [11]
- Truyện Kiều của Nguyễn Du, niên đại khoảng thế kỉ XIX [12]
-LụcVân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu, niên đại khoảng thế kỉ XIX [13].
(Về các nguồn ngữ liệu có điểm cần lưu ý là giữa Quốc âm thi tập và
Thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm có 27 bài thơ trùng nhau hoặc gần trùng nhau,
cần phải tiếp tục nghiên cứu để minh định tác giả. Tuy nhiên, đối với những
khảo cứu trong đề tài này, dù là tác giả nào, những nguồn ngữ liệu đó vẫn là
sản phẩm ngôn ngữ của thế kỉ XV-XVI).
Cần nhấn mạnh tầm quan trọng của các nguồn tư liệu thành văn này,

Ý nghĩa khoa học của luận văn là cung cấp thêm thông tin về hiện
tượng lặp xét trên phương diện ngữ pháp, phương diện ngữ nghĩa, phương
diện ngữ dụng. Trên cơ sở đó, có thể bổ sung thêm một số điểm về lý luận
ngữ pháp tiếng Việt đối với phương thức ngữ pháp, ý nghĩa ngữ pháp.
4.Phƣơng pháp nghiên cứu
Để thực hiện luận văn này chúng tôi sử dụng kết hợp một số thủ pháp,
phương pháp được sử dụng trong nghiên cứu ngôn ngữ học như: thủ pháp
thống kê, thủ pháp phân tích, phương pháp so sánh, phương pháp miêu tả,
phối hợp các nghiên cứu định tính và định lượng. Cụ thể như sau: Liệt kê,
kiểm đếm các dạng lặp, phân loại, tính tần xuất để cho các kết quả phân tích
định lượng. Phân tích các biến đổi về ngữ nghĩa, ngữ pháp của các đơn vị lặp
với đơn vị gốc, từ những phân tích này có những miêu tả, nhận xét. Đối chiếu
các đơn vị này với các nguồn ngữ liệu khác nhau hoặc các nguồn Hán văn để
thấy sự tương ứng.

17
5.Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Phụ lục, luận văn gồm 3 chương:
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về phƣơng thức lặp từ.
Chƣơng 2: Hiện tƣợng lặp danh từ trong các nguồn tƣ liệu khảo sát
Chƣơng 3: Hiện tƣợng lặp động từ, tính từ trong các nguồn tƣ liệu
khảo sát

18
Chƣơng 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHƢƠNG THỨC LẶP TỪ
1.1. Cơ sở lý luận về phƣơng thức lặp từ
Hiện tượng lặp từ và từ láy hoàn toàn là hai vấn đề có liên quan đến
nhau, giữa hai hiện tượng này hiện có những chỗ mờ chưa được xác định rõ
ràng. Cho đến nay bản thân hiện tượng lặp vẫn chưa được nghiên cứu toàn

Các tác giả của Ngữ pháp tiếng Việt (Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội,
1983) xác định: "Để phân chia các từ láy đôi, trước hết dựa vào cái được giữ
lại trong âm tiết của hình vị cơ sở:: nếu toàn bộ âm tiết được giữ nguyên thì ta
có từ láy toàn bộ:
xanh-xanh xanh
tím- tim tím
Nếu bộ phận âm tiết được giữ lại thì ta có từ láy bộ phận
Từ láy toàn bộ là từ láy trong đó có sự lặp lại hoàn toàn của tiếng" [46;56]
Nguyễn Thiện Giáp cho rằng: “Ngữ láy âm là những cụm từ được hình
thành do sự lặp lại hoàn toàn hay lặp lại có kèm theo sự biến đổi ngữ âm nào
đó của từ đã có. Đặc trưng ngữ nghĩa nổi bật của ngữ láy âm là giá trị gợi tả
(biểu cảm, mô phỏng, tượng hình, tượng thanh)”. Từ láy hoàn toàn là "những
tổ hợp có sự tương ứng hoàn toàn giữa hai thành tố; như: ầm ầm, ào ào, oang
oang, khò khò khò, pho pho, hu hu, rầm rầm, đùng đùng" [16, tr 93-94]
Bên cạnh xu hướng coi những dạng lặp từ là những từ láy hoàn toàn thì
một số nhà nghiên cứu lại tách những trường hợp như: xanh xanh, gật gật ra
khỏi từ láy hoàn toàn và gọi đây lặp từ/ dạng láy/ dạng lặp/ từ lặp. Tiêu biểu
như Hoàng Văn Hành, ông chỉ ra rằng: "Cái mà lâu nay các nhà nghiên cứu

20
gọi là "biện pháp láy" (Nguyễn Tài Cẩn, 1976, tr 109) thực chất bao gồm cả
phép láy từ và tạo từ láy. Hệ quả của cái thứ nhất là dạng láy của từ (đỏ > đo
đỏ), còn hệ quả của cái thứ hai là từ láy( đỏ > đỏ đắn). Như vậy "hiện tượng
láy" là tên gọi chung của cả từ láy và dạng láy của từ";"Thực ra giữa từ láy
đôi và dạng láy đôi của từ có những điểm khác nhau về bản chất. Trong từ láy
đôi điệp vần, từ tố gốc đã mờ nghĩa và do đó nó không được dùng độc lập, thí
dụ: lê thê, đăm đắm, vv còn trong dạng láy đôi của từ thì đơn vị gốc là một
từ có nghĩa đầy đủ, hoạt động tự do trong lời nói, thí dụ xanh- xanh xanh, đỏ-
đo đỏ; "[23;12]
Nguyễn Đức Tồn trong quá trình chứng minh tiếng Việt không có từ

+Láy nguyên vẹn
+Biến thanh, biến vần
Hiện tượng lặp từ cũng được cấu tạo y nguyên một phương thức, một
cơ chế. Cụ thể là:
- Lặp không biến đổi hình thức
- Lặp có biến đổi hình thức
Tuy nhiên, lặp từ là một phương thức ngữ pháp cho chúng ta những
hiệu quả ngữ nghĩa, ngữ pháp và ngữ dụng hoàn toàn khác với từ láy hoàn
toàn mà chúng tôi sẽ phân tích ở các chương tiếp sau.
1.2. Ý nghĩa ngữ pháp và phƣơng thức ngữ pháp
1.2.1. Ý nghĩa ngữ pháp
Theo các tác giả Dẫn luận ngôn ngữ học thì ý nghĩa riêng của từng từ
được gọi là ý nghĩa từ vựng, còn ý nghĩa riêng của từng câu cũng thuộc phạm

22
trù ý nghĩa từ vựng vì nó do ý nghĩa từng vựng của các từ trong câu trực tiếp
tạo nên.
Bên cạnh loại ý nghĩa trên, mỗi loạt đơn vị còn có ít nhất một ý nghĩa
chung bao trùm lên. Chẳng hạn 3 từ boy, pen, book đều có ý nghĩa chung là
"sự vật" và "số ít" Loại ý nghĩa chung bao trùm lên một loạt đơn vị ngôn
ngữ như vậy gọi là ý nghĩa ngữ pháp.
Là ý nghĩa chung của hàng loạt từ, hàng loạt câu, ý nghĩa ngữ pháp có
tính khái quát hoá cao hơn ý nghĩa từ vựng. Có thể nói, ý nghĩa từ vựng là ý
nghĩa vật thể, còn ý nghĩa ngữ pháp là ý nghĩa siêu vật thể hay phi vật thể.
Cũng như ý nghĩa từ vựng, ý nghĩa ngữ pháp phải được thể hiện ra
bằng những hình thức nhất định. Có điều, mỗi loại ý nghĩa tìm cho mình một
loại phương tiện biểu hiện riêng: Đối với việc biểu đạt ý nghĩa từ vựng,
phương tiện ấy là phương tiện từ vựng. Còn phương tiện thích hợp để biểu thị
ý nghĩa ngữ pháp là phương tiện ngữ pháp. Thí dụ các ý nghĩa từ vựng chỉ
"cái bút", "quyển sách" trong tiếng Anh được thể hiện bằng những từ tương

Phương thức phụ gia có thể được sử dụng để bổ sung nghĩa từ vựng,
tạo nên từ mới. Nó cũng có thể được sử dụng để thể hiện nghĩa ngữ pháp cho
từ. Trong phần này, ta chỉ nghiên cứu phương thức ngữ pháp phụ gia thể hiện
nghĩa ngữ pháp.
Phương thức phụ gia được sử dụng phổ biến trong các ngôn ngữ Nga,
Anh, Pháp, Đức
2. Phương thức biến tố bên trong (phương thức luân phiên âm vị,
phương thức biến dạng chính tố)

24
Phương thức biến tố bên trong là cách thay đổi một bộ phận của căn tố
để thể hiện nghĩa ngữ pháp.
Thí dụ: foot (bàn chân - số ít) → feet (bàn chân - số nhiều)
Trong thí dụ trên âm /u/ của căn tố foot đã biến thành âm /i/ (feet) để thể hiện
nghĩa số nhiều.
Phương thức biến tố bên trong còn được sử dụng phổ biến trong một số
ngôn ngữ khác như tiếng Đức, tiếng Ả Rập.
3. Phương thức thay căn tố
Phương thức thay căn tố là cách thay đổi hoàn toàn vỏ ngữ âm của căn
tố để biểu thị nghĩa ngữ pháp.
Thí dụ: từ go trong tiếng Anh có nghĩa ngữ pháp thì hiện tại, đã biến
đổi hoàn toàn vỏ ngữ âm của mình thành went để thể hiện thì quá khứ.
Trong thí dụ này vỏ ngữ âm của từ đã thay đổi hẳn sang một hình thức khác
để thể hiện nghĩa ngữ pháp. Ta gọi đó là phương thức thay căn tố.
Trong những trường hợp như go → went trên, hai vỏ âm thanh của đơn vị
ngôn ngữ khác hẳn nhau nhưng đây không phải là hai từ mà vẫn là hai dạng
thức khác nhau của một từ vì chúng có chung một nghĩa từ vựng, chỉ phân
biệt nhau về nghĩa ngữ pháp:
4. Phương thức trọng âm
Phương thức trọng âm là cách dùng trọng âm để biểu đạt nghĩa ngữ pháp.

Mẹ tôi ốm. (tôi: nghĩa sở hữu)
Trong các ngôn ngữ như tiếng Việt, tiếng Hán, tiếng Thái trật tự từ
thường biểu hiện các nghĩa quan hệ (nghĩa đối tượng, nghĩa chủ thể ) Sự

Trích đoạn Về mặt ngữ nghĩa, ngữ pháp Một số tƣơng ứng Hán Việt và Việt ở dạng lặp động từ, tính từ Những hệ quả ngữ nghĩa, ngữ pháp do lặp động từ, tính từ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status