ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Đ
Đ
À
À
O
OH
H
O
O
À
À
I
IT
T
H
H
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Trịnh Cẩm Lan Phản biện 1: PGS.TS. Nguyễn Thị Việt Thanh
Phản biện 2: TS. Lưu Tuấn Anh
Luận văn được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận thạc sĩ họp tại:
Khoa Ngôn ngữ, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn
Vào 08h30 ngày 13 tháng 1 năm 2012.
Có thể tìm hiểu luận văn tại:
- Trung tâm thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội
- Phòng Tư liệu Khoa Ngôn ngữ học, trường ĐHKHXH&NV.
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
PHÂN TÍCH ĐỐI CHIẾU TỪ CHỈ QUAN HỆ HỌ HÀNG
TRONG TIẾNG HÀN VÀ TIẾNG VIỆT
(Từ góc độ ngôn ngữ và văn hóa) Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Mã số: 60 22 01
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SỸ
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Trịnh Cẩm Lan
Hà Nội – 2011
Công trình được hoàn thành tại:
KHOA NGÔN NGỮ HỌC
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Trịnh Cẩm Lan Phản biện 1: PGS.TS. Nguyễn Thị Việt Thanh
Phản biện 2: TS. Lưu Tuấn Anh
1.1.1. Quan hệ họ hàng (quan hệ thân tộc) 5
1.1.1.1. Các loại quan hệ trong gia đình 6
1.1.1.2. Quan hệ thân tộc trong tri nhận của người Hàn và người Việt 7
1.1.2. Từ chỉ quan hệ họ hàng 11
1.1.2.1. Từ chỉ quan hệ họ hàng nói chung 11
1.1.2.2. Từ chỉ quan hệ họ hàng trong tiếng Hàn và tiếng Việt 11
1.2. Cấu tạo từ 14
1.2.1. Đơn vị và phương thức cấu tạo từ trong ngôn ngữ 14
1.2.1.1. Đơn vị cấu tạo từ trong ngôn ngữ 14
1.2.1.2. Phương thức cấu tạo từ trong ngôn ngữ 16
1.2.2. Đơn vị và phương thức cấu tạo từ trong tiếng Hàn 17
1.2.2.1. Đơn vị cấu tạo từ trong tiếng Hàn 17
1.2.2.2. Phương thức cấu tạo từ trong tiếng Hàn 19
1.2.3. Đơn vị và phương thức cấu tạo từ trong tiếng Việt 21
1.2.3.1. Đơn vị cấu tạo từ trong tiếng Việt 21
1.2.3.2. Phương thức cấu tạo từ trong tiếng Việt 22
1.3. Nghĩa của từ 25
1.3.1. Khái niệm nghĩa của từ 25
1.3.2. Cấu trúc nghĩa của từ 26
Đào Hoài Thu
iv
1.3.3. Phương pháp phân tích thành tố nghĩa 28
1.4. Nghiên cứu đối chiếu từ chỉ quan hệ họ hàng giữa hai ngôn ngữ 29
1.4.1. Khái niệm về nghiên cứu đối chiếu 30
1.4.2. Nghiên cứu đối chiếu từ chỉ quan hệ họ hàng giữa các ngôn ngữ 30
1.4.2.1. Nghiên cứu đối chiếu từ chỉ quan hệ họ hàng 31
1.4.2.2. Nghiên cứu đối chiếu từ chỉ quan hệ họ hàng trong tiếng Việt và tiếng
Hàn 32
1.5. Quan hệ ngôn ngữ - văn hóa và nghiên cứu từ chỉ quan hệ họ hàng từ
Chương 3 60
PHÂN TÍCH ĐỐI CHIẾU NGHĨA CỦA TỪ CHỈ QUAN HỆ HỌ HÀNG
TRONG TIẾNG HÀN VÀ TIẾNG VIỆT 60
(Từ góc độ ngôn ngữ - văn hóa) 60
3.1. Phân tích nét nghĩa của từ chỉ quan hệ họ hàng trong tiếng Hàn và
tiếng Việt (bằng việc phân tích thành tố nghĩa hay nét nghĩa) 60
3.1.1. Phân tích nét nghĩa của từ chỉ quan hệ họ hàng trong tiếng Hàn 60
3.1.2. Phân tích nét nghĩa của từ chỉ quan hệ họ hàng trong tiếng Việt 67
3.1.3. So sánh các loại nét nghĩa của từ chỉ quan hệ họ hàng trong tiếng
Hàn và tiếng Việt 70
3.2. Phân tích đối chiếu nghĩa của từ chỉ quan hệ họ hàng tiếng Hàn và
tiếng Việt từ góc độ ngôn ngữ và văn hóa 71
3.2.1. Đặc trưng văn hóa dân tộc của định danh thể hiện qua ngữ nghĩa của từ
72
3.2.2. Đặc trưng văn hóa dân tộc của việc định danh qua ngữ nghĩa của từ
chỉ quan hệ họ hàng 74
3.2.2.1. Đặc trưng văn hóa dân tộc Hàn của việc định danh qua ngữ nghĩa
của từ chỉ quan hệ họ hàng 74
3.2.2.2. Đặc trưng văn hóa dân tộc Việt qua việc định danh theo ngữ nghĩa
của từ chỉ quan hệ họ hàng 80
3.2.2.3. So sánh đặc trưng văn hóa dân tộc Hàn - Việt của việc định danh qua
ngữ nghĩa của từ chỉ quan hệ họ hàng 83
Đào Hoài Thu
vi
3.3. Tiểu kết 86
PHẦN KẾT LUẬN 89
TÀI LIỆU THAM KHẢO 92
PHỤ LỤC 98
Phụ lục 1: Bảng tổng hợp các nét nghĩa của từ chỉ quan hệ họ hàng trong tiếng Hàn 98
đặc trưng ngôn ngữ - văn hoá - giao tiếp của mỗi ngôn ngữ mà còn thể hiện phần
nào chiều sâu văn hoá của dân tộc là chủ nhân của ngôn ngữ ấy.
Ngôn ngữ, với tư cách vừa là một thành tố của văn hóa, vừa là một phương
tiện biểu hiện của văn hóa, là sự phản ánh các giá trị văn hóa, cách tư duy, sự
suy nghĩ và quan niệm nhân sinh của một dân tộc. Lớp từ chỉ quan hệ họ hàng
trong mỗi ngôn ngữ, không chỉ thế, còn phản ánh một phần quan niệm ứng xử có
văn hoá của mỗi dân tộc. Phân tích - đối chiếu lớp từ này giữa hai ngôn ngữ sẽ
giúp hiểu biết sâu sắc hơn về sự khác biệt giữa hai nền văn hóa.
Việc dạy và học ngoại ngữ, đặc biệt là ở trình độ nâng cao cho thấy hiểu biết
về nền văn hóa của ngoại ngữ mà mình đang học lại càng cần thiết. Đó là cách
tốt nhất giúp người học tiếp cận được với cách tư duy, cách ứng xử của người
bản ngữ. Hiểu được những nét nghĩa sâu xa, tinh tế và sử dụng được một cách
thuần thục lớp từ chỉ quan hệ họ hàng là một trong những bằng chứng về sự
thuần thục ngôn ngữ và sự hiểu biết về nền văn hóa mà mình đang học.
Kể từ khi ra đời cho đến nay, ngôn ngữ học đối chiếu đã có những thành
công đáng kể. Nhờ những nghiên cứu trong lĩnh vực này mà chúng ta có thêm
những hiểu biết về loại hình các ngôn ngữ cũng như những về những nét văn hóa
- ngôn ngữ của các dân tộc và những tương đồng hay dị biệt giữa chúng.
Lựa chọn đề tài này, chúng tôi mong muốn có thể qua đó phần nào thấy
được những nét đặc trưng trong ngôn ngữ và văn hóa của hai dân tộc.
Từ một góc độ nào đó, có thể nói, văn hóa được coi là tấm gương lối sống
của một dân tộc. Đối chiếu văn hóa thông qua ngôn ngữ là một lĩnh vực đầy lý
thú giúp các dân tộc hiểu biết sâu sắc về nhau hơn. Đối chiếu một cách có hệ
thống văn hóa và ngôn ngữ nước ngoài với văn hóa và ngôn ngữ bản địa có thể
góp phần cho sự nghiệp giáo dục và nghiên cứu về các nền văn hóa khác nói
chung và các ngôn ngữ khác nói riêng.
Đào Hoài Thu
2
Vì những ý nghĩa lý luận và thực tiễn trên, chúng tôi chọn đề tài “Phân tích
3
- Các tình huống giao tiếp có sự xuất hiện các từ chỉ quan hệ họ hàng trong
các sách dạy tiếng Hàn cho người nước ngoài.
- Các lời thoại tiếng Hàn và bản thuyết minh tiếng Việt tương ứng của một
số phim truyền hình Hàn Quốc được công chiếu tại Việt Nam.
- Một tác phẩm văn học Hàn Quốc (bản tiếng Hàn), đặc biệt là những tác
phẩm đã được dịch ra tiếng Việt.
Để thực hiện tốt các nhiệm vụ trên, chúng tôi sẽ sử dụng một số phương pháp
nghiên cứu sau đây:
- Phương pháp phân tích cấu trúc được sử dụng để phân tích cấu tạo của lớp
từ chỉ quan hệ họ hàng là đối tượng nghiên cứu.
- Phương pháp phân tích ngữ nghĩa, đặc biệt là phương pháp phân tích
thành tố nghĩa được sử dụng để phân tích và khái quát ý nghĩa và giá trị
văn hoá - giao tiếp của lớp từ là đối tượng nghiên cứu.
- Phương pháp so sánh đối chiếu để đối chiếu đặc trưng của lớp từ này
trong hai ngôn ngữ trên các bình diện cấu tạo, ngữ nghĩa và văn hoá.
5. Đóng góp của luận văn
Nếu những nhiệm vụ nghiên cứu nêu được thực hiện tốt thì kết quả của
luận văn ít nhiều sẽ góp phần làm rõ thêm những điểm giống và khác nhau giữa
lớp từ chỉ quan hệ họ hàng tiếng Hàn và tiếng Việt nói riêng và những điểm
giống và khác nhau giữa tiếng Hàn và tiếng Việt nói chung mà từ trước đến nay
chưa được quan tâm nghiên cứu thỏa đáng.
Luận văn cũng góp phần giúp cho người học hai thứ tiếng là tiếng Việt và
tiếng Hàn dễ nắm bắt được đặc trưng của một lớp từ quan trọng trong hai ngôn
ngữ, trên cơ sở đó nắm bắt được ngoại ngữ nhanh chóng và dễ dàng hơn. Bên
cạnh đó, những kết quả của luận văn cũng góp phần tìm hiểu và lý giải những
tương đồng và khác biệt giữa hai nền văn hóa, giúp nhân dân hai nước hiểu được
những cội nguồn văn hóa chung, từ đó giúp họ hiểu nhau hơn, xích lại gần nhau
hơn.
Việt là những nội dung quan trọng cần tìm hiểu. Tiếp đó, để có thể triển khai
chương 3, những nội dung liên quan đến nghĩa của từ như khái niệm nghĩa của
từ, cấu trúc nghĩa của từ và phương pháp phân tích thành tố nghĩa cũng là những
nội dung cần tìm hiểu. Để có cơ sở thực hiện toàn bộ luận văn, một số nội dung
lý thuyết khác như nghiên cứu đối chiếu nói chung và nghiên cứu đối chiếu từ
chỉ quan hệ họ hàng giữa hai ngôn ngữ nói riêng, mối quan hệ giữa ngôn ngữ và
văn hóa cũng được đề cập.
1.1. Từ chỉ quan hệ họ hàng (từ thân tộc)
1.1.1. Quan hệ họ hàng (quan hệ thân tộc)
Lịch sử nghiên cứu về quan hệ thân tộc đã có bề dày khoảng 2 thế kỷ. Từ
thế kỷ 19, nhà triết học - xã hội học người Đức Friedrich Engels đã tìm hiểu
nguồn gốc và sự phát triển của hệ thống thân tộc. Tiếp đến, thế kỷ 20, Sigmund
Freud bắt đầu tìm hiểu nguồn gốc lịch sử của gia đình. Vào thời điểm từ 1860
đến 1920, các nhà nhân học tiên phong đã lập nên được một hệ thống bảng quan
hệ thân tộc và gia đình. Từ khoảng những năm 1970 cho đến nay, người ta có
nghiên cứu về các quan hệ thân tộc trong mối quan hệ với văn hóa. Quan hệ thân
tộc luôn luôn gắn liền và được bộc lộ dưới các dạng thức ngôn ngữ, vậy nên,
Đào Hoài Thu
6
nghiên cứu quan hệ thân tộc thường gắn liền với việc nghiên cứu các danh từ
thân tộc. (Dẫn theo [12, 25])
1.1.1.1. Các loại quan hệ trong gia đình
Gia đình là một cộng đồng người sống chung và gắn bó với nhau bởi các
mối quan hệ tình cảm như quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống, quan hệ nuôi
dưỡng và hoặc quan hệ giáo dục. Gia đình có lịch sử từ rất sớm và đã trải qua
một quá trình phát triển lâu dài. Thực tế, gia đình có những ảnh hưởng và những
tác động mạnh mẽ đến xã hội.
trưởng lớn, có đặc tính tổ chức chặt chẽ. Nó liên kết ít nhất là vài gia đình nhỏ và
những người lẻ loi (những người không lập gia đình hay sống đơn thân).
- Gia đình nhỏ (gia đình hai thế hệ hoặc gia đình hạt nhân) bao gồm chồng,
vợ và các con chưa trưởng thành. Gia đình nhỏ là kiểu gia đình của tương lai và
ngày càng phổ biến trong xã hội hiện đại và công nghiệp phát triển.
1.1.1.2. Quan hệ thân tộc trong tri nhận của người Hàn và người Việt
a, Quan hệ thân tộc trong tri nhận của người Hàn
Hình thái và phương thức tạo nên gia đình có sự khác nhau theo từng xã
hội, từng nền văn hóa và từng thời đại. Ở Hàn Quốc, gia đình có nghĩa là “một
tập thể huyết thống cùng sống, cùng ngủ dưới một mái nhà và cùng ăn chung
một nồi cơm” [53]. Tuy nhiên, hình thái đó hơi khác đi theo thời đại. Đại gia
đình là một hình thái gia đình truyền thống của Hàn Quốc gồm có người lớn tuổi
nhất là cụ hoặc ông bà, sau đó là cha mẹ, con cái và cháu chắt cùng chung sống
dưới một mái nhà. Xưa kia người Hàn Quốc quan niệm rằng gia đình có cùng
huyết thống sống quây quần bên nhau hoà thuận, cùng chia sẻ việc đồng áng,
niềm vui nỗi buồn là một tập tục tốt đẹp. Không những thế, cùng sống trong một
đại gia đình, người trẻ tuổi có thể học hỏi và tiếp thu kiến thức cuộc sống từ
những người già có nhiều kinh nghiệm sống. Đến xã hội hiện đại, mô hình gia
đình phổ biến là gia đình hạt nhân. Tuy nhiên, chúng ta vẫn có thể nhìn thấy
nhiều trường hợp con trai cả vẫn sống cùng để phụng dưỡng bố mẹ trong gia
đình người Hàn Quốc.
Đào Hoài Thu
8
Do chịu ảnh hưởng của đạo Khổng, nên gia đình truyền thống Hàn Quốc
theo chế độ gia trưởng. Sau khi người cha qua đời, người con trai cả sẽ là người
điều hành và là trụ cột trong gia đình, đương nhiên sẽ hưởng kế thừa phần lớn
các tài sản có giá trị như đất đai, nhà cửa… do người cha để lại. Những người
con trai thứ cũng được hưởng thừa kế nhưng chỉ là một phần so với người con
Cấp độ thứ tư trong hệ thống thân tộc của người Hàn đó là thị tộc, nó bao
trùm tất cả các cấp độ quan hệ họ hàng, gồm họ của những nhóm người có
chung nguồn gốc. Lẽ đương nhiên, tính cố kết của các thành viên ở cấp độ thứ tư
không chặt chẽ bằng cấp độ thứ ba. Do những luật lệ cứng nhắc về hôn nhân
được thiết lập theo chế độ hôn nhân ngoại tộc, những người trong một thị tộc
không được phép lấy nhau. Do đó, một chức năng quan trọng của thị tộc trong
hệ thống thân tộc ở cấp độ thứ tư này là xác định rõ các nhóm tộc người để cho
phép họ có thể thiết lập quan hệ hôn nhân với nhau hay không [53]. Những quy
định này mãi tới tận những năm đầu của thế kỷ XX mới được sửa đổi. Luật Hôn
nhân và Gia đình Hàn Quốc hiện nay chỉ cấm nam, nữ trong cùng dòng họ lấy
nhau trong phạm vi ba đời.
b, Quan hệ thân tộc trong tri nhận của người Việt
Ở Việt Nam, mức độ gần xa giữa những người họ hàng phụ thuộc vào
việc người đó có quan hệ gần hay xa với mình, người đó thuộc về thế hệ trên hay
thế hệ đưới, bên nội (bên bố đẻ mình) hay bên ngoại (bên mẹ đẻ mình), phụ
thuộc vào việc người đó sinh ra trước hay sinh ra sau, người đó là nam hay nữ.
Quan hệ huyết thống trong gia đình thường được thể hiện trong các gia
phả dưới dạng một sơ đồ hình cây, trong đó các thế hệ được nối tiếp nhau và lấy
quan hệ “nội tộc” làm trọng. Việc lấy tên họ theo cha để lưu truyền giữa các thế
hệ là dấu hiệu của dòng dõi họ tộc.
Thêm nữa, sự phân biệt về giới tính làm cho vai trò của người con trai nổi
bật nên có thể kéo theo cả những người ngoài quan hệ huyết tộc nhưng có quan
hệ thân thiết với người con trai trở thành quan hệ thân thuộc trong gia đình.
Người con gái có vị trí thứ yếu nên khi sinh ra, tuy có quan hệ máu mủ với
những người trong nhà nhưng đến lúc trưởng thành, đi lấy chồng, quan hệ đấy có
xu hướng trở nên mờ nhạt hơn. Quan hệ huyết thống đó của người Việt đã được
đúc kết và thể hiện nhiều trong các thành ngữ, tục ngữ, ca dao…
Ví dụ: Dâu là con, rể là khách…