Ngôn ngữ kể chuyện trong truyện ngắn của Nguyễn Khải và Nguyễn Minh Châu - Pdf 26

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
ĐỖ THỊ HIÊN

NGÔN NGỮ KỂ CHUYỆN TRONG TRUYỆN NGẮN
CỦA NGUYỄN KHẢI VÀ NGUYỄN MINH CHÂU

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC Người hướng dẫn khoa học:
GS - TS Hoàng Trọng Phiến HÀ NỘI - 2007
MỤC LỤC Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU…… ……………………………………………………………………… ………………
CHƯƠNG 1: NHỮNG KHÁI NIỆM CÓ LIÊN QUAN… ……
1.1 Ba lĩnh vực kết học, nghĩa học, ngữ dụng học và mối quan hệ của
chúng trong ngôn ngữ…………………… …………
1.1.1. Ba lĩnh vực kết học, nghĩa học, ngữ dụng học……
1.1.2. Các vấn đề cơ bản của ngữ dụng học (Pragmatics).… ……
1.2. Ngôn ngữ kể chuyện……… ………
1.2.1. Ngôn ngữ người kể chuyện. …… ……………………
1.2.2. Ngôn ngữ nhân vật. ………
1.3. Điểm nhìn nghệ thuật trong truyện…………………… ………
1.3.1. Khái niệm về điểm nhìn (Point of view) ………………………………….………………………
1.3.2. Các loại điểm nhìn (Types of point of view) ……………………….…….…………………

35

37
40
46
49 51

54

54

2.2.1. Ngôn ngữ mang phong cách sinh hoạt đời thường…….………
2.2.2. Ngôn ngữ đa thanh có tính đối thoại nội tại. ………………………………
CHƯƠNG 3: NGÔN NGỮ KỂ CHUYỆN TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA
NGUYỄN MINH CHÂU ……
3.1. Ngôn ngữ kể chuyện trong truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu
giai đoạn trước 1975… …………
3.2. Ngôn ngữ kể chuyện trong truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu
giai đoạn sau 1975…
3.2.1. Ngôn ngữ mang phong cách sinh hoạt đời thường… …………
3.2.2.Ngôn ngữ có tính đối thoại đa thanh - một chất liệu mới trong
ngôn ngữ kể chuyện của Nguyễn Minh Châu sau 1975…
KẾT LUẬN……… ……
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN
ĐẾN LUẬN ÁN… ……
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC………


1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
1.1. Ngôn ngữ là chất liệu của văn chương. Từ một hệ thống tín hiệu
giao tiếp cộng đồng cơ bản, qua sự sáng tạo của người nghệ sỹ, nó trở nên
sinh sắc, giàu cảm xúc và chứa đựng giá trị thẩm mĩ. Có nhiều ngành khoa
học nghiên cứu hiện tượng này: Phong cách học, Thi pháp học, Ngữ dụng
học. Từ góc độ thi pháp, chúng tôi chọn nghiên cứu vấn đề ngôn ngữ kể
chuyện trong truyện ngắn của Nguyễn Khải và Nguyễn Minh Châu trong mối
quan hệ với điểm nhìn trần thuật và các phương thức tự sự.
1.2. Truyện ngắn là một thể loại của văn xuôi nghệ thuật, với những
đặc trưng “nghề nghiệp” riêng thì mối liên hệ giữa ngôn ngữ kể chuyện với
việc xử lý điểm nhìn trần thuật và việc lựa chọn phương thức tự sự là rất rõ
rệt. Mặt khác, với thế mạnh của một hình thức tự sự cỡ nhỏ nhưng lại có sức
khái quát lớn, truyện ngắn luôn là một thể loại chủ công trong việc khám phá
và cải tạo hiện thực cuộc sống. Giai đoạn 1955 -1975, trước những biến cố
trọng đại của lịch sử, truyện ngắn đã góp phần đắc lực vào việc cổ vũ động
viên cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc đi đến thắng lợi. Nhưng cũng chính
vì cái hoàn cảnh đặc biệt đất nước có chiến tranh, nên ngôn ngữ kể chuyện
trong các truyện ngắn giai đoạn này cũng mang những đặc trưng riêng.
1.3. Đại thắng mùa xuân năm 1975 đã đưa lịch sử đất nước mở sang
trang mới: Độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và xây dựng Chủ nghĩa xã
hội. Một hiện thực mới đa dạng, biến động và đầy phức tạp đã được mở ra ở
khắp đất nước. Hiện thực đó đòi hỏi các nhà văn phải hình thành cho được
một thứ chất liệu ngôn ngữ mới để phản ánh chân thực, sinh động cuộc sống
của con người và xã hội.
1.4. Nguyễn Khải và Nguyễn Minh Châu là hai nhà văn lớn của Văn
học cách mạng Việt Nam. Sự nghiệp văn chương của hai ông gắn liền với sự
nghiệp đấu tranh cách mạng của dân tộc. Giai đoạn 1955-1975, Nguyễn Khải

thuyết Evgenhi Onhegin của Puskin, nhà nghiên cứu đã chỉ ra những cấu trúc
phức tạp của điểm nhìn làm xuất hiện những ngôn từ đa thanh, đa nghĩa. Trong

3
Mikhail Bakhtin - Nguyên lý đối thoại [123], T.Todorov cho rằng, khi nghiên
cứu nguyên lý đối thoại của Mikhail Bakhtin phải đặt trong sự kết hợp của hai sự
thật: Tư tưởng của Mikhail Bakhtin hấp dẫn phong phú nhưng cũng rất phức tạp
và khó khăn trong việc tiếp cận nó. Điểm nhìn và lời văn nghệ thuật trong tác
phẩm văn học phải được gián tiếp đặt trong mối quan hệ với thể loại. Bản chất
của ngôn từ trong văn xuôi nghệ thuật với đặc trưng riêng của thể loại đã được
M.Bakhtin và Kọte Hamburger dày công nghiên cứu [7, 8, 47]. Còn trong Cá
tính sáng tạo của nhà văn và sự phát triển của văn học, M.Khrapchenco cũng
đưa ra những quan điểm quan trọng về ngôn ngữ nghệ thuật [59].
Ở Việt Nam, trong cuốn Đại cương ngôn ngữ học, tập 2 [19], khi
nghiên cứu về Ngữ dụng học, vấn đề điểm nhìn cũng đã được Đỗ Hữu Châu
đề cập đến. Đặc biệt, trong đó tác giả đưa ra những kiến giải quan trọng về
ngôn ngữ được sử dụng trong giao tiếp. Đó là những kiến thức rất quan trọng
để chúng tôi soi chiếu vào việc tìm hiểu các tác phẩm cụ thể trong luận án.
Còn Nguyễn Đức Dân với Logic và Tiếng việt [24], thì ngôn ngữ kể chuyện
và điểm nhìn được nghiên cứu như là những yếu tố trong giao tiếp nói năng.
Vấn đề đó tiếp tục được nghiên cứu gắn liền với sáng tác văn chương hơn
trong các công trình của Đặng Anh Đào với Đổi mới tiểu thuyết phương Tây
hiện đại [29], Trần Đình Sử với Giáo trình dẫn luận thi pháp học [98] và
Nguyễn Thái Hòa với Những vấn đề thi pháp của truyện [61]. Trong những
công trình đó, thì cả điểm nhìn và ngôn ngữ kể chuyện được nghiên cứu như
những yếu tố của thi pháp. Nguyễn Lai trong Ngôn ngữ với sáng tạo và tiếp
nhận văn học, bằng việc tìm hiểu bản chất hệ thống và bản chất tín hiệu của
ngôn ngữ, đã chỉ ra mối quan hệ rất linh hoạt giữa nội dung và hình thức của
ngôn ngữ và ông cho rằng:”mã hình tượng là một loại tín hiệu lấy mã ngôn
ngữ làm tiền đề, nhưng nó không đồng nhất với mã ngôn ngữ về mặt cấp độ”

Gắn liền với nhiệm vụ cách mạng của từng giai đoạn, sáng tác của hai ông
mang cả những dấu ấn riêng của thời đại. Vì vậy, các công trình nghiên cứu về
sáng tác của hai ông có số lượng rất lớn và cũng chia ra làm hai thời kì rõ rệt:
• Thời kỳ trước năm 1975

5
Thời kì này giới phê bình nghiên cứu chủ yếu đi vào nhận xét đánh giá
các truyện ngắn của hai nhà văn ở phương diện nội dung xã hội. Những thành
công của Nguyễn Khải ở “Mùa lạc”, “Hãy đi xa hơn nữa”,” Tầm nhìn xa”,
“Người trở về” và của Nguyễn Minh Châu với “Mảnh trăng cuối rừng”,
“Những vùng trời khác nhau”,”Nguồn suối” đã thu hút rất nhiều bài viết,
nhưng tựu trung lại thì các tác phẩm đó đều được đánh giá ở khía cạnh phản
ánh được cuộc sống mới, con người mới, phù hợp với xu thế phát triển của
cách mạng. Trong số rất nhiều công trình nghiên cứu về hai tác gia, các công
trình của các nhà phê bình Nguyễn Đăng Mạnh, Phan Cự Đệ, Hà Minh Đức là
tương đối sâu sắc và triệt để. Các nhà phê bình đã đánh giá cao những đóng
góp to lớn của hai nhà văn trong sự nghiệp chung của dân tộc và cũng mạnh
dạn chỉ ra những vấn đề còn hạn chế, những dấu vết của thời đại còn để lại
trong tác phẩm của họ giai đoạn trước 1975 [61,83, 87].
• Thời kì sau năm 1975
Trong buổi giao thời, trên văn đàn văn học nước nhà, Nguyễn Khải và
Nguyễn Minh Châu là hai trong số ít nhà văn đã sớm có những tác phẩm thể hiện sự
đổi mới tư duy nghệ thuật trong sáng tác của mình. Sự đổi mới ấy lúc đầu còn là dò
dẫm thử nghiệm, kịp đến khi có nghị quyết của Đảng về vấn đề đổi mới trong văn
chương thì điều đó đã được khẳng định vững chắc. Những sáng tác mang gương mặt
mới ấy lập tức đã châm ngòi cho hàng loạt những hội thảo, những công trình nghiên
cứu. Những vấn đề được các tác giả tập trung, chú ý phân tích, mổ xẻ đánh giá cũng
đa diện, đa chiều hơn. Bên cạnh những “bậc tiền bối” như Nguyễn Đăng Mạnh, Hà
Minh Đức, Phan Cự Đệ, những người đã chứng kiến và dõi theo từng bước chân của
hai nhà văn từ lúc mới vào nghề, thì lớp trẻ cũng tỏ ra rất sắc sảo với những phát hiện

Minh Châu, các tác giả đã chỉ ra sự vận động trong những sáng tác của hai
ông trong văn xuôi đương đại.
Tóm lại, những công trình nghiên cứu có liên quan đến điểm nhìn,
giọng điệu và ngôn ngữ kể chuyện đều được đề cập đến ở những mức độ đậm
nhạt khác nhau. Tuy nhiên, việc đặt thành mục tiêu khảo sát ngôn ngữ kể
chuyện trong mối quan hệ với điểm nhìn, giọng điệu trong mỗi tác phẩm thì

7
còn mờ nhạt. Đặc biệt, đối với các sáng tác của Nguyễn Khải và Nguyễn
Minh Châu đặt trong hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam từ 1955 đến nay thì mối
quan hệ đó là rất rõ rệt. Điều đó đã kích thích chúng tôi đi vào đề tài.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Đưa ra những kết quả đáng tin cậy về đặc trưng ngôn ngữ kể chuyện
trong truyện ngắn của Nguyễn Khải và Nguyễn Minh Châu trong mối liên hệ
với điểm nhìn trần thuật, phương pháp tự sự và giọng điệu của tác phẩm ở cả
hai giai đoạn sáng tác trước 1975 và sau 1975. Từ đó, luận án đóng góp cứ
liệu để làm nổi bật phong cách ngôn ngữ của hai nhà văn này.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Vận dụng lý thuyết về điểm nhìn, hội thoại, tự sự, thoại dẫn để tìm hiểu ngôn
ngữ kể chuyện trong các truyện ngắn của Nguyễn Khải và Nguyễn Minh Châu.
Cụ thể là:
3.2.1. Nghiên cứu ngôn ngữ kể chuyện trong những truyện ngắn của
Nguyễn Khải và Nguyễn Minh Châu được kể lại từ điểm nhìn toàn tri và cách
tự sự kể lại nội dung.
3.2.2. Nghiên cứu ngôn ngữ kể chuyện trong những truyện ngắn của
Nguyễn Khải và Nguyễn Minh Châu được kể lại từ điểm nhìn của người kể
chuyện không biết hết và cách tự sự viết nội dung.
3.2.3. Trên cơ sở đó, khẳng định được sự đổi mới tư duy nghệ thuật
của hai tác giả trong thể loại truyện ngắn, đặc biệt ở lĩnh vực ngôn ngữ.

hai giai đoạn sáng tác, hoặc giữa hai tác giả.
+ Xây dựng giả định: Xây dựng cấu trúc giả định của câu văn, đoạn
văn bằng việc giữ nguyên ngữ cảnh, chỉ ra giá trị thẩm mỹ của văn bản
gốc.
+ Thay thế, cải biến: Áp dụng các biện pháp lược bỏ, thay thế hoặc
bổ sung, nhằm khẳng định hiệu quả nghệ thuật của các yếu tố ngôn ngữ.
Ngoài các phương pháp trên, chúng tôi còn sử dụng các thao tác của
phương pháp thống kê và phương pháp hệ thống.
- Sử dụng các thao tác của phương pháp thống kê nhằm:

9
+ Nghiên cứu ngôn ngữ kể chuyện về mặt từ vựng ngữ pháp, sự phân bố
của kiểu câu, loại từ xét về mặt số lượng trong một diễn ngôn của người kể
chuyện, hay của nhân vật.
+ Thống kê, phân loại tính chất lời dẫn trong các truyện ngắn của hai tác
giả ở hai giai đoạn sáng tác.
- Sử dụng thao tác của phương pháp hệ thống: Coi đối tượng nghiên cứu
là một hệ thống, các thành phần của nó, đến lượt mình lại làm thành một tiểu hệ
thống nằm trong một hệ thống lớn hơn. Quan điểm đó sẽ chi phối việc xử lý ngữ
liệu và những nhận định khái quát của luận án. Cụ thể, vận dụng quan hệ đồng
nhất giữa các đối tượng nghiên cứu, phân loại đối tượng về: thời gian sáng
tác, giọng điệu, phương thức tự sự, điểm nhìn trần thuật và các hình thức
thoại dẫn Từ kết quả phân loại, chúng tôi đối chiếu các yếu tố trong các hệ
thống để tìm ra sự đồng nhất và khác biệt giữa chúng.
5. Những đóng góp mới của luận án
5.1. Lần đầu tiên truyện ngắn của Nguyễn Khải và Nguyễn Minh
Châu được khảo sát đúng với tư cách nó là những tác phẩm nghệ thuật
ngôn từ, và muốn hiểu được giá trị thẩm mĩ của nó, chủ âm của nó, thì cần
phải thành thạo ngôn ngữ của nó: “thứ ngôn ngữ được xây chồng lên trên
ngôn ngữ tự nhiên với tư cách là hệ thống thứ hai” (IU.Lotman)

pháp học, Tự sự học. Tuy vậy, với mục đích là tìm hiểu những nét đặc sắc độc
đáo cũng như sự đổi mới ngôn ngữ kể chuyện trong truyện ngắn của Nguyễn
Khải và Nguyễn Minh Châu, chúng tôi chỉ đề cập đến một số khái niệm cơ bản.
1.1. Ba lĩnh vực kết học, nghĩa học, ngữ dụng học và mối quan hệ của chúng
trong ngôn ngữ.
1.1.1. Ba lĩnh vực kết học, nghĩa học và ngữ dụng học.
Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người. Sở dĩ
ngôn ngữ thực hiện được chức năng đó, là vì ngôn ngữ có bản chất tín hiệu và có
tính hệ thống. Trên cơ sở lý thuyết tín hiệu học của Ch. W. Morris, các nhà ngôn
ngữ học hiện đại đã chỉ ra ba bình diện của ngôn ngữ. Đó là bình diện kết học,
nghĩa học và ngữ dụng học. Trong đó, bình diện kết học nghiên cứu về hệ thống
các quy tắc chi phối sự cấu tạo nên các cấp độ ngôn ngữ, bình diện nghĩa học

11
nghiên cứu các quy tắc phản ánh hiện thực vào ngôn ngữ, còn bình diện ngữ
dụng học nghiên cứu mối quan hệ giữa ngôn ngữ và người sử dụng.
Trước đây người ta cho rằng, ba lĩnh vực kết học, nghĩa học và ngữ
dụng học có quan hệ tuyến tính. Ngôn ngữ học sẽ được nghiên cứu theo thứ
tự: kết học - nghĩa học - ngữ dụng học. Hiện nay, cùng với sự vận động của
ngữ dụng học vi mô sang ngữ dụng học vĩ mô, nhiều tác giả đã chỉ ra vai trò
thống hợp (intergrating) của ngữ dụng học. Điều đó có nghĩa là, kết học,
nghĩa học vẫn giữ được tính độc lập tương đối, nhưng nó đã bị thống hợp vào
ngữ dụng học. Bản chất sự thống hợp này cũng được thể hiện rõ trong định
nghĩa ngữ dụng học của R.E.Asher: “Ngữ dụng học nghiên cứu ngôn ngữ
theo quan điểm của người dùng, trong đó các thành phần cá nhân liên kết với
các thành phần chung, các thành phần có tính xã hội. Những vấn đề của ngữ
dụng học không phân định một cách rành mạch với các lĩnh vực của ngữ
nghĩa học, cú pháp học hay âm vị học. Hiểu như vậy, ngữ dụng học sẽ là một
hệ những vấn đề có quan hệ với nhau chặt chẽ, không phải là một lĩnh vực
nghiên cứu được phân giới một cách dứt khoát” (Đỗ Hữu Châu) [19,Tr.59].

Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền.
thì biểu thức thuyền và bến ở đó có thể được hiểu theo hai nghĩa: Thứ nhất, là
những sự vật khách quan. Thứ hai, nó lại có thể được hiểu là tình yêu của
người con gái và người con trai, sự nhớ nhung chờ đợi.
b) Chỉ xuất là phương thức chiếu vật bằng ngôn ngữ dựa trên hành động chỉ
trỏ (Đỗ Hữu Châu) [19,Tr.72]. Trong chỉ xuất có các phạm trù: ngôi nhân xưng,
không gian và thời gian.
 Phạm trù ngôi (phạm trù xưng hô) là những phương tiện
chiếu vật, nhờ đó người nói tự quy chiếu, tức tự đưa mình vào diễn ngôn (Đỗ
Hữu Châu) [19,Tr.72]. Như vậy, phạm trù ngôi thuộc quan hệ vai giao tiếp với
điểm gốc là người nói. Trong giao tiếp, có các vai: ngôi thứ nhất - ngôi thứ
hai. Trong tiếng Việt, ứng với mỗi vai giao tiếp có rất nhiều đại từ xưng hô.
Xưng hô là một hành vi ngôn ngữ. Trong văn chương, các cuộc giao
tiếp giữa các nhân vật thường bị chi phối bởi quan hệ liên nhân, ngữ cảnh và

13
phép lịch sự. Theo đó, thì các cuộc giao tiếp giữa các vai thường có sự thay
đổi các từ xưng hô. Vì vậy, qua các từ xưng hô, có thể nhận biết được tính
chất mối quan hệ liên nhân giữa các nhân vật.
Ví dụ, trong cuộc thoại giữa lang Rận và mụ Lợi (Lang Rận) [140,Tr.235]:
Ở phần đầu cuộc thoại, khi mới thân nhau, lang Rận gọi mụ Lợi bằng chị, xưng
“tôi”, còn mụ Lợi gọi lang Rận bằng “ông”, xưng “tôi”. Đó là những từ xưng hô
thể hiện sự tôn trọng. Nhưng khi tức giận nhau, thì lang Rận gọi mụ Lợi bằng
mày, xưng tao, còn mụ Lợi gọi lang Rận bằng “đồ bạc miệng” và xưng
“người ta”.
 Chỉ xuất không gian, thời gian là phương thức chiếu vật bằng cách
chỉ ra sự vật theo vị trí của nó trong không gian và thời gian. Muốn quy chiếu sự
vật theo phương thức chỉ xuất thì phải định vị nó theo một điểm mốc và theo
một phương nhất định tính từ điểm mốc đó (Theo Đỗ Hữu Châu) [19.Tr.81].
Trong các cuộc giao tiếp, người nói thường lấy vị trí mà mình đang đứng nói

lời có nghĩa là nó có hiệu lực làm thay đổi quyền lực và trách nhiệm của
người hội thoại. Ví dụ, khi thực hiện một hành vi có hiệu lực ở lời là hỏi, thì
hiệu quả của nó là sẽ gây ra một phản ứng ngôn ngữ tương đương với chúng ở
người nhận: là hành vi trả lời.
a) Hành vi ở lời: là những hành vi người nói thực hiện ngay khi nói năng.
Nó có sản phẩm là phát ngôn ngữ vi.
 Biểu thức ngữ vi và phát ngôn ngữ vi.
Một phát ngôn được gọi là phát ngôn ngữ vi khi nó là sản phẩm của
một hành vi ở lời nào đó, mà hành vi này được thực hiện một cách trực tiếp
và chân thực [19,Tr.91]. Phát ngôn ngữ vi có một lõi đặc trưng cho hành vi ở
lời tạo ra nó. Kết cấu lõi đó được gọi là biểu thức ngữ vi.
Ví dụ: (3.)“Thôi, em không nói cho anh biết trước nữa” [163,Tr.108].
Ví dụ trên có biểu thức ngữ vi nguyên cấp là: “em không nói cho anh
biết trước nữa” và thành phần mở rộng là hành vi từ chối “thôi”. Theo cách
hiểu đó, thì một phát ngôn ngữ vi tương đương với một tham thoại. Biểu thức
ngữ vi trong thực tế ứng với một hành vi chủ hướng, còn các hành vi phụ
thuộc là thành phần mở rộng của phát ngôn ngữ vi. Austin phân biệt hai loại
phát ngôn ngữ vi: Phát ngôn ngữ vi nguyên cấp (primary) và phát ngôn ngữ
vi tường minh (explicit) (Theo Đỗ Hữu Châu) [19,Tr.101].
Mỗi biểu thức ngữ vi được nhận ra bằng các dấu hiệu chỉ dẫn. Searle gọi
các dấu hiệu này là các phương tiện chỉ dẫn hiệu lực ở lời (Illocutionary force

15
indicating devices – IFIDs) (Theo Đỗ Hữu Châu) [19,Tr.92]. Trong các phát
ngôn ngữ vi, IFIDs được biểu hiện bằng: các kiểu kết cấu; các từ ngữ chuyên
dụng trong các biểu thức ngữ vi; ngữ điệu; quan hệ giữa các thành tố trong cấu
trúc vị từ - tham thể tạo nên nội dung mệnh đề được nêu trong biểu thức ngữ vi
với các nhân tố của ngữ cảnh.
Khi xem xét nội dung mệnh đề của biểu thức ngữ vi nguyên cấp, cần
phải căn cứ vào:

người họa sĩ nhân danh người chiến sĩ là do phát ngôn kết tội tạo ra. Từ đó
biểu thức: “Thật là danh tiếng quá!” phải được hiểu là lời mỉa mai chế giễu,
mặc dù nó có từ ngữ: “thật là” mở đầu cho biểu thức đánh giá, kết hợp với từ
“danh tiếng”, là một kết hợp thể hiện sự đánh giá theo hướng tích cực.
 Động từ nói năng và động từ ngữ vi
 Động từ nói năng: Là những động từ biểu thị, gọi tên các hành vi
ngôn ngữ [19, Tr.95].
(5.)“Ông Vị hỏi nó:
- Vậy còn tương lai của cháu?” [161,Tr.306].
Trong ví dụ trên có động từ “hỏi” là động từ nói năng, nó cũng là động
từ chỉ hành vi ở lời, hành vi có hiệu lực tại lời.
 Động từ ngữ vi: Là những động từ nói năng có thể được thực
hiện trong chức năng ngữ vi, tức thực hiện trong chức năng ở lời (còn được
gọi là động từ ngôn hành - performativeverbs). Nó là những động từ mà khi
phát âm chúng ra cùng với biểu thức ngữ vi, là người nói thực hiện luôn cái
hành vi ở lời do chúng biểu thị [19, Tr.97].
Động từ ngữ vi là những động từ có thể thực hiện chức năng ngữ vi
ngay trong phát ngôn. Tuy vậy, theo Austin thì động từ ngữ vi chỉ được dùng
trong chức năng ngữ vi khi trong phát ngôn nó được dùng ở ngôi thứ nhất
(người nói SP
1
) thời hiện tại, thể chủ động và thực thi [19, Tr.101]. Ví dụ:
(6.)“Chốc nữa mời cô xuống chỗ tôi ăn cá rán nhé!
(1)
. [163,Tr.116]
“Hôm qua anh ấy đã mời tôi xuống ăn cá rán”.
(2)

Ở câu (1), “mời” được dùng trong hiệu lực ngữ vi, còn ở câu (2)


Hành vi ngôn ngữ gián tiếp không chỉ do hành vi ngôn ngữ trực tiếp tạo
ra, nó còn bị quy định bởi các lĩnh vực khác của ngữ dụng như: lý thuyết lập
luận, lý thuyết hội thoại, nghĩa tường minh và nghĩa hàm ẩn.

18
1.1.2.3. Lý thuyết lập luận
Lập luận là đưa ra những lý lẽ, nhằm dẫn dắt người nghe đến một kết luận,
hay chấp nhận một kết luận nào đấy mà người nói muốn đạt tới.
a) Các chỉ dẫn lập luận
 Các tác tử lập luận (opérateurs) thường là những hư từ,
những tiểu từ tình thái, mà khi được đưa vào nội dung miêu tả nào đó, nó sẽ
làm thay đổi tiềm năng lập luận của nội dung miêu tả ấy [19, Tr.180]. Những
tác tử thường gặp là: đã, mới, thôi, chỉ, cứ, những là ít, là nhiều…
Ví dụ: (9.) - Mẹ mày ngày xưa cũng chỉ theo không tao đấy. [140,Tr.96].
Giả sử bớt đi các tác tử cũng, chỉ, đấy ở phát ngôn trên, nó sẽ trở thành:
Mẹ mày ngày xưa theo không tao. Thông tin miêu tả của phát ngôn không đổi,
nhưng phát ngôn trong văn bản với các tác tử cũng, chỉ, đấy sẽ hướng về kết
luận: không nên thách cưới, bày vẽ lôi thôi.
 Các dấu hiệu giá trị học (marques axiologiques):
 Các yếu tố của hiện thực được lựa chọn tạo thành nội dung miêu
tả cũng là một dấu hiệu có giá trị lập luận. Trong phát ngôn, các yếu tố này trở
thành cái biểu đạt làm thay đổi giá trị lập luận của các nội dung miêu tả.
Ví dụ: (10.) Mãi đến mười giờ Điền mới tới trạm Quỳnh Nha, nắng rất
gắt đã từ lâu
(1)
. Mặt hắn đỏ gay, đẫm mồ hôi và chân hắn thì bụi
(2)
.[140,Tr.307].
Ba chi tiết miêu tả nhân vật Điền trong câu (2) sẽ dẫn tới kết luận là
việc đi bộ dưới trời nắng, đã khiến cho Điền quá mệt mỏi, nóng bức.

của tác phẩm chính là ở sự xung đột của các giọng, các quan điểm của nhân
vật. Còn giọng của tác giả, khi thì đồng hướng, khi thì nghịch hướng với
những giọng đó, quan điểm đó. Theo lý thuyết đa thanh của O. Ducrot, thì
trong cùng một phát ngôn, có mặt những người nói khác nhau với những c-
ương vị nói năng khác nhau: thuyết ngôn, chủ ngôn. Thuyết ngôn là người
phát ra phát ngôn, diễn ngôn nghe được, đọc được. Còn chủ ngôn là người nói
ra nội dung được nhắc lại trong phát ngôn của thuyết ngôn [19,Tr.187].
c) Lẽ thường cơ sở của lập luận.
Lẽ thường là những chân lý thông thường có tính kinh nghiệm, không
có tính tất yếu, bắt buộc như các tiên đề logic [19, Tr.191]. Nó có tính khái
quát, tính có thang độ và tính chất chung.
Với đặc trưng riêng của thể loại, ngôn ngữ trong truyện ngắn đòi hỏi sự
cô đọng, hàm súc. Các vấn đề của lập luận, đặc biệt là hiện tượng đa thanh đã

20
được các nhà văn sử dụng thường xuyên nhằm tạo ra những lời văn chứa
đựng hàm ngôn và có giá trị thẩm mỹ.
1.1.2.4. Lý thuyết hội thoại
a) Ngữ cảnh
Những lời được nói ra hoặc viết ra khi giao tiếp gọi là diễn ngôn (discourse).
Trong một hoạt động giao tiếp, loại trừ diễn ngôn ra, các nhân tố tham gia vào hoạt
động giao tiếp được gọi chung là ngữ cảnh, nó gồm các nhân tố: Nhân vật giao
tiếp;Hiện thực được nói tới; Hoàn cảnh giao tiếp; Hệ thống tín hiệu ngôn ngữ.
Giữa các nhân vật giao tiếp có quan hệ liên cá nhân giữa người nói SP
1

người nghe SP
2
. Quan hệ liên cá nhân được xét theo hai trục: Quan hệ ngang và
quan hệ dọc.

(14.)“- Công trường với lại công triếc, toàn một lũ ăn cắp!
Ông chủ tịch huyện đã cảm thấy bị xúc phạm, da mặt đỏ gay, tuy vẫn
cố kìm giữ:
- Sao thế? Có việc gì thế hả ông lão?
- Toàn một lũ ăn cắp Ông coi, chúng nó tháo mất của tôi cả một bộ
díp - Lão Khúng càng cau mặt lại - Quân ăn cướp chứ không phải lũ ăn cắp
nữa, cái quân công trường ấy! [147,Tr.600].
b) Cấu trúc hội thoại
Trong cuộc hội thoại giữa các nhân vật giao tiếp, có các đơn vị từ lớn
đến nhỏ như sau: cuộc hội thoại, đoạn thoại, cặp thoại, tham thoại, hành vi
ngôn ngữ. Trong đó, ba đơn vị đầu có tính chất lưỡng thoại (do vận động trao
đáp của các nhân vật hội thoại), hai đơn vị sau có tính chất đơn thoại (do một
người nói ra) (Theo Đỗ Hữu Châu) [19, Tr.311].
c) Đích hội thoại
 Đề tài của lời và đề tài diễn ngôn
Đề tài của lời là hiện thực được một người nào đó nêu ra trong tham
thoại của mình. Đề tài của lời được nâng cấp thành đề tài diễn ngôn nếu
được nhân vật hội thoại hưởng ứng, nếu không chúng chỉ dừng lại ở cấp độ
là đề của lời (Theo Đỗ Hữu Châu) [19, Tr. 285] Vì vậy, đề tài diễn ngôn
không phải do một nhân vật hội thoại quyết định mà là “cái gì đó” được các
nhân vật hội thoại cùng cộng tác.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status