Sự vận động của truyện ngắn Việt Nam từ 1986 đến nay nhìn từ góc độ hình thức thể loại - Pdf 26

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA VĂN HỌC
***
LƯU THỊ THU HÀ
SỰ VẬN ĐỘNG CỦA TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM
TỪ 1986 ĐẾN NAY
NHÌN TỪ GÓC ĐỘ HÌNH THỨC THỂ LOẠI LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60 22 34

Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS Hà Văn Đức Hà Nội - 2008

Luận văn Thạc sĩ Lưu Thị Thu Hà Sự vận động của truyện ngắn VN từ 1986 đến nay, nhìn từ góc độ hình thức thể loại
1
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 3
1. Lý do chọn đề tài 3
2. Phạm vi nghiên cứu và nhiệm vụ đề tài 5
2.1 Phạm vi nghiên cứu 5
2.2 Nhiệm vụ của đề tài 6
3. Lịch sử vấn đề 7
3.1 Tình hình nghiên cứu khái quát về văn học 1986 - 2006 7
3.2 Tình hình nghiên cứu truyện ngắn 1986 - 2006 11
4.1 Phƣơng pháp nghiên cứu 14
4.2 Bố cục luận văn 15
PHẦN NỘI DUNG 16

3.3.2 Tính chất phức điệu của giọng trần thuật 103
PHẦN KẾT LUẬN 108
DANH MỤC VÀ TÀI LIỆU THAM KHẢO……………………………………………112
Luận văn Thạc sĩ Lưu Thị Thu Hà Sự vận động của truyện ngắn VN từ 1986 đến nay, nhìn từ góc độ hình thức thể loại
3
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong những năm tháng chống ngoại xâm, lịch sử Việt Nam hiện đại
đƣợc phản chiếu trong văn học chủ yếu ở những biểu hiện của tinh thần yêu
nƣớc, lòng căm thù giặc, ở những sự kiện, những chiến thắng quan trọng
quyết định đến vận mệnh của cả dân tộc cũng nhƣ hạnh phúc của mỗi cá
nhân. Có một mảng sáng tác lớn trong văn học Việt Nam giai đoạn 1945 -
1975 ghi lại lịch sử chiến tranh oai hùng và vinh quang của đất nƣớc. Bƣớc
sang thời bình, sự thay đổi của điều kiện sống khiến cho thị hiếu thẩm mỹ của
ngƣời đọc cũng có những biến chuyển lớn. Cuộc sống thực tại đã nhắc nhủ
con ngƣời về những phƣơng diện của đời sống sinh hoạt, đời sống văn hóa,
văn minh vẫn âm thầm trôi chảy cùng công cuộc chống ngoại xâm, giữ nƣớc
của dân tộc. Họ không rũ bỏ, nhƣng đã bắt đầu xếp chiến tranh vào ký ức.
Thay cho tâm thế đấu tranh vì quyền lợi của cả cộng đồng, cả dân tộc, họ
quan tâm hơn đến cuộc đấu tranh với cái khốn khó của đời sống thƣờng ngày.
Thay vì dõi theo cục diện thế giới, họ hứng thú hơn với những mối quan hệ cá
nhân, với những câu chuyện gần gũi xảy ra xung quanh mình. Kết thúc chiến
tranh, văn học cũng không còn lý do để chỉ chăm chắm phục vụ những mục
đích cách mạng. Với bối cảnh lịch sử mới và những đổi thay về nhu cầu của

rệt. Những năm 1960 từng để lại nhiều truyện ngắn đẹp nhƣ thơ, trong veo,
trữ tình. Truyện ngắn thời chiến tranh thì vạm vỡ, chắc chắn. Đặc điểm nổi
bật lần này là cầm cái truyện ngắn trong tay có thể cảm thấy cái dung lƣợng
của nó nặng trĩu. Có những truyện ngắn, chỉ mƣơi mƣời trang thôi, mà sức
nặng có vẻ còn hơn cả một cuốn tiểu thuyết trƣờng thiên” [44; 7].
Luận văn Thạc sĩ Lưu Thị Thu Hà Sự vận động của truyện ngắn VN từ 1986 đến nay, nhìn từ góc độ hình thức thể loại
5
Nhƣ vậy, truyện ngắn giai đoạn từ 1986 đến nay đóng vai trò quan
trọng trong việc hình thành diện mạo nền văn học Việt Nam đƣơng đại. Chính
vì vậy, chúng tôi hƣớng tới truyện ngắn khi triển khai luận văn này nhƣ một
cách tiếp cận với một giai đoạn văn học đặc biệt sôi động từ thể loại đƣợc
đánh giá là năng động và tích cực nhất.
Với tên gọi Sự vận động của truyện ngắn Việt Nam từ 1986 đến nay,
nhìn từ góc độ hình thức thể loại, luận văn tập trung nghiên cứu về những
biến chuyển hình thức thể loại, bởi sự vận động của thể loại bộc lộ quan điểm
thẩm mỹ, tƣ duy nghệ thuật của mỗi thời kỳ. Mikhail Bakhtin cho rằng:
“Đằng sau cái mặt ngoài sặc sỡ và đầy tạp âm ồn ào của tiến trình văn học,
ngƣời ta không nhìn thấy vận mệnh to lớn và cơ bản của văn học và ngôn
ngữ, mà những nhân vật chính nơi đây trƣớc hết là các thể loại, còn trƣờng
phái, trào lƣu chỉ là những nhân vật hạng nhì và hạng ba” [9; 5].
2. Phạm vi nghiên cứu và nhiệm vụ đề tài
2.1 Phạm vi nghiên cứu
Từ mốc khởi đầu mang tính chất tƣơng đối - 1986, luận văn sẽ dừng lại
ở những tác phẩm ra đời trƣớc 2006. Trong vòng 20 năm phát triển, truyện
ngắn Việt Nam đã đi đƣợc những bƣớc dài với số lƣợng tác phẩm đồ sộ. Hàng
trăm tuyển tập truyện ngắn, đƣợc tập hợp theo những hệ tiêu chí khác nhau,
đã ra đời. Với khuôn khổ hạn chế của luận văn thạc sĩ, chúng tôi không có

vận động và gây nhiều tranh cãi. Đồng thời, luận văn sẽ là tƣ liệu tham khảo
cho những ai quan tâm đến truyện ngắn đƣơng đại Việt Nam.
Luận văn Thạc sĩ Lưu Thị Thu Hà Sự vận động của truyện ngắn VN từ 1986 đến nay, nhìn từ góc độ hình thức thể loại
7
3. Lịch sử vấn đề
Là giai đoạn có nội lực và tiềm năng, văn học Việt Nam 1986 - 2006
thu hút sự quan tâm của nhiều nhà phê bình, nghiên cứu, nhà văn và độc giả.
Trong đó, truyện ngắn đƣợc đánh giá là một trong những thể loại chủ đạo của
đời sống văn học thời kỳ Đổi mới. Tuy nhiên, do đây là một giai đoạn văn
học chƣa ổn định nên chúng ta chƣa có nhiều những công trình khái quát,
đánh giá một cách toàn diện những đặc điểm của 20 năm phát triển này so với
các giai đoạn trƣớc. Liên quan tới đề tài, chúng tôi tổng kết một số thành tựu
của những ngƣời đi trƣớc trên những nét lớn nhƣ sau:
3.1 Tình hình nghiên cứu khái quát về văn học 1986 - 2006
* Các công trình nổi bật:
- Chuyên luận 50 năm Văn học Việt Nam sau Cách mạng tháng 8 -
NXB Đại học Quốc gia, 1996 với những bài viết quan trọng:
Tiểu thuyết về chiến tranh - mấy ý nghĩ góp bàn - Lê Thành Nghị
Những biến đổi trong cấu trúc thể loại tiểu thuyết sau 1975 - Bùi Việt
Thắng
Mấy nhận xét về nhân vật văn xuôi Việt Nam sau 1975 - Nguyễn Thị
Bình
- Chuyên luận Văn học Việt Nam hiện đại - Nhận thức và thẩm định -
Vũ Tuấn Anh, NXB Khoa học Xã hội, 2001
- Luận án tiến sĩ Thời gian nghệ thuật trong cấu trúc văn bản tự sự - Lê
Thị Tuyết Hạnh, 1997
Luận văn Thạc sĩ Lưu Thị Thu Hà


Sự vận động của truyện ngắn VN từ 1986 đến nay, nhìn từ góc độ hình thức thể loại
9
thể nghiệm bản thân chứ không phải thể nghiệm cộng đồng” [63; 6], Nguyên
Ngọc viết.
Chia sẻ cách nhìn này, tác giả Nguyễn Thị Bình trong bài viết Mấy
nhận xét về nhân vật văn xuôi Việt Nam sau 1975 cũng khẳng định: “Văn
xuôi sau 1975 phát triển trong bối cảnh đất nƣớc chuyển đổi kinh tế, giao lƣu
văn hóa nhiều chiều. Ý thức cá nhân đƣợc sự cổ vũ của cơ chế thị trƣờng trỗi
dậy mạnh mẽ. Nhu cầu thức tỉnh gắn liền với cảm hứng khám phá, nghiền
ngẫm hiện thực, nhu cầu công bố tƣ tƣởng riêng trong thái độ nhập cuộc của
nhà văn…” [11; 67].
Từ bối cảnh lịch sử đó, các nhà nghiên cứu đã chỉ ra những đặc điểm kế
thừa và khác biệt của giai đoạn văn học này so với các giai đoạn trƣớc. Trong
tiểu luận Văn học quá độ - khái quát văn học Việt Nam thời đổi mới, tác giả
Dana Healy, giảng viên tiếng Việt tại Trƣờng nghiên cứu phƣơng Đông và
châu Phi, Đại học London đánh giá: “Một trong những đặc điểm đáng chú ý
nhất của nhiều tác phẩm hiện đại là mức độ phê phán cao đối với cuộc sống
thƣờng ngày. Sau nhiều năm tụng ca hiện thực, nhiều năm ca ngợi và tự ca
ngợi, cũng nhƣ hô hào một thứ lạc quan phi lý, các nhà văn bây giờ đã vứt bỏ
bức tranh lý tƣởng hóa hiện thực và đƣa ra một cái nhìn điềm đạm hơn về
cuộc sống” [24; 8].
Trong bài viết Văn học Việt Nam những năm đầu đổi mới tại cuộc Hội
thảo quốc tế Văn học Việt Nam trong bối cảnh giao lưu văn hóa khu vực và
quốc tế, nhà lý luận Lê Ngọc Trà nêu ra 3 đặc điểm của văn học sau 1986.
Đặc điểm nổi bật, theo ông là tính chất phê phán. “Nếu trƣớc đây nhân vật
chính của các tác phẩm hầu hết là ngƣời tốt, là nhân vật chính diện, thì bây
giờ, ngƣợc lại, trong nhiều tác phẩm các nhân vật chính thƣờng là nhân vật
Luận văn Thạc sĩ Lưu Thị Thu Hà



Sự vận động của truyện ngắn VN từ 1986 đến nay, nhìn từ góc độ hình thức thể loại
11
Có thể nói, các nhà nghiên cứu đã có sự thống nhất khá cao về những
đặc điểm nội dung của giai đoạn văn học 1986 - 2006.
Về đổi mới thi pháp. Tuy chƣa đi vào nghiên cứu một cách sâu rộng
các vấn đề thi pháp của văn xuôi sau 1986, song các bài viết gần đây đã nhấn
mạnh vào một số biến đổi về hình thức biểu đạt của tác phẩm nhƣ: Sự suy
giảm vai trò cốt truyện; sự đa dạng các hình thức cấu trúc tác phẩm; tính chất
đa thanh trong nghệ thuật trần thuật, những khám phá về hệ thống nhân vật…
Từ đó, các nhà nghiên cứu bƣớc đầu đi đến kết luận về khả năng mở rộng, gia
tăng tính đối thoại của tự sự đƣơng đại trƣớc các vấn đề hiện thực và lịch sử.
Nhà nghiên cứu Lê Ngọc Trà cho rằng: “Nền tảng của thi pháp này là việc
xem sáng tác văn học không phải nhƣ hoạt động tuyên truyền, mà là hoạt
động nhận thức và tự nhận thức, ở đó nhà văn không áp đặt cho ngƣời đọc tƣ
tƣởng có sẵn, đƣợc hình tƣợng hóa mà mang đến cho họ bức tranh sinh động
về cuộc sống thấm nhuần những cảm xúc, suy nghĩ của mình, gợi ra cho họ,
cùng thảo luận với họ và để họ tự phán xét” [73; 40].
3.2 Tình hình nghiên cứu truyện ngắn 1986 - 2006
* Các công trình nổi bật
- Chuyên luận: Truyện ngắn Việt Nam: Lịch sử, thi pháp, chân dung -
Phan Cự Đệ, NXB Đại học Quốc gia, 2000
- Chuyên luận: Truyện ngắn - Những vấn đề lý thuyết và thực tiễn thể
loại - Bùi Việt Thắng - NXB Đại học Quốc gia, 2000
- Chuyên luận Bình luận truyện ngắn - Bùi Việt Thắng, NXB Văn học,
1999
Luận văn Thạc sĩ Lưu Thị Thu Hà Sự vận động của truyện ngắn VN từ 1986 đến nay, nhìn từ góc độ hình thức thể loại

13
Đây cũng là nguyên nhân khiến truyện ngắn trở thành đối tƣợng thu hút
nhiều công trình phê bình, nghiên cứu về giai đoạn này. Các công trình, bài
viết nhìn chung đều đánh giá cao đóng góp của truyện ngắn trong việc phản
ánh hiện thực đời sống xã hội. Phạm Xuân Nguyên trong bài Truyện ngắn và
cuộc sống hôm nay đánh giá: “Truyện ngắn hôm nay tiếp xúc, xới lật các
mảng hiện thực ở cả hai chiều quá khứ và hiện tại để mong góp một tiếng nói
định vị cho ngƣời đọc, một thái độ nhìn nhận, đánh giá những việc, những
ngƣời của bây giờ, nơi đây [47; 10]. Chỉ rõ sự phát triển mạnh mẽ cả về số
lƣợng và chất lƣợng của thể loại này, nhà nghiên cứu Lý Hoài Thu viết:
“Cùng với sự gia tăng của những tên tuổi mới và số lƣợng tác phẩm, truyện
ngắn thời kỳ này đã mở ra nhiều tìm tòi cả trong tiếp nhận hiện thực lẫn thi
pháp thể loại. Đó là chiều sâu triết lý và những cảm nhận về sự cô đơn của
thân phận con ngƣời, là sự đan cài giữa cái ảo và cái thực, giữa chất thơ và
văn xuôi” [73; 182].
Còn trong bài viết Từ một góc nhìn về sự vận động của truyện ngắn
chiến tranh, tác giả Tôn Phƣơng Lan lý giải chi tiết hơn: “Những truyện ngắn
đã khai thác yếu tố tâm linh và tạo ra những chi tiết, cảnh huống ly kỳ, hấp
dẫn, đem lại cho các truyện này một vóc dáng hiện thực mới khiến ngƣời đọc
không chỉ cảm mà còn thấy” [38; 34].
Những đổi mới về nội dung tất yếu dẫn đến sự thay đổi về hình thức
thể loại truyện ngắn. Nhà phê bình Bùi Việt Thắng nhận xét: “Về khía cạnh
thi pháp, truyện ngắn 1986 - 2000 đã trở nên phong phú về hình thức, phong
cách và bút pháp. Đã có thể tách bạch ra những dòng phong cách chủ yếu sau:
phong cách cổ điển (ứng với lớp nhà văn nhƣ Nguyễn Thành Long, Nguyên
Ngọc, Nguyễn Kiên, Ma Văn Kháng, Nguyễn Khải, Hồng Nhu…), phong
Luận văn Thạc sĩ Lưu Thị Thu Hà Sự vận động của truyện ngắn VN từ 1986 đến nay, nhìn từ góc độ hình thức thể loại

của từng trào lƣu, từng xu hƣớng truyện ngắn nổi bật.
- Phân tích, tổng hợp những nét chung và riêng trong các tác phẩm để
thiết lập hệ thống luận điểm.
- Thống kê, mô tả các hiện tƣợng, các biểu hiện của hình thức, sau đó
lý giải sự vận động của hình thức thể loại truyện ngắn sau 1986.
4.2 Bố cục luận văn
Luận văn bao gồm Phần mở đầu, Phần nội dung và Phần kết luận. Phần
nội dung có 3 chƣơng:
Chƣơng 1: Cốt truyện và kết cấu
Chƣơng 2: Nghệ thuật xây dựng nhân vật
Chƣơng 3: Nghệ thuật trần thuật
Danh mục tài liệu tham khảo
Luận văn Thạc sĩ Lưu Thị Thu Hà Sự vận động của truyện ngắn VN từ 1986 đến nay, nhìn từ góc độ hình thức thể loại
16
PHẦN NỘI DUNG
CHƢƠNG 1: SỰ VẬN ĐỘNG CỦA CỐT TRUYỆN VÀ KẾT CẤU
Khái niệm “cốt truyện” đƣợc sử dụng chủ yếu cho các thể loại văn học
thuộc phƣơng thức tự sự hoặc kịch. Trong cuốn Lý luận văn học, giáo sƣ Hà
Minh Đức xác định: “Cốt truyện là một hệ thống các sự kiện phản ánh những
diễn biến của cuộc sống, và nhất là các xung đột xã hội một cách nghệ thuật,
qua đó các tính cách hình thành và phát triển trong những mối quan hệ qua lại
của chúng nhằm làm sáng tỏ tƣ tƣởng và chủ đề tác phẩm” [17; 45]. Nếu cốt
truyện là một yếu tố nghiêng về nội dung thì kết cấu là một phƣơng diện của
hình thức liên quan tới cách tổ chức, bố trí, sắp xếp sự xuất hiện của các chất
liệu hiện thực hay tổ chức các yếu tố bên trong và bên ngoài của tác phẩm.
“Bố cục là một phƣơng diện của kết cấu. Ngoài bố cục, kết cấu còn bao gồm:
tổ chức hệ thống tính cách, tổ chức thời gian và không gian nghệ thuật của tác

Tông di thảo, Lĩnh Nam chích quái (thế kỷ XV), Truyền kỳ mạn lục (thế kỷ
16)… Nhƣng các đặc điểm thể loại trong những tập truyện này chƣa biểu hiện
một cách tập trung và rõ nét. Tình trạng diễn ra phổ biến là sự nhập nhằng
giữa tính chất ký, truyện lịch sử, truyện mô phỏng, phóng tác truyền thuyết
dân gian trong các tác phẩm. Giới nghiên cứu thƣờng dùng khái niệm “truyện
ngắn trung đại” nhƣ một cách ƣớc lệ để chỉ hiện tƣợng không thuần nhất về
nội dung và nghệ thuật, gồm rất nhiều kiểu tác phẩm khác nhau ra đời trong
một khoảng thời gian gần 10 thế kỷ. Trong cuốn Truyện ngắn - Những vấn đề
lý thuyết và thực tiễn thể loại, nhà nghiên cứu Bùi Việt Thắng viết: “Trong
khi nghiên cứu sự hình thành và phát triển của thể loại truyện ngắn Việt Nam,
chúng tôi quan sát thấy một hiện tƣợng sau: trong khu vực Đông Bắc Á (gồm
Luận văn Thạc sĩ Lưu Thị Thu Hà Sự vận động của truyện ngắn VN từ 1986 đến nay, nhìn từ góc độ hình thức thể loại
18
Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên), hình thức ban sơ của truyện ngắn là
truyền kỳ - đó là một thứ “truyện thần thoại có tác giả, cốt truyện của nó có
thể đƣợc lƣu hành trong dân gian, đƣợc các nhà văn sử dụng, nâng cao thành
tác phẩm văn học. Truyền kỳ là thể loại văn xuôi nghệ thuật sớm sủa của văn
học cổ điển Trung Quốc và theo quan niệm về thể loại này, nó là hình thức
ban đầu của truyện ngắn” [68;79].
Mới manh nha và chƣa có hình mẫu nào ổn định, truyện ngắn trung đại
phát triển khá đa dạng, nhiều chiều, nhiều khuynh hƣớng nhƣng có thể đƣợc
khái quát thành một số đặc điểm nhất định. Truyện thƣờng có nội dung và lối
kể dân gian. Dựa trên cốt truyện hoặc các nhân vật dân gian, nhà văn đắp
thêm phần hƣ cấu của mình cho tác phẩm có màu sắc hiện đại hoặc nhằm
phản ánh hiện thực nào đó. Người con gái Nam Xương là một ví dụ điển hình.
Tác phẩm có nguồn gốc từ truyện cổ tích dân gian Vợ chàng Trương. Nhƣng
Nguyễn Dữ đã sáng tạo thêm phần không gian truyện dƣới thủy cung nhằm

truyện, chủ yếu lấy cốt truyện từ những sự tích lƣu truyền trong dân gian.
Truyện đƣợc nhà văn viết bằng lối văn tổng hợp nhiều hình thức nhƣ tản văn,
biền văn, thơ… Truyền kỳ mạn lục phản ánh khá đầy đủ và sắc sảo bức tranh
xã hội phong kiến Việt Nam thế kỷ XVI. Tác phẩm đã vƣợt khỏi dấu ấn của
loại ký lịch sử, đã có thêm phần phóng tác và hƣ cấu của ngƣời viết. Những
truyện nhƣ Người nghĩa phụ ở Khoái Châu, Cây gạo, Lệ Nương, Người con
gái Nam Xương… chứa đựng những mầm mống phát sinh của chủ nghĩa hiện
thực.
Do ảnh hƣởng các cốt truyện dân gian và dã sử, nên kết cấu truyện
ngắn trung đại chƣa thực sự phức tạp. Phần lớn, truyện diễn tiến theo trình tự
tuyến tính, cái gì xảy ra trƣớc, kể trƣớc. Các nhà văn ít dụng công miêu tả
Luận văn Thạc sĩ Lưu Thị Thu Hà Sự vận động của truyện ngắn VN từ 1986 đến nay, nhìn từ góc độ hình thức thể loại
20
không gian và thời gian nghệ thuật, chủ yếu kể lại tiến trình xảy ra của sự
việc. Việc khắc họa đời sống tâm lý nhân vật cũng chƣa đƣợc chú trọng nên
những hình thức kết cấu tâm lý dƣờng nhƣ không xuất hiện trong truyện ngắn
trung đại. Đặc điểm này khiến truyện ngắn trung đại trở thành một thể loại dễ
đọc, dễ hiểu đối với độc giả buổi đầu tiếp cận. Nhƣng trong tƣơng quan với
các nền truyện ngắn trên thế giới, có thể thấy truyện ngắn Việt Nam phát triển
chậm hơn rất nhiều.
Cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, truyện ngắn Việt Nam đã có sự phát
triển tuy chƣa mạnh mẽ, rầm rộ, nhƣng có thể nói đã tạo đƣợc bƣớc ngoặt,
đánh dấu sự chuyển biến từ cách kể chuyện trung đại sang cách kể chuyện
hiện đại. Dù khó xác định mốc thời gian chính xác, nhƣng một cách tƣơng
đối, các nhà nghiên cứu cho rằng, Truyện Thầy Lazaro Phiền của Nguyễn
Trọng Quản xứng đáng là truyện ngắn Việt Nam hiện đại đầu tiên viết theo
kiểu phƣơng Tây. Tác phẩm đã mở đầu cho sự ra đời của một loạt truyện

văn luôn tìm cách dồn nén hàng loạt cử chỉ, động tác và lời đối thoại gay gắt
của các nhân vật vào quan hệ đối kháng. Khi đƣợc đặt trong những bối cảnh
văn học đặc biệt, chúng thƣờng đƣợc đẩy lên thành những hiện tƣợng mang
tính tƣợng trƣng, hay còn gọi là hoàn cảnh điển hình. Có thể nói, với dòng
văn học hiện thực phê phán, cốt truyện truyện ngắn đã đƣợc đẩy lên đến đỉnh
cao của sự mẫu mực. Sự phát triển của tác phẩm đi qua tiến trình cơ bản gồm
thắt nút, cao trào, mở nút. Cốt truyện đƣợc xây dựng dựa vào hệ thống sự
kiện; biến cố giữ vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy cốt truyện phát triển
và kết thúc tác phẩm thƣờng rất bất ngờ. Với kiểu cốt truyện này, kết cấu
Luận văn Thạc sĩ Lưu Thị Thu Hà Sự vận động của truyện ngắn VN từ 1986 đến nay, nhìn từ góc độ hình thức thể loại
22
truyện ngắn 1932 - 1945 cũng rất đa dạng, phong phú. Có kiểu kết cấu theo
trình tự thời gian, kết cấu hồi cố, kết cấu tâm lý, kết cấu truyện lồng trong
truyện. Trong đó nguyên tắc cơ bản của miêu tả là tạo sự đối lập tƣơng phản
và tăng cấp, giữa các nhân vật, trong mỗi nhân vật, giữa các tình huống và
ngay trong một tình huống. Nếu nhƣ Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố khai
thác xung đột kẻ giàu - ngƣời nghèo thì Nam Cao, Nguyên Hồng phản ánh sự
mâu thuẫn giữa nông dân và phú hào, khát vọng của trí thức và những kiềm
tỏa của đời sống vật chất.
Trong dòng văn học lãng mạn, truyện ngắn trữ tình là một trong những
giá trị nổi bật, với những sáng tác đặc sắc của Thạch Lam, Thanh Tịnh, Hồ
Dzếnh Thƣờng bộc lộ tâm tƣởng của con ngƣời trƣớc đời sống, truyện ngắn
trữ tình về cơ bản là sự chủ quan hóa, nội tâm hóa cái nhìn thế giới. Truyện
không nặng về kể lể các sự việc mà chủ yếu thể hiện các trạng thái tâm lý của
con ngƣời. Sự kiện nội tâm là chất liệu cơ bản để xây dựng cốt truyện. Do đó,
truyện ngắn trữ tình thƣờng không có cốt truyện. Kết cấu chủ yếu theo dòng
tâm lý, suy tƣởng; xung đột nội tâm là điểm tựa cho cấu trúc của truyện. Cả

định. Dung lƣợng tác phẩm bắt đầu giãn ra nhƣng chất tiểu thuyết chỉ thực sự
xuất hiện ở những truyện ngắn mang tƣ duy tiểu thuyết, biểu hiển rõ ở hệ
thống chủ đề, cốt truyện, tính cách và những vấn đề hiện thực đặt ra trong
đó… Nhìn từ góc độ cốt truyện và kết cấu, ở những tác phẩm thuộc xu hƣớng
này, tính chất đơn tuyến và sự hữu hạn của thời gian, không gian từng bƣớc bị
phá vỡ. Cốt truyện vẫn giữ lại sƣờn sự kiện mang tính dramatic truyền thống
song dấu hiệu đa tuyến đã xen vào cùng với nghệ thuật xử lý thời gian không
gian phức tạp và hiệu quả hơn. Đó là trƣờng hợp của những truyện ngắn nhƣ
Chí Phèo, Đời thừa… (Nam Cao).

Trích đoạn Đối thoại gia tăng mạnh tính khẩu ngữ Những biến đổi về ngôn ngữ trần thuật Sự vận dụng các hình thức và giọng điệu trần thuật
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status