Đóng góp của Xuân Diệu trong phê bình văn học trung đại qua các nhà thơ cổ điển Việt Nam - Pdf 26


1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

****************** LƯƠNG THU THUỶ
ĐÓNG GÓP CỦA XUÂN DIỆU TRONG SỰ NGHIỆP PHÊ BÌNH
VĂN HỌC TRUNG ĐẠI QUA CÁC NHÀ THƠ CỔ ĐIỂN VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành : Văn học Việt Nam

Hà Nội - 2011

Hà Nội - 2011 3
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài 3
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 5
3. Phương pháp nghiên cứu và giới hạn phạm vi nghiên cứu 6
4. Giới thiệu sơ lược cấu trúc luận văn 7
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1:
Sự vận động trong quan niệm về thơ và phê bình thơ của Xuân Diệu.8
1.1 Quan niệm của Xuân Diệu về thơ 8
1.1.1. Thơ trước hết là cuộc sống, cuộc sống trần thế nơi trần tục này 8
1.1.2. Thơ là trái tim chân thật, là qui luật tình cảm. 11
1.2.Quan niệm của Xuân Diệu về phê bình thơ 13
1.2.1 Phương pháp phê bình nghiên cứu của Xuân Diệu 13
1.2.2. Những yêu cầu cần có ở một nhà phê bình thơ 21
1.3 .Nhìn lại một số thành tựu nghiên cứu phê bình thơ của Xuân Diệu qua
các chặng đường. 23
1.4. Xuân Diệu với gia tài văn học cổ điển dân tộc 32

Chương 2:
Đóng góp về nội dung tư tưởng và giá trị nghệ thuật của Xuân Diệu
với các tác giả, tác phẩm văn học trung đại Việt Nam (qua Các nhà thơ
cổ điển Việt Nam) 34
5
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài:
Xuân Diệu là một trong những tác giả lớn của văn học Việt Nam thế
kỉ XX. Không chỉ là "hoàng tử thơ" mà ông còn là một nhà hoạt động kiệt
xuất trên nhiều lĩnh vực sáng tác văn học. Chế Lan Viên đã có lần thốt lên
rằng “năng suất của Diệu bằng cả một viện văn chương, mà Diệu vừa là
viện trưởng, vừa là viện phó, vừa là loong toong, bởi vì chỉ một mình Diệu
đã viết hầu hết các danh nhân văn học”. Cùng với sự nghiệp thơ ca nổi
tiếng, ông còn để lại một khối lượng tác phẩm tiểu luận - phê bình phong
phú, đồ sộ. Từ những bài tranh luận văn học sôi nổi thời Thơ Mới (1932-
1945) đến Tiếng thơ (1951), Những bước đường tư tưởng của tôi (1958); từ
Phê bình giới thiệu thơ (1960) đến Trò chuyện với các bạn làm thơ
trẻ”(1961), Dao có mài mới sắc (1963), Lượng thông tin và những kỹ sư
tâm hồn ấy (1978), Các nhà thơ cổ điển Việt Nam, tập I (1981), tập II
(1982) và Công việc làm thơ (1984), Sự uyên bác với việc làm thơ”(1985)
Hơn ba nghìn trang sách, gần hai chục công trình, chỉ tính riêng các tác
phẩm lí luận, phê bình, ta đã có thể gọi Xuân Diệu là một “đại gia”.
Phê bình nghiên cứu văn học theo nghĩa như một hoạt động chuyên
nghiệp, ở nước ta, lại ra đời khá muộn. Tính cho đến nay thì trong thành
tựu chung của văn học hiện đại nước nhà, phê bình vẫn phát triển chậm.
Xuân Diệu, đến lượt ông, khi viết phê bình, đã không ngần ngại lập nên
danh sách năm tên tuổi lớn nhất trong lịch sử văn học Việt Nam từ khởi
thuỷ cho đến năm 1945: Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Tú
Xương và Ðoàn Thị Ðiểm (nếu bà quả đúng là tác giả bản dịch Chinh phụ

Tất nhiên, đó đây vẫn xuất hiện những nét cực đoan, quá khích, bị ảnh
hưởng bởi quan điểm chính trị, giai cấp. Đó là những hạn chế không thể
tránh khỏi do bối cảnh của thời đại và do phương pháp phê bình theo lối xã
hội học dung tục mang lại. Nhưng không thể phủ nhận một điều rằng qua

7
tâm hồn, tài năng và nghệ thuật, sự phân tích và diễn đạt của Xuân Diệu,
những giá trị tinh hoa của văn học truyền thống từ Nguyễn Trãi, Nguyễn
Du, Hồ Xuân Hương, Cao Bá Quát đến Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương,
Nguyễn Đình Chiểu, Đào Tấn…đều hiện lên vô cùng gần gũi, thân thiết đối
với con người hôm nay. Cùng với chân dung Các nhà thơ cổ điển Việt
Nam, người đọc đã nhận ra được chân dung của nhà thơ, nhà phê bình
Xuân Diệu uyên bác, cần mẫn, rất mực tinh tế và tài hoa.
Tìm hiểu nghiên cứu đóng góp của Xuân Diệu ở lĩnh vực này sẽ giúp
ta rút ra được những bài học bổ ích, những kinh nghiệm quí báu cho sự
nghiệp xây dựng và phát triển nền phê bình văn học hiện nay. Mặt khác,
Xuân Diệu là một tác gia văn học lớn. Chính vì vậy, đã đến lúc muốn khai
thác một cách toàn diện và sâu sắc sự nghiệp của Xuân Diệu cũng như
những đóng góp lớn lao của ông đối với nền văn học nước nhà, rất cần có
những công trình nghiên cứu chuyên biệt từng tác phẩm, từng chặng
đường, từng phương diện sáng tạo của ông. Và tất nhiên, trong đó chúng ta
không thể không có những công trình chuyên sâu khám phá vẻ đẹp và
những đóng góp của văn tài Xuân Diệu trong lĩnh vực phê bình, nghiên cứu
văn học.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu :
2.1. Mục đích nghiên cứu:
Luận văn muốn phân tích, tìm hiểu, phát hiện những đóng góp của
Xuân Diệu trong việc đánh giá những giá trị nội dung cũng như giá trị nghệ
thuật của các tác giả văn học trung đại (bên cạnh những điểm còn hạn chế
trong phê bình của Xuân Diệu) qua Các nhà thơ cổ điển Việt Nam. Qua đó,

tác phẩm văn học trung đại của một số tác giả tiêu biểu như Nguyễn Trãi,
Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến…

9
4. Giới thiệu sơ lược cấu trúc luận văn:
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn của chúng tôi gồm hai
chương sau đây :
Chương 1: Sự vận động trong quan niệm về thơ và phê bình thơ của Xuân
Diệu
Chương 2: Đánh giá về nội dung tư tưởng và giá trị nghệ thuật của Xuân
Diệu với các tác giả, tác phẩm văn học trung đại Việt Nam (qua Các nhà
thơ cổ điển Việt Nam)

11
Nói làm chi răng xuân vẫn tuần hoàn,
Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại.”
(Vội vàng)
Mặc dù là một nhà thơ lãng mạn, luôn say đắm trong tình yêu, thoáng qua,
tưởng là thơ thoát ly hiện thực nhưng trái lại đó chính là niềm khát khao
giao cảm với đời của Xuân Diệu. Trong thơ ông không thiếu những vần thơ
thể hiện rõ quan niệm về mối quan hệ máu thịt giữa nhà thơ với cuộc đời
hay cuộc đời với nhà thơ:
“Tôi chỉ là một cây kim bé nhỏ
Mà vạn vật là muôn đá nam châm.”
(Cảm xúc)
Hay:
“Kẻ đựng trái tim trìu máu đất
Hai tay chín móng bám vào đời.”
Khái quát hơn, Xuân Diệu quan niệm bản chất của thơ “là sự cộng thêm
vào thực tại một tâm hồn, một trí tuệ, một tình cảm, một sáng tạo” hay nói
cách khác, từ hiện thực cuộc sống, thông qua tâm hồn trí tuệ, biết lọc lấy
tinh chất và “đóng con dấu riêng” của cá tính sáng tạo và tác phẩm là
những khía cạnh thuộc bản chất của thơ. Khi quan niệm về nhà thơ, Xuân
Diệu cho rằng làm thi sĩ là một cuộc đấu tranh, một sướng vui trong gian
khổ. Người làm thơ không thể không trải qua một sự “rèn luyện cật lực”,
phải chân thực đừng mượn hơi người khác thổi cái bong bóng của mình. 12
Nhà thơ còn phải có tài, có vốn sống sâu rộng có bản lĩnh, phải biết hy sinh
cho thi phẩm của mình. Ông khẳng định: “Tôi sáng tác vậy thì tôi tồn tại”,
hồn vía của nhà thơ là ở cây bút và tác phẩm. Với Xuân Diệu, ngay từ thời
Thơ thơ và Gửi hương cho gió đến sau này Tôi giầu đôi mắt, Hồn tôi đôi

Xuân Diệu càng quan tâm đến vấn đề chất sống, chất đời trong thơ bao
nhiêu, Xuân Diệu càng đề cao tính chân thật của tác phẩm nghệ thuật
bấy nhiêu. Rất nhiều lần trong các bài nói chuyện, trong các công trình tiểu
luận phê bình, Xuân Diệu vẫn hằng như một yêu cầu thường trục:
“Thơ phải:
Chân, chân, chân
thật, thật, thật!”
Với ông, “thật” là sự có thật ở trong đời, ở trong sự sống; “chân” là tính có
thật ở trong lòng người, tâm hồn người. Tính chân thật của thơ nói riêng và
văn học nói chung là sự biểu hiện sự kết hợp hữu cơ giữa khách quan và
chủ quan, giữa sự am tường đời sống và một “nội tâm rất đầy” của nhà thơ,
hay giữa ngoại cảnh và tâm cảnh. Đối với Xuân Diệu, “cái giả” là một thứ
hiểm hoạ và ông đã tuyên chiến với nó như tuyên chiến với cái xấu, cái ác,
“phải ghét cái giả như ghét rắn độc, thấy nó là phải triệt”.
1.1.2. Thơ là trái tim chân thật, là qui luật tình cảm.
Thơ vốn là thể loại thiên về phía bộc lộ cảm xúc, tình cảm. « Thơ còn
là thơ nữa » là cách nói của Xuân Diệu về quy luật của nghệ thuật, quy luật
của tác phẩm, cụ thể hơn là những đặc trưng của thơ, bí quyết của thơ-
« đức tính thơ ». Xuân Diệu quan niệm nhà thơ lớn là nhà thơ nắm bắt được
sâu sắc nhất qui luật của trái tim, con đường ngắn nhất để thơ đến với
người đọc là con đường thẳng trực tiếp từ trái tim đến trái tim. Cho nên
“đức tính” trước tiên của tác phẩm thơ cũng như của nhiều tác phẩm nghệ

14
thuật khác là “sự cộng thêm vào thực tại một tâm hồn, một trí tuệ, một tình
cảm, một sáng tạo”. Xuân Diệu cho rằng đây là một vấn đề khá tinh vi, “tất
cả chất liệu trong cuộc sồng đều có khả năng hoá thành thơ, nhưng không
phải cái gì cũng ôtômatích ra thơ” cả. Kế thừa và phát huy những quan
niệm của thơ ca truyền thống dân tộc, Xuân Diệu cũng hết sức đề cao vai
trò của tình cảm trong thơ.

người cầm bút. Không phủ nhận thơ là một nghề, hiểu rất rõ “nghề thơ
cũng lắm công phu”, nhưng Xuân Diệu không bao giờ coi cái tài, cái khéo
là quyết định tất cả… Cần phải “có hồn để sai khiến kĩ xảo”, cần phải có
mạch đập trái tim sau từng con chữ thì thơ mới đi vào được cõi lớn rộng,
dài lâu. Muốn vậy, người làm thơ phải sống thật, yêu thật, phải hiểu việc
đời, việc người vô cùng sâu sắc, còn “sống cạn như đĩa đèn” thì làm sao mà
có thơ hay được.
1.2. Quan niệm của Xuân Diệu về phê bình thơ
1.2.1. Phương pháp phê bình nghiên cứu của Xuân Diệu
Phê bình có thể được nhìn như một phương tiện tập hợp vô số các
văn bản và các hình thức diễn ngôn khác nhau vào một thế giới chung
nhất có tên là văn học. Trong chiều hướng này, người ta cũng có thể nói,
như cách tóm tắt của Roger Webster: "Văn học có thể được nhìn như là
sản phẩm của phê bình và lệ thuộc vào phê bình hơn là ngược lại”. Nhà
phê bình là kẻ đi tìm kiếm, mở rộng hoặc nâng cao các quy phạm chứ
không phải là kẻ bảo vệ các quy phạm. Một trong những nghịch lý lớn

16
làm nên bản chất của phê bình là, một mặt, nó không thể không căn cứ
trên một quan điểm thẩm mỹ nhất định nào đó, nhưng mặt khác, nó lại
không được quyền trực tiếp nhân danh quan điểm thẩm mỹ ấy để tiến
hành việc phê bình. Nhà phê bình sẽ trở thành một kẻ nô lệ nếu xem một
quan điểm thẩm mỹ nào đó như một chân lý có sẵn và bất biến, một thứ
thước đo vượt thời gian và vượt không gian như một số người thường
nói. Ba chức năng phát hiện cái đẹp, quy phạm hoá cái đẹp và phủ định
một số những quy phạm hiện có thường gắn liền chặt chẽ với nhau và
cùng tồn tại trong mọi thời đại. Tuy nhiên, tuỳ từng lúc, trong những
điều kiện văn hoá đặc thù nào đó, một trong ba chức năng ấy sẽ được
xem là quan trọng hàng đầu. Phê bình, từ chức năng thứ nhất, tập trung
vào những đối tượng cụ thể: một tác phẩm, một tác giả hoặc một trào

Diệu còn nhấn mạnh và giải thích rõ hơn, thấu hiểu tư tưởng lập trường đã
đành, còn cần phải thấu hiểu cả phương pháp cấu tứ, tạo hình, bút pháp,
thói quen, cá tính của một nhà thơ. Mặt khác, như trên đã nói, mỗi tác
phẩm là "một cơ thể", "một sinh vật", "một tác giả", "một con người” -
cũng có nghĩa là, ở trên đời không có những nhà thơ trừu tượng, mà chỉ có
những nhà thơ cụ thể, bằng xương bằng thịt, làm thơ trong một hoàn cảnh
xã hội, gia đình, sức khoẻ cụ thể, trong một thời gian cụ thể của đời mình,
tức là "một thi sĩ sống làm thơ, chứ không phải một thi sĩ trong óc người
phê bình". Phê bình sở dĩ trở thành người bạn đường thường xuyên của văn
học và không thể tưởng tượng được văn học mà thiếu phê bình vì công
chúng muốn chiếm lĩnh tác phẩm nghệ thuật, chiếm lĩnh kho tàng văn hoá,
họ rất cần sự môi giới của nhà phê bình nghiên cứu. Muốn làm được vai trò
ấy, phê bình văn học không thể không hiểu thấu đáo về tác giả, tác
phẩm và những kiến thức cần thiết khác. Cũng theo Xuân Diệu, một
niềm vui lớn mà văn học đưa đến cho tâm trí con người là sự hiểu biết, sự

18
thấu hiểu, sự cảm thấu. Nếu được cảm thấu người ta sẽ sống lên gấp hai,
gấp ba, nghĩa là sự sống tự nhân đến mức cao, là khám phá thấy loài người
ở trong một bản thân mình. Vì thế, cần phải xác định, phê bình không phải
là chỉ trích, nhà phê bình không phải là lên lớp bằng chủ quan của mình,
mà nhiệm vụ chính của nhà phê bình trong quan niệm của Xuân Diệu
là "giúp cho bạn yêu thơ hiểu một thời đại, một nền thơ, một nhà thơ".
Xuất phát từ quan niệm ấy, khi tìm về văn học quá khứ của dân tộc,
Xuân Diệu luôn ý thức phải nói sao cho thấu lý đạt tình. Ông tra cứu, suy
ngẫm từng bài thơ, ông gắn hoàn cảnh sáng tác với hoàn cảnh sống khi
chưa có hướng đời của tác giả để cắt nghĩa một cách thấu đáo vẻ đẹp của
nỗi buồn đau trong thơ ca xưa. Vậy là, "đọc" có nghĩa là "sống" với tác giả,
tác phẩm. Sinh thời, trong phê bình, Xuân Diệu rất coi trọng việc đọc,
đọc nhiều lần, nhiều cách để được cảm thấu bằng nhiều giác quan.

những cái gì chưa ai có" (Đời thừa). Phê bình văn học, ở một góc độ nào
đó, phải cùng chung khát vọng ấy mới thực sự là "người môi giới", là “bà
đỡ” cho những công trình sáng tạo đầy trăn trở của người nghệ sĩ.
Xuân Diệu thường yêu cầu nhà văn, nhà thơ không được "cầu an", càng
ngày càng phải "nấu nướng cho tốt lành nhiều hơn nữa, thơm ngon nhiều
hơn nữa", nhưng người đọc, người phê bình cũng không được "cầu an",
phải "cải tạo cái lưỡi của mình" mới thưởng thức được cái hay, cái đẹp của
tác phẩm.
Quy luật lao động sáng tạo của con người bao gồm cả quy luật lao
động nghệ thuật, là bao giờ cũng hướng tới cái đẹp. Thơ vốn là tinh chất, là
cái "nhụy" của đời sống, lại càng hướng tới sự biểu hiện một cách tập trung
nhất vẻ đẹp tâm hồn, tình cảm con người. Vốn là nhà thơ lớn của niềm khát
vọng "vô biên" và "tuyệt đích", trong phê bình, Xuân Diệu muốn hướng
người đọc tới cái tuyệt vời, cái hoàn mỹ, tức là vẻ đẹp kết hợp hài hoà giữa

20
giá trị nghệ thuật và giá trị nội dung trong tác phẩm. Đó cũng là cái bản
lĩnh, bản sắc của tâm hồn và cuộc đời thi sĩ được biểu hiện qua văn chương
của họ. Không phải ngẫu nhiên mà Xuân Diệu rất tâm đắc, mến phục nhà
phê bình nổi tiếng của văn học Trung Quốc - Kim Thánh Thán (1950-
1648). Phải chăng, Xuân Diệu đã bắt gặp ở đây quan niệm phê bình văn
học gần gũi với chính mình. Phê bình dù đề cập đến xưa hay nay, đều
không phải chỉ trả lời những vấn đề của quá khứ hoặc hiện tại mà còn là
câu chuyện "tấc lòng" gửi đến mai sau; trong cái mục đích phục vụ vì mọi
người, còn có cả "vì chính mình", vì "mình muốn làm duyên với người đời
sau", muốn buộc người đời sau phải nhớ đến tên tuổi của mình. Rõ ràng với
ý thức như vậy, phê bình văn học sẽ là nỗi niềm canh cánh bên lòng, là một
nhu cầu của nội tâm; sẽ không đơn thuần lý lẽ mà tràn đầy cảm hứng. Nó
xa lạ với thứ phê bình máy móc, áp đặt vì những mục đích ngoài văn học.
Với Xuân Diệu, phê bình nghiên cứu văn học có hai mục đích: Một

tác cùng sống với những tâm tình vui buồn yêu ghét của tác giả từ đó để
hiểu bằng cái nhìn của người trong cuộc.
Xuân Diệu thường dựa vào những tài liệu có thực, tìm hiểu cặn kẽ
hoàn cảnh lịch sử, xã hội, hoàn cảnh sáng tác và hoàn cảnh cá nhân của mỗi
nhà thơ; gắn liền thơ với đời mà hình dung tưởng tượng với tát cả niềm
cảm hiểu và yêu mến “say sưa đầy rẫy” của mình. Rõ nhất, thể hiện qua
công trình Các nhà thơ cổ điển Việt Nam
Có thể nói “vận mình vào chủ thể sáng tạo” là một cách thức phê bình
giàu nội lực, phối hợp được nhiều thao tác ở ngòi bút Xuân Diệu. Nhà phê

22
bình đã vận mình được vào nhà văn nhà thơ, thì bản thân họ cũng là một
chủ thể sang tạo, song đôi lúc, anh ta cũng dễ gán tâm lý mình cho người
xưa. Cách bình giảng một vài bài thơ, câu thơ của Hồ Xuân Hương…chừng
tỏ Xuân Diệu cũng vấp vào trường hợp như thế.
1.2.1.3. Huy động triệt để vốn văn hoá, đờig sống vào trường liên
tưởng thẩm mỹ.
Xuất phát từ khái niệm “trường liên tưởng thẩm mĩ”, có thể thấy được
rằng Xuân Diệu có một trường thẩm mỹ rất rộng lớn, phong phú và sâu sắc.
Với đời sống, vốn văn hoá ấy Xuân Diệu không chỉ có tài liên tưởng so
sánh trong thơ, mà còn vận dụng rất sinh động đắc đại vào văn tiểu luận,
phê bình.
So sánh đồng đại, so sánh lịch đại, so sánh để làm nổi bật vấn đề,

để
nhận thức sáng tỏ chân lí, để nhận diện bước tiến của từng nhà thơ và
phong cách sáng tạo khác nhau giữa nhà thơ này và nhà thơ khác được
Xuân Diệu với vốn tri thức và tình cảm đầy ắp của mình thể hiện một cách
rất linh hoạt. Nét đặc sắc ấy là trường liên tưởng so sánh trong văn tiểu
luận- phê bình của Xuân Diệu rất uyên bác, phong phú nhưng không bao

“khen hay chê chưa quan trọng bằng cảm thông và thấu hiểu”. Nhiệm vụ
phê bình, theo Xuân Diệu là phát hiện cho được cái hay, cái tuyệt vời, cái
hoàn mỹ mà chúng ta cần phải vươn tới để nâng cao trình độ cho người
đọc. Vì thế, Xuân Diệu cho rằng phê bình không phải là chỉ trích, nhà phê
bình không phải là lên lớp bằng chủ quan của mình, mà nhiệm vụ chính của

24
nhà phê bình là "giúp cho bạn yêu thơ hiểu một thời đại, một nền thơ, một
nhà thơ".
Theo Xuân Diệu, nhà phê bình phải có ý thức về mục đích, nhiệm vụ
phê bình thơ. Ông luôn xác định mục đích của phê bình thơ là làm cầu nối
giữa tác giả, tác phẩm và người đọc. Phê bình thơ một mặt phải cổ vũ, động
viên, khuyến khích được phong trào sáng tác; mặt khác phải đấu tranh
chống những quan điểm cực đoan hoặc thô thiển dung tục về văn hoá văn
nghệ. Vấn đề quan trọng là vừa bảo vệ những giá trị đích thực của thơ, vừa
giúp các tác giả có ý thức phán đấu nâng cao trình độ thưỏng thức, đánh giá
thơ, hướng tới xây dựng một nền thơ hiện đại. Về nhiệm vụ của phê bình
thơ, Xuân Diệu khẳng định điều quan trọng nhất là phải đưa cái đúng, cái
tốt, cái hay của thơ vào công chúng. Muốn như thế , phê bình thơ phải có
nhãn quan phóng khoáng. Nhà phê bình phải có tầm nhìn rộng lớn, có quan
niệm nghệ thuật chung về văn học và thơ một cách rõ ràng, phải có cái nhìn
tổng quát trước khi đi vào phê bình chứ không phải trước mắt chỉ thấy tác
giả, tác phẩm đó.
Đối với Xuân Diệu, giới thiệu thơ cũng là một hoạt động phê bình
thơ. Ông giới thiệu nghệ thuật thơ ông, thơ của các tác giả lớn trong khu
vực và nước ngoài. Phê bình của ông không chỉ đóng khung với các tác
phẩm đương đại mà đề cập cả những tác phẩm dân gian và cổ điển. Về thơ
cổ điển, ông lại kết hợp phê bình và nghiên cứu, đánh giá tác phẩm trong
đời sống đương đại - điều đó rất phù hợp quan niệm phê bình hiện đại.
Bên cạnh đó, theo Xuân Diệu, nhà phê bình thơ phải am hiểu đặc

Diệu đã viết để có cái nhìn khái quát nhất về chặng đường sáng tác của
ông:
Thanh niên với quốc văn (1945)

Trích đoạn Xuân Diệu bình và giảng Xuân Diệu với Nguyễn Trãi Xuân Diệu với đại thi hào dân tộc Nguyễn Du Xuân Diệu với “bà chúa thơ Nôm” Hồ Xuân Hương
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status