ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN BÙI THỊ CHUYÊN
TIỂU THUYẾT VIẾT VỀ NÔNG THÔN SAU 1975
(KHẢO SÁT QUA TÁC PHẨM CỦA NGUYỄN KHẮC TRƯỜNG
VÀ ĐÀO THẮNG)
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành văn học Việt Nam
Hà Nội - 2013
1
MỞ ĐẦU 1
1. Lí do chọn đề tài 1
2. Lịch sử vấn đề 2
2.1 Những vấn đề chung 2
2.2 Về hai tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma và Dòng sông mía 4
2.2.1 Tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma của nhà văn Nguyễn Khắc Trường 4
2.2.2 Về tiểu thuyết Dòng sông mía của nhà văn Đào Thắng 8
3. Nhiệm vụ và mục đích nghiên cứu 9
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 10
4.1 Đối tượng nghiên cứu: 10
4.2 Phạm vi nghiên cứu: 10
5. Phương pháp nghiên cứu 10
6. Đóng góp của luận văn 10
7. Cấu trúc của luận văn 11
CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT TIỂU THUYẾT VIẾT VỀ NÔNG THÔN SAU
1975. SỰ XUẤT HIỆN CỦA NGUYỄN KHĂC TRƯỜNG VÀ ĐÀO THẮNG
12
1.1 Khái quát tiểu thuyết viết về nông thôn trong dòng chảy của tiểu thuyết Việt Nam
đương đại 12
1.1.1. Tiểu thuyết viết về nông thôn trước đổi mới (1986) 12
1.1.2 Tiểu thuyết viết về nông thôn sau đổi mới (1986) 18
1.2 Sự xuất hiện của nhà văn Nguyễn Khắc Trường và nhà văn Đào Thắng trong
dòng chảy của tiểu thuyết Việt Nam đương đại 24
1.2.1 Tiểu thuyết Nguyễn Khắc Trường trong dòng chảy của tiểu thuyết Việt Nam
đương đại 24
1.2.2 Tiểu thuyết Đào Thắng trong dòng chảy của tiểu thuyết Việt Nam đương đại . 25
CHƯƠNG 2 HIỆN THỰC NÔNG THÔN VÀ THẾ GIỚI NHÂN VẬT
TRONG MẢNH ĐẤT LẮM NGƯỜI NHIỀU MA VÀ DÒNG SÔNG MÍA 28
2.1 Đời sống nông thôn trong Mảnh đất lắm người nhiều ma và Dòng sông
mía 28
Nông thôn luôn là đề tài xuyên suốt của văn học Việt Nam: Từ ca
dao, văn học trung đại đến văn học hiện đại. Mỗi thời kỳ tuỳ theo hoàn cảnh
lịch sử, văn hoá, xã hội mà nông thôn được tiếp cận dưới những góc độ khác
nhau. Trong dòng văn học Hiện thực phê phán những năm 1930 – 1945,
nông thôn hiện lên với cái đói, cái nghèo, tối tăm, lạc hậu. Sau cách mạng
Tháng tám đến năm 1975, đề tài nông thôn được khai thác với cảm hứng
ngợi ca những mặt tích cực, tốt đẹp của cuộc sống. Sau năm 1975, đặc biệt
là sau Đại hội Đảng VI (1986) với tinh thần tự do dân chủ nhìn thẳng vào sự
thật, phát huy nhân tố con người đã mang đến cho văn chương một luồng
sinh khí mới. Các nhà văn đã mạnh dạn bày tỏ tư tưởng, quan điểm nghệ
thuật của mình về hiện thực. Hơn thế nữa, giai đoạn này trong lòng văn học
đang diễn ra một sự chuyển biến mạnh mẽ đó là: sự chuyển biến từ khuynh
hướng sử thi sang khuynh hướng thế sự đời tư. Sự chuyển đổi này đã mang
đến cho văn học viết về nông thôn những thay đổi đáng ghi nhận. Dưới cái
nhìn thế sự, người nông dân xuất hiện trên những trang văn với tất cả những
buồn vui, sướng khổ. Chưa bao giờ cuộc sống riêng tư, số phận con người
lại được chú ý đến như vậy.
Trong hàng loạt tác phẩm văn xuôi được viết từ sau đổi mới về đề tài nông
thôn như Thời xa vắng, Chuyện làng cuội của Lê Lựu, Bến không chồng của
Dương Hướng, Thuỷ hoả đạo tặc của Hoàng Minh Tường, Mảnh đất lắm người
nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường, Dòng sông mía của Đào Thắng …thì Mảnh
đất lắm người nhiều ma và Dòng sông mía là hai tác phẩm tiêu biểu, sắc nét nhất.
Giá trị nội dung và nghệ thuật của hai tiểu thuyết này được khẳng định bằng việc
nhận giải thưởng thường niên do Hội nhà văn tổ chức, và quan trọng hơn là được
độc giả nhiệt tình đón nhận. Nhiều bài viết đã khẳng định thành công của hai tiểu
thuyết này trên nhiều phương diện, và bản thân người viết cũng có niềm say mê đối
với hai tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma và Dòng sông mía, đó là lý do để
2
chúng tôi lựa chọn : Tiểu thuyết viết về nông thôn sau năm 1975 (khảo sát qua tác
3
nông thôn trong mối quan hệ dòng tộc.
Nhà nghiên cứu Phong Lê trong công trình Nghiên cứu văn học [62] với bài:
“Tiểu thuyết mở đầu thế kỷ XXI trong tiến trình văn học Việt Nam từ tháng 8 năm
1945”. Trong bài viết này tác giả đã có một cái nhìn khái quát về tiểu thuyết Việt
Nam từ đầu thế kỷ XX đến những năm sau đổi mới, đặc biệt là những cuốn tiểu
thuyết mở đầu thế kỷ XXI.
Công trình tiêu biểu viết về đề tài nông thôn có lẽ phải kể đến tác giả Lã Duy
Lan với công trình khoa học Văn xuôi viết về nông thôn - tiến trình và đổi mới [52].
Trong công trình này, tác giả đã khái quát và đánh giá về nông thôn trong suốt quá
trình phát triển từ trước và sau 1986. Nếu ở giai đoạn trước năm 1986, tác giả đi vào
những thành tựu và hạn chế trong việc phản ánh hiện thực thì ở giai đoạn sau năm
1986, ngoài việc giới thiệu diện mạo chung, tác giả còn tập trung đánh giá những
―đặc trưng sáng tạo về nội dung‖ của văn xuôi viết về nông thôn thời kỳ đổi mới qua
sự chuyển biến về chủ đề, phạm vi bao quát hiện thực và cách thể hiện nhân vật.
Đồng thời tác giả cũng đánh giá những thành tựu bước đầu về phương diện nghệ
thuật: Ngôn ngữ, thể loại, phong cách chung và giọng điệu.
Xác định ranh giới của tiểu thuyết nông thôn trước và sau đổi mới trong bài
Về hướng tiếp cận mới đối với hiện thực trong văn xuôi sau 1975, nhà nghiên cứu
Tôn Phương Lan cho rằng “ Lâu nay người nông dân chưa được nhìn nhận qua vấn
đề ruộng đất, vấn đề vào ra hợp tác xã, giờ đây vấn đề đó được nhà văn nhìn vào số
phận lịch sử của họ. Và lịch sử đất nước được hiện ra qua lịch sử cuộc đời nhân vật
trong cuộc mưu sinh, trong sự duy trì đóng góp để làm nghĩa vụ cho tổ quốc, với
phần trách nhiệm của từng hoàn cảnh gia đình” [54;Tr.50], Từ góc độ đó, tác giả
cho rằng “đã có một cách soi xét lại một thời đã qua, thông qua những số phận cá
nhân và những vấn đề của một làng xã, một dòng họ”[54;Tr.48], trong đó “nổi bật
lên là mối mâu thuẫn về quyền lợi cá nhân nấp dưới vấn đề họ tộc”[54;Tr.40].
Tác giả Phạm Ngọc Tến trong bài Đề tài nông thôn không bao giờ mòn cũng
có cái nhìn lạc quan. Trong bài viết tác giả đã khẳng định đề tài nông thôn không bao
giờ “bạc màu”, “không bao giờ mòn”. Bởi nông thôn việt Nam đang từng bước
nhưng thể loại truyện ngắn này đã không đem lại thành công cho ông. Đánh dấu
sự thành công trong sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Khắc Trường phải kể đến
cuốn tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma, với cuốn tiểu thuyết này
5
Nguyễn Khắc Trường đã mang đến cho văn đàn một tiếng nói mới, trực diện và
sắc sảo. Khảo sát các tư liệu đã thu thập được chúng tôi nhận thấy các tài liệu
nghiên cứu về Nguyễn Khắc Trường hầu như mới là các ý kiến thảo luận, các
bài viết đăng rải rác trên các báo, tạp chí, và các bài phỏng vấn trực tuyến,
online, nó không mang tính hệ thống, toàn diện. Ngoài ra cũng còn phải kể đến
một số bài được phát trên Đài tiếng nói Việt Nam, kịch bản phim Mảnh đất lắm
người nhiều ma đã được công chiếu dưới cái tên ―Đất và người‖ của hãng phim
Truyền hình Việt Nam vào tháng 1 năm 2003. Tuy các ý kiến đánh giá, phê bình
đôi khi khác nhau, thậm chí trái ngược nhau, nhưng nhìn chung cũng khá thống
nhất khi đánh giá về giá trị của cuốn tiểu thuyết này. Đáng chú ý là các ý kiến
thảo luận về tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma do báo Văn nghệ tổ chức
ngày 25 tháng 01 năm 1991. Trong cuộc thảo luận này các nhà nghiên cứu đã
xem xét tác phẩm dưới nhiều góc độ và khía cạnh khác nhau. Có ý kiến đưa ra
sự đánh giá tổng quát về tác phẩm và khẳng định tài năng của Nguyễn Khắc
Trường (Hà Minh Đức), đánh giá tác phẩm ở chiều sâu văn hoá của nó (Bùi
Bình Thi), cũng có ý kiến xem xét tác phẩm ở khía cạnh đóng góp của nó với đề
tài nông thôn (Phong Lê), ở nghệ thuật trần thuật và cách thức tổ chức cốt truyện
(Trần Đình Sử, Trung Trung Đỉnh)…Khái quát về giá trị của Mảnh đất lắm
người nhiều ma, nhà nghiên cứu Hà Minh Đức nhận thấy nhà văn Nguyễn Khắc
Trường đã ―Viết về nông thôn dưới cái nhìn chân thực, chủ động, làm bộc lộ
được qua những trang viết là một nông thôn với nhiều chuyển động, xáo trộn,
đấu tranh giữa cái tốt và cái xấu, tranh chấp nhau giữa các thế lực Nông thôn
trong tiểu thuyết không cuộn lên trong các phong trào đấu tranh yêu nước, cải
cách, hợp tác mà sôi lên những nguyên nhân bên trong, những chuyện làng
xóm.Tác giả đã chụp được khuôn mặt đích thực với những nét miêu tả sắc sảo,
Phương… Nhìn chung những bài viết này đều có nhận định chung là ý thức
dòng họ là vấn đề nổi bật trong các vấn đề về hiện thực nông thôn được phản
ánh trong tác phẩm. Ngoài ra còn có những bài viết trên các báo, tạp chí …
đánh giá về tiểu thuyết này, hầu hết các ý kiến đều thể hiện những ấn tượng
chung nhất, khái quát nhất về tác phẩm. Tiêu biểu là các bài: Đọc Mảnh đất
lắm người nhiều ma của Hồng Diệu trên Tạp chí VNQĐ số 8/1991, tác giả
nhận thấy ―âm hưởng chủ yếu trong tác phẩm là lòng nhân hậu, là tình người‖.
7
Lê Thành Nghị có bài“Đọc Mảnh đất lắm người nhiều ma” trên Tạp chí tác
phẩm mới 8- 1991, trong đó khẳng định vấn đề bao quát trong tác phẩm là
“vấn đề nhận dạng bộ mặt tinh thần nông thôn‖, và cũng theo tác giả sự chi
phối ―khá triệt để về ý thức dòng họ‖ đã làm nên bộ mặt nông thôn từ xưa đến
nay. Tác giả Lê Nguyên Cẩn trong bài “Thế giới kỳ ảo trong Mảnh đất lắm
người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường với cái nhìn văn hoá” (Tạp chí khoa
học số 5 – 2005 Trường ĐHSP Hà nội), đã cho rằng: cái làm nên thành công
cho tác phẩm ngoài nội dung hiện thực gắn với thời kỳ khó khăn của đất nước,
còn là ―thế giới kỳ ảo mà tác giả đã dụng công xây dựng với các yếu tố kỳ ảo
rất đặc trưng, đó là mô típ cái chết đi liền với mô típ ma hiện hồn”. Trong bài
viết này tác giả còn nhận thấy có các biểu hiện khác nhau của văn hoá đó là ―
Văn hoá lịch sử‖, ―Văn hoá ẩm thực‖, ―Văn hoá cưới xin tang lễ‖. Bài viết của
tác giả Ngọc Anh (Báo Giáo dục và thời đại, 27- 5- 1991) khẳng định “sự
thành công về mặt nghệ thuật là tính chỉnh thể và kết cấu tác phẩm: sự việc
này nối tiếp sự việc kia, bi kịch này kéo theo bi kịch khác”.
Tuy nhiên, bên cạnh những ― cái được‖, các nhà nghiên cứu, phê bình còn
chỉ ra cái ― chưa được‖ của cuốn tiểu thuyết này. Có ý kiến cho rằng cuốn sách
vẫn đọc ― chụp trang‖ nhờ có một cốt truyện được ― dàn dựng cẩn thận‖, rằng ―
cuốn sách chưa có gì nổi bật sâu sắc, không thấy có tầng sâu ý nghĩa bên trong
- không có gì lấp lánh‖ (Nguyễn Phan Hách). Có lẽ ý kiến này tỏ ra ―hơi khắt
khe‖ đối với Nguyễn Khắc Trường. Theo chúng tôi, khi xem xét tác phẩm cần
mía” có viết: “ Quyển sách cuốn hút người đọc từ những trang đầu tiên, không
phải vì hành văn hay cấu trúc mà ở sức sống ngồn ngộn toả ra từ trang sách,
tràn đầy sức mạnh tâm linh của một vùng đất, được thức dậy bằng tất cả niềm
yêu thương, đau đớn” [15]. Bên cạnh đó, bài viết còn xem “ Dòng sông mía”
như một cuốn “ gia phả của một dòng họ ưu tú ở nông thôn, lịch sử của một
ngôi làng bên bờ sông Châu đậm chất văn hoá dân gian, bi kịch của những thế
hệ đàn bà nông thôn, số phận mỏng manh, trải qua bao trầm luân, mất mát”
[15]. Lý Hoài Thu trong bài “ Dòng sông mía là một không gian vừa quen
thuộc vừa mới mẻ” đã nhận thấy những nét quen thuộc ― quen thuộc từ hình
ảnh dòng sông, cùng bức tranh thu nhỏ của một vùng dân cư có nghề chính là
nghề trồng mía, làm đường‖, và để khẳng định những nét mới mẻ của Dòng
9
sông mía, tác giả đã chỉ ra sự sáng tạo của Đào Thắng về giá trị nội dung và
những phương thức biểu hiện của tác phẩm như nghệ thuật xây dựng nhân vật,
không gian và thời gian nghệ thuật, điểm nhìn trần thuật để từ đó khẳng định
―đặc tính nổi bật nhất của Dòng sông mía…là sự khác lạ độc đáo‖. Tác phẩm
thực sự đã mở ra những hướng tiếp cận mang ý nghĩa cách tân về mặt thể loại.
Tác giả Trần Mạnh Hảo trong bài: “ Dòng sông mía” của Đào Thắng hay là
tiếng nấc của sông Châu Giang? đã khẳng định “ Dòng sông mía” là tác
phẩm “ phải nói là hấp dẫn từ đầu đến cuối ( chỉ đoạn kết hơi bị khiên cưỡng).
Tác giả còn nhận định: Dòng sông mía ―là chính cái làng quê trồng mía để
bán và để nấu đường của tác giả hiện lên sinh động từ thời Tây thực dân, qua
cách mạng, kháng chiến, hoà bình, cải cách ruộng đất, chống Mỹ, hoà bình, và
cuối cùng đến chiến tranh biên giới với Trung Quốc…”[91]. Ngoài ra, còn phải
kể đến một số bài viết khác như bài “ Trên đất nước có bao nhiêu làng mía?”
của Hoàng Ngọc Hiến (đăng trên Tạp chí Sông Hương) hay bài “ Cha, con và
dòng sông mía” của tác giả Văn Chinh (đăng trên trang Phongdiep.net)…
Đề tài nông thôn là một đề tài lớn, thu hút được nhiều sự quan tâm của
giới nghiên cứu, phê bình. Qua các bài viết nghiên cứu, phê bình trên chúng tôi
mía của Đào Thắng .
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Xuất phát từ yêu cầu của đối tượng và mục đích nghiên cứu, luận văn
vận dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp lịch sử - xã hội
- Phương pháp loại hình
- Phương pháp tiếp cận thi pháp học
Các phương pháp này sẽ được chúng tôi thực hiện cùng với thao tác
so sánh, phân tích, tổng hợp, thống kê.
6. Đóng góp của luận văn
Luận văn tập trung tìm hiểu đặc điểm tiểu thuyết viết về nông thôn qua sáng
tác của nhà văn Nguyễn Khắc Trường và nhà văn Đào Thắng nhằm:
Khẳng định cái nhìn mới mẻ của Nguyễn Khắc Trường và Đào Thắng
trong việc phản ánh hiện thực nông thôn sau đổi mới.
Thông qua những thủ pháp nghệ thuật được sử dụng trong hai tiểu thuyết
11
nhấn mạnh tài năng của hai nhà văn.
Đánh giá những đóng góp của Nguyễn Khắc Trường và Đào Thắng trong
quá trình phát triển, đổi mới nền văn xuôi hiện đại Việt Nam.
7. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luận văn được chia thành 3 chương
Chương 1: Khái quát tiểu thuyết viết về nông thôn sau 1975. Sự xuất hiện của
Nguyễn Khắc Trường và Đào Thắng
Chương 2: Hiện thực đời sống và thế giới nhân vật trong “Mảnh đất lắm người nhiều
ma” của Nguyễn Khắc Trường v à “ Dòng sông mía” của Đào Thắng
Chương 3: Một số phương diện nghệ thuật trong hai tiểu thuyết Mảnh đất lắm
người nhiều ma và Dòng sông mía
12
bước đường cùng.
13
Với Tắt Đèn (Ngô Tất Tố), tác giả cũng tỏ ra xuất sắc trong việc chỉ ra hệ
thống chính quyền thống trị ở nông thôn. Bọn cường hào nắm quyền ở làng
Đông Xá đúng là những con người xấu xa và hung ác. Trong vụ sưu thuế, chúng
đã cùm trói, đánh đập anh Dậu một cách dã man vì nghèo không có tiền nộp sưu
thuế, bởi phải nộp thêm thứ thuế có tên hết sức vô lí: là thuế cho người đã mất
(anh Dậu phải nộp thuế thân cho người em trai đã mất). Vì lý do này mà chị Dậu
đã phải bán cả con lẫn chó. Qua lời nói của hai vợ chồng nhà Nghị Quế, người
đọc đã thấy rõ nhân phẩm, phẩm giá của con người (cụ thể là cái Tý) ở đây bị
đối xử, bị coi như súc vật, thậm chí có khi còn không bằng súc vật. Lời nói của
nhân vật Nghị Quế đã cho thấy rõ điều đó: “Tôi nuôi chó để nó coi nhà, nuôi
chó còn hơn nuôi đứa ở” [95;Tr.54,72]; hay qua lời diếc móc của mụ vợ tên đại
địa chủ: ―Mày ăn cơm chó nhà bà cũng chưa đáng đâu. Con chó nhà bà còn
được mấy chục, con người như mày bà chỉ mua có một đồng đấy thôi‖.
[95;Tr.54,73]
Đến với truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao, bộ mặt của bọn cường hào,
ác bá hiện lên trong làng quê Vũ Đại cũng thật là ghê gớm. Trước hết là cảnh
“Quần ngư tranh thực” giữa hai phe cánh cha con Bá Kiến và phe cánh Đội tảo,
nhưng nổi lên rõ nét hơn vẫn là những tội ác của chúng với người nông dân. Đặc
biệt, với tác phẩm Chí Phèo, tác giả đã phát hiện tội ác dã man nhất của bọn
cường hào nông thôn lúc bấy giờ là đẩy người nông dân (cụ thể là Chí Phèo) từ
một cố nông với bản chất hiền lành, chân chất, chịu khó làm ăn đến chỗ bị lưu
manh hoá mất hết cả nhân hình lẫn nhân tính, có muốn trở thành người lương
thiện cũng không thể.
Bức tranh toàn cảnh nông thôn của các nhà văn hiện thực như những đàn
chim én báo hiệu mùa xuân cách mạng sắp tới gần. Ở những tác phẩm này,
ngoài giá trị hiện thực còn chứa đựng giá trị nhân đạo hết sức sâu sắc. Đó là
những đòi hỏi về quyền sống, quyền làm người. Đó là sự quan tâm đến số phận
giấy‖ đã đi đến kết luận: Tổng cộng trong 29 năm, nó (tức địa chủ Trừng) cướp
không của nông dân mất 230. 302 tạ 28 cân thóc. Đây là một con số khó tin, hay
trong Bếp đỏ lửa (Nguyễn Văn Bổng) đã để một nhân vật cốt cán Chữ trình bày
mục đích của việc quy định thành phần thật đơn giản, máy móc, tiêu cực: Trước
15
nay địa chủ với nông dân như sỏi đất trộn lẫn với thóc gạo trong bồ. Nay ta quy
định thành phần là sàng sảy, phân biệt ra. Gạo có hạt mẩy, hạt bé, hạt trắng,
hạt lứt, nhưng đều là gạo thì đậu trên mặt sàn, còn sỏi đất thì đều vứt riêng ra.
Ở cuối thời kỳ sửa sai đã có một số tác giả viết về cải cách ruộng đất, nhưng
quan niệm và sự miêu tả đã khác trước, nghĩa là đúng với thực tế hơn. Còn trong
tiểu thuyết Sắp cưới, Vũ Bão viết về những sự kiện đã xảy ra trong khi tiến hành
cải cách ruộng đất tại một đơn vị cơ sở.
Viết về phong trào hợp tác hóa nông nghiệp, nhiều tác phẩm cũng để lại
những dấu ấn nhất định, như: Đào Vũ với Cái sân gạch và Vụ lúa chiêm,Vũ Thị
Thường với Cái hom giỏ và Gánh vác, Nguyễn Kiên với Đồng tháng năm,
Nguyễn Địch Dũng với Trai làng quyền, Ngô Ngọc Bội với Chị cả Phây,
Nguyễn Khải với Mùa lạc, Tầm nhìn xa và Hãy đi xa hơn nữa… Những tác
phẩm kể trên đã có những ―gặt hái‖ bước đầu. Trong Cái sân gạch, Đào Vũ đã
nêu được không khí nông thôn trong những ngày đầu xây dựng hợp tác xã nông
nghiệp. Qua những toan tính trăn trở của lão Am xoay quanh sự kiện ―vào hợp
tác‖, tác giả đã xây dựng một gương mặt nông dân khá sắc nét. Đến với Tầm
nhìn xa và Hãy đi xa hơn nữa, Nguyễn Khải lại xoay quanh vấn đề mâu thuẫn
giữa lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể. Nhân vật trong những sáng tác này đều là
những con người tiêu biểu, họ sẵn sàng hy sinh lợi ích cá nhân của mình để xây
dựng tập thể, cống hiến cho công việc chung của toàn xã hội. Chính vì vậy, qua
Tầm nhìn xa, Nguyễn Khải được đánh giá là người đã phát hiện và thể hiện
thành công sự biến tướng trong bản chất tư hữu ở người nông dân qua những
điều kiện và hoàn cảnh mới ở nhân vật Tuy Kiền. Có thể nói bản chất tư hữu của
người nông dân đã ảnh hưởng khá sắc nét và cản trở lề lối làm ăn tập thể và nền
Đặt bên cạnh những con người ấy lại có những con người tha hoá, biến chất bởi
đòi hỏi của lợi ích cá nhân như Hối (chủ nhiệm hợp tác xã Sa Bình), Thản (uỷ
viên quản trị hợp tác xã Giang Ninh). Chính sự tha hoá biến chất của Hối, Thản
đã gây nên dư luận không tốt trong quần chúng nhân dân làm cho người dân
không còn tin vào cán bộ Đảng viên.
Trong truyện ngắn Chủ tịch huyện (Nguyễn Khải) tác giả đã có những cái
nhìn trực diện về tầng lớp lãnh đạo. Bên cạnh đó là những vấn đề quan trọng
17
không chỉ mang tính thời sự lúc ấy mà cho đến nay nó vẫn còn tác dụng đối với
chúng ta. Đó là vấn đề tự trau dồi, bồi dưỡng phẩm chất đạo đức và năng lực của
người quản lí ở nông thôn. Đó là vấn đề tự đấu tranh của bản thân, đấu tranh nội
bộ. Đó là vấn đề xây dựng mối quan hệ gắn bó chặt chẽ giữa Đảng với chính
quyền, giữa cá nhân với tập thể.
Qua truyện ngắn này chúng ta nhận thấy Nguyễn Khải đặt ra vấn đề về
người cán bộ ở nông thôn trong việc đáp ứng yêu cầu mới của hoàn cảnh. Để có
thể nắm bắt tâm tư, tình cảm, nguyện vọng của người nông dân, để có tầm nhìn
bao quát sâu rộng và có phản ứng nhanh chóng trước những biến chuyển không
ngừng của đời sống thì người cán bộ ngoài việc giữ gìn và trau dồi phẩm chất
đạo đức cách mạng cần phải năng động, nhanh nhạy và xông xáo, phải tìm hiểu
cặn kẽ thực tế, tránh chủ quan duy ý chí khi nhìn nhận, đánh giá con người ở
những biểu hiện bên ngoài.
1.1.1.5. Thời kỳ 1975 – 1985
Ở giai đoạn đầu, văn xuôi viết về nông thôn diễn ra trong bối cảnh xã hội
bộn bề, gay cấn. Trong các sáng tác văn xuôi đã xuất hiện những tác phẩm
không chỉ phản ánh hiện thực một cách thụ động, mà còn chú ý đến việc đi tìm
nguyên nhân, lý giải những yếu kém, xuống cấp như : Mưa mùa hạ của Ma Văn
Kháng, Gặp gỡ cuối năm của Nguyễn Khải…
Giai đoạn 1980 – 1985, văn xuôi viết về nông thôn đã bắt đầu chuyển
động từ những tác phẩm mang tính chất báo hiệu như : Nhìn dưới mặt trời của
thấu đáo. Viết về nông thôn, các nhà văn có cơ hội thể nghiệm nghệ thuật mới.
Thời xa vắng của Lê Lựu ra đời rơi trúng thời điểm đổi mới. Một số người cho
rằng: Thời xa vắng đã xoáy sâu vào những vấn đề có tính thời sự, nhạy cảm,
hàm chứa mục đích đen tối, phản đối những cũng đã chỉ ra được mặt han chế
của chính quyền trong chiến tranh Nhưng qua sự sàng lọc của thời gian,
những vấn đề đặt ra trong tác phẩm được coi là bước đột phá đầy ―mới mẻ‖
trong cách nhìn về quá khứ nông thôn, về người nông dân. Cuối cùng cũng trả
lại những giá trị đích thực mà tác giả Thời xa vắng đã miệt mài sáng tạo.
Thời xa vắng trở thành sự kiện nổi bật trong đời sống văn học lúc bấy
giờ, nó đã tạo đà, khởi hứng và phát triển mạnh mẽ cho một khuynh hướng
nhận thực lại lịch sử nông thôn với cảm hứng phê phán. Một số tác phẩm như
19
Gia phả để lại, Những thiên đường mù, Ly thân, Pháp trường trắng, Lời
nguyền hai trăm năm, Lá non, Ác mộng đều ánh chiếu vào một thời đau
thương của quá khứ nhằm lật xới những mảng tối, những mặt trái, mặt tiêu
cực đã bị lờ đi, bị gác lại. Nếu như trước đây văn xuôi và tiểu thuyết viết về
nông thôn và nông dân chỉ lo phản ánh những mặt tốt đẹp của đời sống xã
hội nông thôn và nông dân, thì nay những mặt trái của quá khứ nông thôn
như cải cách ruộng đất, hợp tác hóa nông nghiệp đã được nhìn nhận lại, đánh
giá lại. Vấn đề dòng họ, bè phái, phe giáo trong nội bộ, sự ấu trĩ trong việc
ngăn cấm làm giàu cá nhân cũng được phanh phui, mổ xẻ.
1.1.2.2.Giai đoạn 1990 – 2000
Tiểu thuyết nông thôn ở chặng này xuất hiện không ồ ạt nhưng có được
thành tựu nhất định. Cùng thời điểm 1990, Mảnh đất lắm người nhiều ma (viết
xong tháng 3 năm 1988) và Bến không chồng ra đời, đánh dấu bước ngoặt lớn
cho đề tài nông thôn. Hai tác phẩm đều nhận giải A của Hội nhà văn Việt Nam
năm 1991 (cùng với Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh). Nguyễn Khắc
Trường và Dương Hướng không luận bàn đến vấn đề áp bức, bóc lột mà chủ
yếu xoáy sâu vào những vấn đề cốt lõi ở nông dân, cũng như đi vào số phận của
phần làm phong phú hơn mảng văn học này nói riêng và văn xuôi đương đại nói
chung. Trong buổi toạ đàm, chủ tịch Hội nhà văn Việt Nam – nhà thơ Hữu
Thỉnh cũng đã thừa nhận sai sót trong việc đánh giá giá trị về mặt nội dung lẫn
hình thức nghệ thật của cuốn tiểu thuyết này: ―Hôm qua xem lại Thần thánh và
bươm bướm thì trong tôi xuất hiện một ý tưởng mà trước đây tôi chưa nhận thấy
để nói trong lúc chấm chung khảo. Đó là tôi thấy cuộc thay đổi ở nông thôn lần
này còn dữ dội hơn cả cải cách ruộng đất, hơn cả hợp tác hoá, hơn cả những
việc khác. Nó đảo lộn xã hội. Hôm qua tôi có trộm nghĩ như vậy. Vì bất cứ cái
gì có lợi là nó dựng lên thành thần thánh để kiếm lợi, sau đó nó lại phá bỏ. Đó
là một phát hiện của Đỗ Minh Tuấn đấy! Chính vì thế mà, tôi xin có một điều
sám hối muộn màng, nếu trước đây chúng ta hiểu sâu điều này thì có thể đưa
cuốn này lên giải cao hơn‖ [88].
10 tiểu thuyết tiêu biểu được tặng thưởng gồm Lá non, Mưa mùa hạn,
Thời xa vắng, Mảnh đất lắm người nhiều ma, Bến không chồng, Thuỷ hoả đạo
tặc, Dòng sông Mía, Chân trời mùa hạ, Ma làng, Người giữ đình làng.
21
Tiểu thuyết nông thôn những năm đầu thế kỉ XXI vẫn đang chuyển mình,
đang tìm tòi. Thể nghiệm, đổi mới nhưng chúng ta vẫn có thể nhận diện được
những thành tựu của nó trên nhiều bình diện. Trong sự mở rộng về chủ đề,
nhiều tác phẩm đã tái hiện bộ mặt nông thôn và nông dân ở chiều rộng lẫn bề
sâu. Nông thôn trong các cuộc đấu tranh dành quyền lực nhằm toan tính tư lợi
cá nhân, gia đình, dòng tộc; những định kiến cổ hủ, lạc hậu tồn tại dai dẳng
trong đời sống nông thôn như một định mệnh nghiệt ngã (Dòng sông Mía, Ma
làng). Những mánh khóe nhằm chiếm dụng của nhà nước, bòn rút của nhân
dân, làm giàu bất chính của một bộ phận cán bộ cấp xã, thôn. Nguy cơ xuống
cấp về tư tưởng, đạo đức cũng như lối sống của bộ máy lãnh đạo ở nông thôn,
dĩ nhiên một số người nông dân cũng cùng chung guồng máy đó (Chuyện làng
Cuội, Cuồng phong, Đồng sau bão). Nông thôn thời đổi mới với những khởi sắc
và cả sự bất ổn, đặc biệt là quá trình biển đổi sâu sắc trong sự tiếp diễn văn hóa,