ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
===***===
LÊ THỊ HƯƠNG
NHÌN LẠI VIỆC ỨNG DỤNG
LÍ THUYẾT PHÂN TÂM HỌC TRONG NGHIÊN CỨU
VĂN HỌC VIỆT NAM TRUNG ĐẠI
LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH: VĂN HỌC VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Nho Thìn
Hà Nội - 2011
MỤC LỤC THỂ LỆ TRÌNH BÀY Error! Bookmark not defined.
PHẦN MỞ ĐẦU Error! Bookmark not defined.
1. Lí do chọn đề tài Error! Bookmark not defined.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Error! Bookmark not defined.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Error! Bookmark not defined.
4. Phương pháp nghiên cứu Error! Bookmark not defined.
5. Cấu trúc của Luận văn Error! Bookmark not defined.
CHƯƠNG 1: PHÂN TÂM HỌC VỚI NGHIÊN CỨU VĂN HỌC NGHỆ
THUẬT VÀ NHÌN LẠI VIỆC ỨNG DỤNG LÍ THUYẾT PHÂN TÂM
HỌC TRONG NGHIÊN CỨU VĂN HỌC VIỆT NAM TRUNG ĐẠI GIAI
ĐOẠN 1900 - 1945 Error! Bookmark not defined.
1.1.Phân tâm học với nghiên cứu văn học nghệ thuật Error! Bookmark
not defined.
1.2.Nhìn lại việc ứng dụng lí thuyết phân tâm học trong nghiên cứu văn
học Việt Nam trung đại giai đoạn 1900 - 1945 Error! Bookmark not
defined.
thiết và có ý nghĩa trong nghiên cứu văn học Việt Nam trung đại nói riêng cũng
như trong nghiên cứu việc ứng dụng lí thuyết phương Tây trong vào thực tiễn
văn học phương Đông nói chung.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Từ khi được du nhập vào Việt Nam, lí thuyết phân tâm học đã được ứng
dụng khá rộng rãi trong sáng tác và nghiên cứu văn học nghệ thuật trong đó có
văn học trung đại Việt Nam cũng gặp nhiều trắc trở. Sau một thế kỉ du nhập và
ứng dụng, đó đây đã bắt đầu có một số bài viết, công trình ra đời nhằm đánh giá
lại việc ứng dụng lí thuyết phân tâm học trong nghiên cứu văn học Việt Nam
trung đại trong các công trình của Trần Thanh Mại (1961), Đặng Thanh Lê -
Nguyễn Đức Dũng (1963), Nguyễn Văn Trung, Bùi Hữu Sủng (1973), Đỗ Lai
Thúy (2004),… cùng một số luận án, luận văn, khóa luận tốt nghiệp như:
Nguyễn Thị Linh (2005), Trần Hoài Anh (2008)… Tuy nhiên các công trình đó
hoặc là quá thiên về diện hoặc là quá thiên về điểm. Luận văn mong muốn khắc
phục những nhược điểm đó và đưa ra những nhận xét của riêng mình nhằm làm
sáng tỏ vấn đề mà đề tài đã đặt ra.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Như chúng ta đã biết, chỉ đến đầu thế kỉ XX, cùng với quá trình hiện đại
hóa của xã hội và đời sống văn học thì các phương pháp nghiên cứu văn học
hiện đại mới được du nhập vào Việt Nam. Trong khuôn khổ của mình, Luận văn
sẽ nhìn lại việc ứng dụng lí thuyết phân tâm học trong nghiên cứu văn học Việt
Nam trung đại từ đầu thế kỉ XX đến nay, bắt đầu với công trình Hồ Xuân
Hương - tác phẩm, thân thế và văn tài (Nguyễn Văn Hanh, 1936) đến những
công trình như Hồ Xuân Hương - Hoài niệm phồn thực (Đỗ Lai Thúy, 1999)…
2
Khoảng thời gian một thập kỉ đầu thế kỉ XXI (2001 - 2011) cũng được khảo sát
và đánh giá để làm đầy đủ thêm bức tranh toàn cảnh này.
4. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn đặt ra và giải quyết một vấn đề mang tính chất tổng thuật và đánh
GIAI ĐOẠN 1900 - 1945
1.1.Phân tâm học với nghiên cứu văn học nghệ thuật
Cha đẻ của thuyết phân tâm học là Sigmund Freud (1856 - 1939), một bác
sĩ thần kinh sinh ra và lớn lên ở Viên, thủ đô nước Áo, một trung tâm văn hóa
lớn của Tây Âu cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX. Sau Freud, học thuyết của ông rẽ
ra thành nhiều nhánh và trong đó C.G.Jung là một nhà phân tâm học khá nổi
tiếng sau khi Freud qua đời. “Ông đưa thêm vào hệ thống lí luận phân tâm học
khái niệm “vô thức tập thể”. Ông cho rằng nội dung chứa đựng trong thế giới
vô thức của con người là khuôn mẫu cho thế giới vô thức của những nhóm người,
những bộ tộc, những dân tộc, của những lực lượng tôn giáo, những phong tục
tập quán…. Chúng diễn tả những mặc cảm lớn của toàn nhân loại phản ánh
những dấu vết sợ hãi, lo âu xa xôi nhất trong thời kì tiền sử của chúng ta” [11;
tr.210]. Trong học thuyết của mình, Freud đã lấy khái niệm “dục năng”, “dục
tính” hay “tính dục” (libido) làm khái niệm trung tâm cho lí thuyết phân tâm học.
“Freud đã coi nguồn gốc của hoạt động sáng tạo văn học - nghệ thuật về cơ
bản chính là những ức chế về bản năng tính dục, tức là sự tích tụ thế năng tính
dục. Và ông coi những người mất khả năng tính dục hoặc những người quá thỏa
mãn về phương diện tính dục sẽ là những người không thành đạt trong sáng tạo
nghệ thuật, bởi vì những người này sẽ không bao giờ có được thế năng tính dục
tích tụ” [5; tr.149 - 150].
Phân tâm học có ảnh hưởng rất lớn đối với văn học nghệ thuật. Nó không
chỉ có đóng góp lớn trong tâm lí học sáng tạo nghệ thuật, mà còn làm thay đổi
quan niệm về tác phẩm, tác giả, và tạo ra một phương pháp phê bình mới: phê
bình phân tâm học. Theo Nguyễn Văn Dân, “đến K.G. Jung, ông vẫn giữ khái
niệm vô thức làm khái niệm trung tâm cho tâm lí học của ông, nhưng ông phản
đối kịch liệt cái yếu tố tính dục trong quan niệm của Freud bằng vô thức tập thể
4
trong lí thuyết tâm lí học của mình” [5; tr.152 - 153]. Ông có ảnh hưởng sâu
rộng trong lĩnh vực nghiên cứu văn hóa, nhất là văn hóa phương Đông và văn
khắc phục điều đó không phải là việc làm được trong ngày một ngày hai.
Sang đến năm 1940, trong Kinh thi Việt Nam, Trương Tửu lại trở về áp
dụng Freud vào phân tích mảng ca dao mà ông gọi là “ca dao dâm tục” và bộ
phận thơ Nôm truyền tụng của Hồ Xuân Hương: “Cái óc Việt Nam lúc nào cũng
có cái hình tục tĩu kia ám ảnh (…). Không có giả thuyết cho rằng não trạng ấy
là một di tích của một tôn giáo thờ sự sinh đẻ thì làm sao mà cắt nghĩa được nó?
Làm sao cắt nghĩa được Hồ Xuân Hương, cái thiên tài hiếu dâm đến cực
điểm kia?” [37; tr.227]. Tuy nhiên, bề thế, đầy đặn và hệ thống hơn cả trong
giai đoạn này là công trình Nguyễn Du và Truyện Kiều của Trương Tửu (1942).
Với bút danh Nguyễn Bách Khoa, Trương Tửu đã chuyển sang phương pháp
phê bình “duy vật biện chứng mácxit” như ông tự xác định, nhưng trong
Nguyễn Du và Truyện Kiều vẫn còn những ảnh hưởng của Freud dù cho nó có
hạn chế là quá đề cao con người bản năng mà bỏ qua các yếu tố văn hóa, xã hội.
Trong công trình này, như đã nói ở trên, do xác định làm việc dưới ánh sáng của
phương pháp phê bình “duy vật biện chứng mácxit” nên ông cho rằng các tác
giả “ngoài sức điều khiển gắt gao của đẳng cấp xã hội, yếu tố sinh lí, di truyền
đời nọ qua đời kia, còn phải chịu sức chi phối của (…) quê quán, khí hậu, thổ
ngơi, thảo mộc, vị trí địa dư và lịch sử” [44; tr.197 - 198] và ông xác định vấn
đề ở thời đại của Nguyễn Du là vấn đề giai cấp. Dựa vào những cứ liệu lịch
sử, ông cho rằng có một “nhận xét quan trọng” là “Nguyễn Du là một con bệnh
thần kinh” [44; tr.236] và các nhân vật trong Truyện Kiều là sự thể hiện
những giấc mơ của nhà thi sĩ. Nhận xét về Thúy Kiều, Nguyễn Bách Khoa
không lập “án” như Nguyễn Văn Thắng thời xưa mà lập “bệnh án” cho nàng.
Như là một bác sĩ chuyên khoa tâm lí, ông “chẩn” rằng: “Thúy Kiều là một con
bệnh ủy hoàng và ưu uất.” [44; tr.293 - 294]. Lần giở lại tiểu sử, hành trạng
của Thúy Kiều, tác giả Nguyễn Du và Truyện Kiều phân tích cho ta thấy: “Từ
hồi thơ ấu, nàng đã tin ngay lời đoán của thày tướng sĩ, cho là số kiếp nàng
“nghìn thu bạc mệnh một đời tài hoa (…). Mỗi phút của nàng là một phút chờ
6
nói những năm 1930 - 1945 là giai đoạn Trương Tửu viết được nhiều hơn cả
trong sự nghiệp nghiên cứu phê bình của mình. Nhìn từ tiến trình phát triển của
việc ứng dụng lí thuyết phân tâm học trong nghiên cứu văn học Việt Nam trung
đại giai đoạn này, những điểm yếu và điểm mạnh của Nguyễn Văn Hanh và
Trương Tửu gần như giống nhau, có khác chăng là ở Trương Tửu mọi chuyện
đồ sộ hơn, lớp lang hơn và cũng “hùng biện” hơn, nó thực sự hấp dẫn nhưng
không khỏi khiến người nghe có lúc nghi hoặc thậm chí có ý muốn tranh luận,
phản đối. Những “vết xe đổ” và “quán tính văn học” của các ông cũng sẽ kéo
theo một số “tàn dư” ở chính bản thân các ông (như trường hợp Trương Tửu) và
trong nghiên cứu của người khác (như trường hợp Văn Tân, Nguyễn Đức Bính,
Đàm Quang Thiện, Trịnh Vân Thanh, Thanh Lãng…) trong giai đoạn sau. CHƯƠNG 2:
Du và Truyện Kiều (1942) ra đời là để “chống lại quan niệm nghệ thuật thuần
9
túy và phương pháp phê bình duy tâm của phái Hoài Thanh, để bác sự nhận
định thiên về hình thức của ông Đào Duy Anh trong tập Nguyễn Du văn họa
phổ” [44; tr.436] bằng cách “đặc biệt nhấn mạnh vào quan điểm đấu tranh
giai cấp” kèm theo một chú thích khá dài như để thanh minh cho mình là: “Có
người nói rằng Nguyễn Bách Khoa đã theo thuyết “huyết thống” trong cuốn
Nguyễn Du và Truyện Kiều. Lại có người nói: Nguyễn Bách Khoa theo chủ
nghĩa Freud để giải thích Nguyễn Du và Truyện Kiều. Nói như vậy không
đúng sự thực. Nguyễn Bách Khoa có nghiên cứu quê quán dòng họ và cá tính
Nguyễn Du, có thừa nhận ảnh hưởng của những yếu tố ấy đối với sự sáng tác
của Nguyễn Du. Nhưng ý tưởng chủ đạo của Nguyễn Bách Khoa vẫn là: yếu tố
giai cấp quy định cả huyết thống và cá tính nhà thi sĩ” [44; tr.439]. Sau Trương
Tửu, có một số nhà nghiên cứu dù không công khai vận dụng lí thuyết phân
tâm học của Freud nhưng thực chất cũng bị ảnh hưởng bởi thuyết này như Văn
Tân trong Văn học trào phúng Việt Nam Quyển thượng (NXB Văn - Sử - Địa,
Hà Nội, 1958). Sau Văn Tân không lâu, năm 1961, khi Thử bàn lại vấn đề tục
và dâm trong thơ Hồ Xuân Hương Trần Thanh Mại không đại diện cho ai khi
viết và công bố bài này nhưng cảm hứng của ông cũng chính là cảm hứng thời
đại, là “búa rìu” đối với phương pháp phân tâm học đương thời.
Cũng trong những năm 1960, tại miền Bắc xuất hiện một vụ tranh luận về
thơ Hồ Xuân Hương khá sôi nổi khởi lên từ bài viết Người Cổ Nguyệt, chuyện
Xuân Hương của Nguyễn Đức Bính. Các nhà thơ, nhà phê bình đã châu tuần
xung quanh bài viết này để nêu lên quan điểm của mình như Chế Lan Viên,
Đặng Thanh Lê và Nguyễn Đức Dũng, Vũ Đức Phúc… trước việc Nguyễn Đức
Bính nêu một cách nhìn còn khá mới mẻ là xem xét thơ Hồ Xuân Hương dưới
góc nhìn bản thể luận của phương pháp văn hóa học và châm ngòi cho cuộc
tranh luận xung quanh thơ Hồ Xuân Hương trên báo chí đầu những năm
1960. … Đến đây, trước khí thế mạnh mẽ của phương pháp phê bình mácxit,
Trong những năm 1954 - 1975, ứng dụng lí thuyết phân tâm học vào nghiên
cứu văn học Việt Nam trung đại ở miền Nam đáng kể nhất phải nhắc tới công
11
trình Ý niệm bạc mệnh trong đời Thúy Kiều của Đàm Quang Thiện được Nam
Chi tùng thư xuất bản năm 1965. Trong công trình mang tính chất một chuyên
luận nhưng hầu như không chia chương mục này, tác giả đã vận dụng khá nhuần
nhuyễn lí thuyết phân tâm học vào nghiên cứu Truyện Kiều. Theo Đàm Quang
Thiện, “Thúy Kiều có một “tiên thiên” rất nặng về tình cảm. (…) Nó sẽ luôn là
bối cảnh cho tất cả các biến cố liên tiếp, hợp lại thành cuộc đời của người ấy”
[33; tr.6 - 7]. “Sau khi tảo mộ Đạm Tiên, Thúy Kiều sống với ám ảnh là suốt
đời này sẽ phải “làm vợ khắp người ta” mà không được làm vợ ai cả (…), đã
sống với ám ảnh “suốt đời nàng sẽ là một con đĩ” [33; tr.26 - 27] và “nàng đã
Đạm Tiên hóa chính nàng” [33; tr.30]. Đàm Quang Thiện đã lí giải “giấc mộng
đoạn trường” của Thúy Kiều “rất phân tâm học” bằng cách dựa vào Khoa học
những giấc chiêm bao của Signund Freud. Ông cho rằng đường phát triển của
vô thức Thúy Kiều đi qua ba chặng: Mặc cảm bạc mệnh, mặc cảm Đạm Tiên
đến mặc cảm đoạn trường và mặc cảm đoạn trường “giữ nhiệm vụ một định
mệnh đối với Thúy Kiều” [33; tr.44 - 45].
Đi vào ứng dụng lí thuyết phân tâm học, Đàm Quang Thiện phê phán
Trương Tửu (Nguyễn Bách Khoa) bằng một thái độ thiếu tôn trọng và ít bình
tĩnh. Theo cách mà Đàm Quang Thiện ví von, Trương Tửu là “văn sĩ (…) học
làm lương y, để bắt mạch cho những nhân vật tiểu thuyết” [33; tr.51]. Đàm
Quang Thiện cho rằng nếu Đạm Tiên thực sự là người cầm nắm số phận của
Kiều thì Đạm Tiên phải biết rõ thời điểm Kiều tự trầm nhưng ở đây lại “có lòng
chờ”, nghĩa là “Đạm Tiên chẳng biết “cóc khô” gì về cảnh lưu lạc quê người,
bèo trôi sóng vỗ chốc mười lăm năm của Thúy Kiều cả!” [33; tr.94 - 95] và việc
Kiều xui Từ Hải ra hàng cũng “chỉ có thể giải nghĩa bằng Mặc Cảm Bạc Mệnh
phải hướng nàng đến điểm chót của con đường đoạn trường” [33; tr.146],
muốn thoát kiếp đoạn trường thì “nàng phải tự là phân tâm gia của chính
Nguyễn Du tiềm thức, một Nguyễn Du ở bề sâu, một Nguyễn Du sâu kín” [17;
tr.159]… Có thể thấy Thanh Lãng là người viết văn học sử tinh tế và hấp dẫn
nhưng lĩnh vực phê bình có lẽ không phải là sở trường của ông bởi những luận
13
điểm trên của Thanh Lãng chưa tiến được bao nhiêu so với các công trình của
Nguyễn Bách Khoa 30 năm về trước.
Năm 1973, trong bài trả lời phỏng vấn Phê bình cũ - Phê bình mới trên
tạp chí Bách Khoa số 381 - 382, trả lời Bách Khoa về “chiều hướng phê bình
dựa trên phân tâm học”, Nguyễn Văn Trung nói: “Phê bình trên phân tâm học
có thể tin cậy được vì nhà phê bình dựa trên phương pháp khoa học để tìm ra
trong tác phẩm những cái mà nhà văn không tiện hay không dám nói ra nhưng
họ vẫn bộc lộ một cách vô thức. (…) Đó cũng là một hướng phê bình mới.
Nhưng điều khó khăn ở đây là phân tâm học lại càng phải biết rõ đời sống
thực của tác giả từ thời thơ ấu nên đó cũng lại là một trở ngại mà nhà phê bình
theo chiều hướng này vượt qua không phải là dễ dàng gì. (…) Hiện nay sinh
viên học sinh ai cũng mong có một tìm tòi mới về Truyện Kiều và chừng nào
chưa có một công trình nghiên cứu mới thì cuốn sách Nguyễn Bách Khoa vẫn
là cuốn sách viết tương đối có hệ thống, có qui mô và quyến rũ nhất để giải
thích Truyện Kiều và cho tới nay chưa có tác phẩm nào vượt qua được” [41;
tr.161]. Ở đây, vấn đề của mĩ học tiếp nhận, phương pháp văn hóa học hay vấn
đề phương pháp luận “các phương pháp đều bình đẳng” đã được Nguyễn Văn
Trung và Bùi Hữu Sủng bàn đến, tuy chưa sâu - do điều kiện thời gian và khuôn
khổ một cuộc phỏng vấn - nhưng cũng đã mang đến nhiều gợi dẫn, mang tinh
thần khoa học, khách quan và cũng có thái độ tôn trọng người đối thoại một
cách cần thiết. Sau này, vào thời điểm có đủ độ lùi cần thiết về không gian và
thời gian cũng như điều kiện nghiên cứu đã thay đổi, đến thập kỉ đầu tiên của
thế kỉ XXI, Trần Đình Sử và Trần Hoài Anh đã nhận định về nghiên cứu phê
bình miền Nam 1954 – 1975 khá khách quan, đúng mực và đặt sự vật trong mối
liên hệ toàn diện và phổ biến của nó. Điều đáng để chúng ta suy ngẫm là những
các cổ mẫu của C.G.Jung. Nhà nghiên cứu Đỗ Lai Thúy, từ góc nhìn văn hóa
học đã mạnh dạn triển khai ý tưởng này trong công trình Hồ Xuân Hương -
Hoài niệm phồn thực (NXBVăn hóa Thông tin, Hà Nội, 1999) và đây cũng
chính là một dấu mốc quan trọng trong ứng dụng lí thuyết phân tâm học vào
nghiên cứu văn học Việt Nam trung đại nói chung và của giai đoạn 1975 - 2000
15
nói riêng. Ông lí giải sở dĩ người ta tranh luận thơ Hồ Xuân Hương có dâm tục
hay không là vì vẫn còn “tư duy nhị nguyên, “trắng đen rõ ràng”, nên người ta,
kể cả nhà thơ Xuân Diệu (…) không thể chấp nhận được tình trạng nước đôi”
nhưng “sự thực không phải như vậy. Thơ Hồ Xuân Hương vừa thanh vừa tục.
Vì tục thì nó vi phạm cấm kị, “gây sự” với ý thức chính thống của xã hội
đương thời. Trong chúng ta, những độc giả của Hồ Xuân Hương, ai cũng vừa sợ
vừa muốn vi phạm cấm kị, muốn nếm thử mọi thứ “quả cấm”. (…) Nếu coi Hồ
Xuân Hương không phải là dâm tục, là cấm kị, thì người ta không có được cái
khoái cảm này” [35; tr.279 - 280]. Theo ông, riết lí toát ra từ sáng tác của Hồ
Xuân Hương là “triết lí tự nhiên (…) triết lí phồn thực, một sáng tạo của riêng
bà” [35; tr.290]. Đỗ Lai Thúy cũng chỉ ra cho những người đến sau hi vọng rộng
mở về việc ứng dụng phân tâm học của C.G.Jung vào nghiên cứu văn học nghệ
thuật bởi so với việc ứng dụng phân tâm học của S.Freud thì đó hẳn vẫn còn là
một vùng “đất mới” và “đất trống”.
3.2.Nhìn lại việc ứng dụng lí thuyết phân tâm học trong nghiên cứu văn
học Việt Nam trung đại giai đoạn 2000 - nay
Trong lịch sử văn học Việt Nam và thế giới, những hiện tượng văn học liên
quan đến tính dục và tình dục không phải là hiếm và các cuộc tranh luận nảy lửa
xung quanh đó là một hiện thực thậm chí nó còn là một hòn đá thử để “thử” các
phương pháp và các hướng tiếp cận khác nhau trong đó có hướng tiếp cận từ góc
nhìn phân tâm học. Từ cuối thế kỉ XX sang đầu thế kỉ XXI, khi nhìn lại những
ngày đầu của hướng nghiên cứu theo thi pháp học, Trần Đình Sử trong Thi
pháp Truyện Kiều (2002) coi một số công trình nghiên cứu Truyện Kiều tại
giống với Trần Đình Sử ở chỗ đem “kết nối” phương pháp phân tâm học với thi
pháp học, Nguyễn Văn Dân đem “liên kết” phương pháp phân tâm học với
phương pháp văn hóa học và khuyến cáo việc “một số công trình có nguy cơ
mang tính chất của văn hóa học nhiều hơn là của nghiên cứu văn học” [5;
tr.252 - 253] và khuyến cáo này có lẽ muốn nhằm tới những người như Đỗ Lai
Thúy.
17
Có thể nói việc ứng dụng lí thuyết phân tâm học trong nghiên cứu văn học
nói chung và văn học Việt Nam trung đại nói riêng có một vị trí khá quan trọng
trong lịch sử nghiên cứu phê bình ở Việt Nam nên nhận được ý kiến đánh giá
của khá nhiều nhà nghiên cứu như Đào Duy Hiệp (2006), Trần Nho Thìn (2007),
Trịnh Bá Đĩnh và Nguyễn Hữu Sơn (2007)… và trong đó phải kể đến Đỗ Lai
Thúy như là một người hăng hái và chủ động nhất trong việc ứng dụng lí thuyết
phân tâm học trong nghiên cứu văn học đặc biệt là văn học Việt Nam trung đại
trường hợp thơ Nôm truyền tụng Hồ Xuân Hương và là người thực sự tâm huyết
với việc dịch và giới thiệu lí thuyết văn học nước ngoài ở Việt Nam cũng như
thường xuyên nhìn lại những ưu nhược của việc ứng dụng các dòng lí thuyết đó
trong thực tiễn nghiên cứu văn học. Những bài viết đầy suy tư và tinh thần phản
biện của Đỗ Lai Thúy giúp chúng ta hiểu thêm về lịch sử nghiên cứu phê bình ở
Việt Nam và những ý tưởng được đưa ra trong các công trình nghiên cứu của
ông.
Trong giai đoạn 1945 - 1975, cùng với sự kiện cả dân tộc đứng lên chống
Pháp và chống Mĩ, việc chia cách hai miền Nam Bắc khiến đời sống văn học
nghệ thuật ở mỗi miền có những diện mạo riêng. Ở miền Bắc, sau 1945 dù về
đại thể những “phương pháp duy tâm” bị lên án nhưng đó đây vẫn có người sử
dụng phân tâm học trong nghiên cứu văn học Việt Nam trung đại như Trương
Tửu, Văn Tân, Nguyễn Đức Bính… Các công trình này trước sau đều nhận
được sự “quan tâm” xứng tầm của giới nghiên cứu và bị phê phán gay gắt, trong
đó có những phê phán khá đúng đắn. Cùng thời gian này, các nghiên cứu về văn
19
học Việt Nam trung đại dưới góc nhìn phân tâm học ở miền Nam thu được nhiều
thành tựu hơn với Đinh Hùng, Đàm Quang Thiện, Thanh Lãng… Việc mở rộng
tầm tiếp cận lí thuyết phương Tây thông qua hệ thống sách dịch tại miền Nam
khi đó có vai trò rất lớn trong việc hướng các nhà nghiên cứu tới các phương
pháp tiên tiến và “cập nhật” đương thời và chính điều này góp phần tạo ra sự
khác biệt Nam - Bắc trong giai đoạn này, tất nhiên không thể tránh khỏi một số
khiếm khuyết hoặc hạn chế không thể khắc phục được ngay trong một thời gian
ngắn.
Sang giai đoạn từ 1975 đến nay, nước nhà được thống nhất, và nhất là từ sau
1986, làn gió Đổi mới mang đến một hơi thở mới cho văn học nói chung và việc
nghiên cứ văn học Việt Nam trung đại từ góc nhìn phân tâm học nói riêng. Hướng
nghiên cứu này chuyển mình từ những bài viết của Nguyễn Tuân, Lại Nguyên
Ân… để rồi đi tới một dấu mốc quan trọng là Hồ Xuân Hương - Hoài niệm phồn
thực của Đỗ Lai Thúy năm 1999. Riêng trường hợp Đỗ Lai Thúy, là một nhà
nghiên cứu xác định mình đã “ít nhiều” ứng dụng lí thuyết phân tâm học của
C.G.Jung về vô thức tập thể và cổ mẫu… đồng thời ông cũng thường xuyên
“nghiên cứu việc nghiên cứu” giúp người đọc thêm hiểu bối cảnh nghiên cứu phê
bình và cũng hiểu hơn những ý tưởng trong các công trình nghiên cứu của ông.
Nhìn lại việc ứng dụng lí thuyết phân tâm học trong nghiên cứu văn học Việt
Nam chúng ta dễ dàng nhìn ra những ưu nhược của một quá trình nhận thức trong
thực dân mới Mĩ tại Nam Việt Nam 1954 - 1975, NXB Văn hóa Thông tin -
NXB Long An, Hà Nội.
8. Phan Cự Đệ (chủ biên) (2004), Văn học Việt Nam thế kỉ XX, NXB Giáo
dục, Hà Nội.
9. S.Freud (1999), Về văn học nghệ thuật, TC Văn học nước ngoài, Số 2,
Hà Nội, tr.168 - 180.
10. Nguyễn Văn Hanh (1936), Hồ Xuân Hương - tác phẩm, thân thế và
văn tài, NXB J.Aspar, Sài Gòn. In lại trong: Hồ Xuân Hương - Về tác gia và
tác phẩm, Nguyễn Hữu Sơn - Vũ Thanh tuyển chọn và giới thiệu (2003), NXB
Giáo dục, Hà Nội, tr.61 - 68.
21
11. Nguyễn Hào Hải (2001), Người đàn ông có nhiều ảnh hưởng đến văn
chương: Sigmund Freud, TC Văn học nước ngoài, Số 5, Hà Nội, tr.190 - 218.
12. Lí Trạch Hậu (2002), Bốn bài giảng mĩ học, Trần Đình Sử - Lê Tẩm
dịch, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
13. Đào Duy Hiệp (2006), Phê bình văn học phương Tây ở Việt Nam:
Tiếp nhận và ứng dụng, In trong: Đại học Quốc gia Hà Nội - Trường Đại học
Khoa học Xã hội và Nhân văn, 100 năm nghiên cứu và đào tạo các ngành
khoa học xã hội và nhân văn ở Việt Nam, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà
Nội, tr.288 - 302.
14. C.G.Jung (2004), Về quan hệ của tâm lí học phân tích đối với sáng tác
văn học nghệ thuật, Ngân Xuyên dịch, In trong: Đỗ Lại Thúy (biên soạn và giới
thiệu), Sự đỏng đảnh của phương pháp, NXB Văn hóa thông tin - TC Văn hóa
Nghệ thuật, Hà Nội, tr.217 - 246.
15. Nguyên Sa Trần Bích Lan (1960), Hồ Xuân Hương - Người lạ mặt,
Nam Sơn, Sài Gòn. In lại trong: Hồ Xuân Hương - Về tác gia và tác phẩm,
Nguyễn Hữu Sơn - Vũ Thanh tuyển chọn và giới thiệu (2003), NXB Giáo dục,
Hà Nội, tr.297 - 300.
16. Thanh Lãng (1967), Bảng lược đồ văn học Việt Nam, Quyển thượng,