SKKN Cách dạy nhóm câu trần thuật đơn (trong chương Ngữ văn 6 - tập 2) - Pdf 26

SKKN môn Ngữ văn
MỤC LỤC
Phần 1: Đặt vấn đề Trang 2
Phần 2: Giải quyết vấn đề ………………… Trang 3
1- Cơ sở lý luận của vấn đề Trang 3
2- Thực trạng của vấn đề…… Trang 4
3- Các biện pháp đ ã tiến hành để giải quyết
vấn đề ……………………………………… Trang 5
4- Hiệu quả của SKKN …………………………………… Trang 13
Phần 3: Kết luận và đề nghị Trang 15
Tài liệu thamkhảo Trang 16
Dương Thị Minh Hằng - THCS Thuỵ Vân
1
SKKN môn Ngữ văn
Phần 1: ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong hệ thống chương trình giáo dục, môn Ngữ văn có một vị trí
hết sức quan trọng. Trước hết, Ngữ văn là một môn học thuộc nhóm
khoa học - xã hội. Điều đó nói lên tầm quan trọng của bộ môn này trong
việc giáo dục quan điểm, tư tưởng, tình cảm cho học sinh. Môn Ngữ
văn còn là một môn học công cụ, góp phần hình thành những con người
có trình độ học vấn ngày càng cao. Đồng thời, góp phần xây dựng nhân
cách cho học sinh, những công dân trẻ có lòng yêu nước, niềm tự hào
dân tộc sâu sắc, có ý thức tự tu dưỡng, biết yêu thương, qúi trọng gia
đình, bạn bè, biết hướng tới những tình cảm cao đẹp như lòng nhân ái,
tinh thần tôn trọng lẽ phải, sự công bằng, sự căm ghét cái ác, cái xấu.
Môn Ngữ văn cũng giúp học sinh biết rèn luyện để có tính tự lập, có tư
duy sáng tạo, bước đầu có năng lực thực hành và sử dụng Tiếng Việt
như một công cụ để tư duy, giao tiếp.
Để đạt được những mục tiêu giáo dục nêu trên, chương trình,
phương pháp giảng dạy và bộ sách giáo khoa Ngữ văn đổi mới đã kịp

mới từ lúc bắt đầu cho đến nay. Qua đó, phần nào đã đúc rút được một
số kinh nghiệm nhỏ nhưng đã đem lại hiệu quả khá cao trong cách dạy
nhóm bài "Câu trần thuật đơn". Vì vậy, tôi xin mạnh dạn chọn đề tài
"Cách dạy nhóm câu trần thuật đơn" (trong chương Ngữ văn 6 -
tập 2), để cùng trao đổi, bàn bạc với các bạn đồng nghiệp nhằm đưa ra
những kinh nghiệm góp phần giúp công việc giảng dạy của chúng ta
mang lại hiệu quả cao hơn.
Phần 2: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1- Cơ sở lý luận của vấn đề
1-1/ Chúng ta đều biết rằng, dạy văn là giúp cho học sinh cảm
nhận được cái hay, cái đẹp trong từng tác phẩm văn chương. Đồng thời
qua đó, giáo dục các em có ý thức trong việc trau dồi nhân cách, tức là
dạy cho các em biết yêu, ghét rạch ròi, biết tôn trọng lẽ phải, sự công
bằng, lòng nhân ái, vị tha, đức hi sinh, …
Dạy văn cũng là dạy và rèn luyện cho học sinh những kỹ năng văn
học. Tức là giúp các em biết học tập cách viết, cách nói từ tác phẩm văn
chương để sử dụng ngôn ngữ đạt hiệu quả cao nhất trong quá trình tư
duy và giao tiếp.
1-2/ Thực tế trong quá trình giảng dạy bộ môn Ngữ văn thì dạy
phân môn Tiếng Việt dễ thành công hơn dạy phân môn Văn học. Bởi vì,
Dương Thị Minh Hằng - THCS Thuỵ Vân
3
SKKN môn Ngữ văn
trong phân môn Tiếng Việt thì đơn vị kiến thức của một bài dạy ít, ngắn
gọn hơn một tiết Văn học. Nếu một tiết Văn học, ngoài những kiến thức
gợi ý trong sách giáo khoa để giúp học sinh cảm nhận được nội dung,
nghệ thuật của một tác phẩm thì còn đòi hỏi ở người dạy, ở học sinh
phải có năng lực cảm nhận tinh tế mới thấy hết được cái hay, cái đẹp
được thể hiện qua một tác phẩm Văn học. Trong phân môn Tiếng Việt
kiến thức truyền thụ thường bắt đầu bằng phương pháp quy nạp. Kiến

sinh nắm rõ kiến thức là điều không hề đơn giản.
Bởi vậy kinh nghiệm dạy nhóm bài này trong những năm qua đã
giúp tôi nhận ra nhiều điều bổ ích, xin được chia sẻ với các đồng nghiệp
để chúng ta cùng nhau giảng dạy nhóm bài này ngày càng hiệu quả hơn.

3- Các biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề
Nhóm bài “Câu trần thuật đơn” trong chương trình phân môn Tiếng
Việt (Ngữ văn 6 - tập 2) được thiết kế trong ba tiết với các tuần khác
nhau.
- Tiết 111 - tuần 28: “Câu trần thuật đơn”;
- Tiết 113 - tuần 29: “Câu trần thuật đơn có từ là”
- Tiết 118 - tuần 30: “Câu trần thuật đơn không có từ là”.
Ba tiết học trên được thể hiện trong ba tuần đan xen giữa các kiến thức
về phân môn Văn học, Tiếng Việt và Tập làm văn. Vậy làm sao để giúp
các em có thể nắm bài học và xâu chuỗi kiến thức về câu trần thuật đơn
một cách có hệ thống. Trước vấn đề đó, tôi đã tiến hành cách dạy nhóm
“Câu trần thuật đơn” như sau:
Khi dạy tiết 111 - tuần 28: "Câu trần thuật đơn" với mục tiêu cần đạt:
nắm vững khái niệm câu trần thuật đơn; nắm được tác dụng của câu trần
thuật đơn. Sách giáo khoa Ngữ văn 6 trang 101 đã cung cấp cho học
sinh một hệ thống ví dụ.
Ví dụ: (Đoạn trích trong tác phẩm Dế Mèn phiêu lưu kí của Tô
Hoài):
Chưa nghe hết câu, tôi đã hếch răng lên, xì một hơi rõ dài.
Rồi, với điệu bộ khinh khỉnh, tôi mắng:
- Hức! Thông ngách sang nhà ta? Dễ nghe nhỉ! Chú mày hôi như cú
mèo thế này, ta nào chịu được. Thôi, im cái điệu hát mưa dầm sùi sụt ấy
đi. Đào tổ nông thì cho chết!
Dương Thị Minh Hằng - THCS Thuỵ Vân
5

SKKN môn Ngữ văn
III. Tiến trình hoạt động
*Hoạt động 1.
1. Ổn định tổ chức
2. Kiểm tra bài cũ: Thế nào là câu có hai TP chính? Cho một ví dụ minh
hoạ?
* Hoạt động 2. Bài mới
* Ngữ liệu và phân tích ngữ liệu
- GV dùng bảng phụ, yêu cầu học sinh đọc
ngữ liệu
- GV yêu cầu trả lời các câu hỏi sau:
+ Đvăn có mấy câu? Nêu mục đích của các
câu?
+ Dựa vào kiến thức đã học ở Tiểu học hãy
cho biết: Câu phân theo mục đích nói gồm
những loại nào?Hãy phân loại câu theo mục
đích nói?
* HS làm việc độc lập. Trả lời:
+ Đvăn có 9 câu.
+ Mục đích của câu dùng để kể -tả- nêu ý
kiến (câu 1,2,6,9) -> câu trần thuật.
+ Hỏi: câu 4 -> câu nghi vấn.
+ Bộc lộ cảm xúc: câu 3,5,8 -> câu cảm thán.
+ Cầu khiến: câu 7 -> câu cầu khiến.
- Xác định chủ ngữ, vị ngữ của 4 câu
trần thuật?
*GV yêu cầu HS lên bảng và xác định
chủ ngữ- vị ngữ các câu trần thuật. HS
dưới lớp cũng viết vào giấy
I. Bài học

cụm C- V tạo thành , dùng để giới thiệu, kể
hoặc tả về một sự việc, sự vật hay để nêu 1 ý
kiến.
GV yêu cầu HS nhắc lại ghi nhớ
câu 1, 2, 9 -> Câu trần
thuật đơn.
- Câu có 2 cụ C- V sóng
đôi là câu 6 -> Câu trần
thuật ghép.
- Ghi nhớ : SGK /101
Hoạt động 3. Luyện tập
Học sinh làm các Bài tập trong SGK trang 101- 103
1. Cách thực hiện bài tập 1. Tìm câu trần thuật đơn và cho biết tác
dụng của câu.
Dương Thị Minh Hằng - THCS Thuỵ Vân
8
SKKN môn Ngữ văn
* GV yêu cầu đọc và xác định yêu cầu Bài tập 1
HS đọc đoạn văn của Nguyễn Tuân
“Ngày thứ năm trên đảo Cô Tô là một ngày trong trẻo, sáng sủa. Từ
khi có vịnh Bắc Bộ và từ khi quần đảo Cô Tô mang lấy dấu hiệu của sự
sống con người thì, sau mỗi lần dông bão, bao giờ bầu trời Cô Tô cũng
trong sáng như vậy. Cây trên núi đảo lại thêm xanh mượt, nước biển lại
lam biếc đặm đà hơn hết cả mọi khi, và cát lại vàng giòn hơn nữa. Và
nếu cá có vắng tăm biệt tích trong ngày động bão, thì nay lưới càng
thêm nặng mẻ cá giã đôi.”
Cách thực hiện: HS làm độc lập. Dùng bút chì xác định chủ ngữ- vị ngữ.
Căn cứ vào cặp chủ vị để xác định câu trần thuật đơn. Sau đó cho biết
tác dụng của các câu trần thuật đơn đó.
Trong đoạn văn có 2 câu trần thuật đơn , câu 1 và câu 2

Trước hết, tôi dùng bảng phụ:

Ví dụ:
Dế Mèn / trêu chị Cốc // là dại
(ĐT)

C V

CN VN
Xét ở bộ phận chủ ngữ có một cụm chủ - vị (C- V) làm chủ ngữ.
(Dế Mèn trêu chị Cốc. Trong đó: “Chị Cốc” làm rõ hơn cho động từ "
trêu")
Xét ở bộ phận vị ngữ có: từ "là" + tính từ "dại".
Từ sự phân tích trên tôi đi đến kết luận. ta hướng dẫn cho học sinh
trong những trường hợp như vậy cần phải xác định được nòng cốt câu.
Câu nào có một nòng cốt câu thì câu đó được xếp vào nhóm câu
trần thuật đơn. (Căn cứ theo khái niệm)
Dương Thị Minh Hằng - THCS Thuỵ Vân
10
SKKN môn Ngữ văn
Để xác định nòng cốt câu, tôi hướng dẫn học sinh vẽ sơ đồ hình
chậu. Từ sơ đồ này, học sinh sẽ dễ dàng nhận ra được cấu trúc ngữ pháp
của câu. Đây cũng là kinh nghiệm mà tôi thường áp dụng khi dạy về
câu.
Mở rộng, củng cố kiến thức: Tương tự ở phần Luyện tập, tiết 112:
"Bài tập 1 trang 115 - 116", bài tập này có 6 ví dụ, yêu cầu học sinh
nắm vững kiểu câu trần thuật đơn. Trong bài tập 1, có hai câu b, d
không phải là câu trần thuật đơn có từ "là". Để giải thích cho học sinh
hiểu, bản thân tôi cũng đã tham khảo một số sách hướng dẫn về nội
dung nàỵ Nhưng sách hướng dẫn chỉ nêu ra các câu b, đ, không phải là

V1 P V2 P
CN VN
* Ghi chú: P - phụ ngữ
Vị ngữ của câu trên là do:
tạo thành

Tương tự như vậy, đối chiếu với đặc điểm của câu trần thuật đơn
có từ "là", thì dạng câu này cũng không được xếp vào nhóm câu trần
thuật đơn có từ "là".
Qua nghiên cứu các bài tập trên, tôi đã giúp học sinh dễ dàng nhận
diện, đối chiếu và nhận dạng được câu trần thuật đơn có từ "là".
Đối với tiết 118 - tuần 30: “Câu trần thuật đơn không có từ “là”,
với mục tiêu cần đạt: nắm được kiểu câu trần thuật đơn không có từ
“là”; nắm được tác dụng của kiểu câu này. Trước yêu cầu của tiết dạy,
tôi lần lượt hướng dẫn học sinh nhắc lại khái niệm của câu trần thuật
đơn, dấu hiệu nhận biết câu trần thuật đơn có từ “là”. Từ các kiến thức
học sinh vừa trình bày, tôi cũng yêu cầu các em cho ví dụ minh hoạ
từng loại câu trần thuật đơn khác nhau. Sau khi học sinh đã nắm vững
kiến thức hai tiết trước, tôi hướng dẫn các em tìm hiểu bài học này theo
trình tự các ví dụ trong sách giáo khoa, sau đó rút ra khái niệm về kiểu
câu trần thuật đơn không có từ “là”. So với hai tiết trước, tiết về câu trần
thuật đơn không có từ “là” kiến thức tương đối rõ ràng, dễ hiểu cho nên
tôi xin phép không trình bày trong đề tài này.
Như vậy, qua ba tiết với ba tuần khác nhau, đan xen giữa các phân
môn trong bộ môn Ngữ văn. Để giúp học sinh nắm vững và vận dụng
được kiến thức đó, tôi thường tích hợp, củng cố trong các bài dạy (tích
Dương Thị Minh Hằng - THCS Thuỵ Vân
12
Động từ + cụm danh từ + động từ + cụm danh từ
SKKN môn Ngữ văn

đạt khoảng 80%
-Năm học: 2010 - 2011: Số học sinh đạt điểm trung bình và khá trở
lên đạt trên 92,2%.
Dương Thị Minh Hằng - THCS Thuỵ Vân
13
SKKN môn Ngữ văn
- Năm học 2011- 2012: Số học sinh đạt điểm giỏi tăng lên, số học
sinh đạt điểm yếu (không hiểu bài) giảm đi.
b/ Về chất lượng:
- Các tiết học đã phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của
học sinh. Các em tham gia xây dựng bài học một cách sôi nổi và hào
hứng. Nhìn chung, học sinh đã ham thích học môn Ngữ văn hơn.
- Bản thân học sinh cũng có ý thức hơn trong việc soạn bài, làm bài
theo hướng tích hợp, biết khai thác, vận dụng linh hoạt các kiến thức
trong đời sống, trong các môn học khác để đưa vào trong bộ môn Ngữ
văn.
- Kiến thức truyền thụ cho học sinh luôn được liên tục củng cố và hệ
thống hoá trong quá trình dạy – học.
- Hơn nữa, ba năm trước, ở bậc Tiểu học, học sinh chưa được học theo
phương pháp đổi mới nên khả năng học tập, cách làm việc theo nhóm,
làm việc độc lập của học sinh chưa tốt, ít nhiều cũng ảnh hưởng đến kết
quả học tập chung của các em. So với các lớp trước, ở các lớp sau này
(từ năm học: 2005- 2006 đến nay), các em đã được học theo phương
pháp mới, thông suốt trong các khối lớp. Hệ thống kiến thức được sắp
xếp từ đơn giản đến phức tạp. Các kiến thức trong chương trình Ngữ
văn 6 được củng cố, nâng cao theo hướng đồng quy nên giúp học sinh
nắm vững kiến thức hơn.
Về phía giáo viên
- Giáo viên có điều kiện bổ sung, củng cố kiến thức bài cũ trong bài
học mới, tránh được tình trạng sai sót, rút ra được những hạn chế của

v phũng GD T Vit Trỡ cn cung cp thờm cho chỳng tụi nhng ti
liu v phõn mụn Ting Vit (c bit l nhng vựng kin thc ang cú
nhiu tranh lun) chỳng tụi cú thờm t liu hc tp, tham kho.
S v Phũng cng thng xuyờn m cỏc lp chuyờn v nhng
bi dy - hc khú trong chng trỡnh giỏo viờn b mụn trong cỏc
trng cú dp hc tp, trao i nhm sỏng t hn nhng vn cũn
nhiu lỳng tỳng, tranh cói t ú rỳt ra c nhng kinh nghim,
phng phỏp truyn th tinh gin nhng t hiu qu cao.
Trờn õy ch l mt vi kinh nghim ht sc nh bộ c rỳt ra t
vic ỏp dng trong thc t ging dy ca cỏ nhõn. Tụi xin c mnh
dn trỡnh by nh trờn v kớnh mong c s gúp ý v mi mt ca
ng nghip.
Xin chõn thnh cm n!

Vit Trỡ, thỏng 3 2012
Ngi thc hin
Dơng Thị Minh HằngNhận xét và đánh giá của hội đồng chm SKKN
trờng THCS Thu Võn
Dng Th Minh Hng - THCS Thu Võn
16
SKKN môn Ngữ văn
Chủ tịch hội đồng
Hiệu trưởng
Ý kiến nhận xét của phòng GD- ĐT Việt trì
Tài liệu tham khảo
1. Sách giáo khoa Ngữ Văn 6 - Nhà xuất bản Giáo dục.
2. Sách giáo viên Ngữ văn 6 - Nhà xuất bản Giáo dục.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status