Đánh giá tác động của chính sách thu hồi đất nông nghiệp tới quá trình phát triển kinh tế - xã hội quận Hải An, thành phố Hải Phòng - Pdf 26

ii ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN Dƣơng Thị Nguyệt Anh ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH
THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP TỚI QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN
KINH TẾ - XÃ HỘI QUẬN HẢI AN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG Chuyên ngành: Địa chính
Mã số: 60.85.01.03
5.1.Quan điểm nghiên cứu 3
5.2.Phƣơng pháp nghiên cứu 4
CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH THU HỒI ĐẤT
NÔNG NGHIỆP TỚI QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI 5
1.1. Tổng quan các chính sách thu hồi đất nông nghiệp 5
1.1.1. Thu hồi đất và các chính sách thu hồi đất nông nghiệp phục vụ phát triển kinh tế
- xã hội 5
1.1.2. Tác động của chính sách thu hồi đất nông nghiệp tới phát triển kinh tế - xã hội
9
1.1.3. Một số bài học kinh nghiệm về thu hồi đất nông nghiệp trên thế giới và ở Việt
Nam 12
1.2. Cơ sở pháp lý của chính sách thu hồi đất đai 21
1.2.1. Trên phạm vi cả nƣớc 21
1.2.2. Chính sách thu hồi đất nông nghiệp ở thành phố Hải Phòng giai đoạn 2003 -
2010 25
CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP PHỤC VỤ PHÁT
TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI QUẬN HẢI AN 27
2.1. Đặc điểm điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên quận Hải An 27
2.1.1. Vị trí địa lý 27
2.1.2. Đặc điểm điều kiện tự nhiên 27
2.1.3. Đánh giá tài nguyên thiên nhiên 31
2.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội quận Hải An giai đoạn 2005 - 2010 33
2.2.1. Đặc điểm dân cƣ và lao động 33
v

2.2.2. Tình hình phát triển kinh tế quận Hải An 35
2.3. Thực trạng thu hồi đất nông nghiệp trên địa bàn quận Hải An giai đoạn 2003 - 2010 37
2.3.4. Phân tích một số dự án thu hồi đất điển hình trên địa bàn quận Hải An: 42
2.4. Biến động sử dụng đất nông nghiệp quận Hải An giai đoạn 2005-2010 48
2.4.1. Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp năm 2005 48

DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1. Tình hình phân bổ lao động theo ngành năm 2005 34
Bảng 2.2. Cơ cấu lao động trên địa bàn quận Hải An giai đoạn 2005 - 2010 35
Bảng 2.3. Bảng tổng hợp các dự án thu hồi đất vào mục đích Quốc phòng, An ninh
trên địa bàn quận Hải An giai đoạn 2003 - 2010 37
Bảng 2.4. Bảng tổng hợp các dự án thu hồi đất vào mục đích xây dựng cơ sở hạ tầng
xã hội quận Hải An giai đoạn 2003- 2010 38
Bảng 2.5 Bảng tổng hợp các dự án thu hồi đất vào mục đích phát triển kinh tế quận
Hải An giai đoạn 2003- 2010 39
Bảng 2.6. Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp quận Hải An năm 2005 49
Bảng 2.7. Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp quận Hải An năm 2010 51
Bảng 2.8. Biến động sử dụng đất nông nghiệp quận Hải An năm 2005- 2010 53
Bảng 3.1. Một số thay đổi chính sách về giá đất giai đoạn 2003 - nay 65
Bảng 3.2. Trình độ văn hóa, chuyên môn của số ngƣời trong độ tuổi lao động 66
Bảng 3.3. Thu nhập bình quân của ngƣời dân trƣớc và sau khi thu hồi đất nông nghiệp
72
Bảng 3.4. Tỷ lệ thu nhập của các hộ sau khi thu hồi đất nông nghiệp 72
Bảng 3.5. Tình hình lao động và việc làm của các hộ dân bị thu hồi đất nông nghiệp dự
án đƣờng ô tô cao tốc Hà Nội - Hải Phòng. 73
Bảng 3.6. Phƣơng thức sử dụng tiền bồi thƣờng của các hộ 73 vii
viii DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

CNH-HĐH : Công nghiệp hóa - hiện đại hóa
KCN : Khu công nghiệp
KT - XH : Kinh tế - xã hội
UBND : Ủy ban nhân dân
NĐ - CP : Nghị định - Chính phủ
QĐ - CP : Quyết định - Chính phủ
QĐ-UB : Quyết định - Ủy ban nhân dân
TB - UBND : Thông báo - Ủy ban nhân dân
GPMB : Giải phóng mặt bằng
1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Sau hơn 25 năm thực hiện chính sách đổi mới, Việt Nam từ một nƣớc thuộc
nhóm các nƣớc nghèo đã vƣơn lên thành quốc gia đang phát triển có thu nhập ở mức
trung bình. Đạt đƣợc những thành tựu đó, sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam dựa
vào nhiều yếu tố, trong đó sự phát triển của ngành nông nghiệp đóng vai trò quan
trọng. Trong nông nghiệp, đất đai là tƣ liệu sản xuất quan trọng, quyết định tính đa

quận theo hƣớng giảm diện tích đất nông nghiệp và tăng diện tích đất phi nông
nghiệp. Việc thu hổi, chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp phục vụ nhu cầu
phát triển của địa phƣơng gây ra những tác động cả tích cực và tiêu cực. Vì vậy, đề
tài: “Đánh giá tác động của chính sách thu hồi đất nông nghiệp tới quá trình phát
triển kinh tế - xã hội quận Hải An, thành phố Hải Phòng” đƣợc lựa chọn là đáp
ứng đƣợc yêu cầu thực tiễn của địa phƣơng trong quá trình phát triển và hội nhập.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Đánh giá tác động của việc thu hồi đất nông nghiệp tới quá trình phát triển kinh
tế - xã hội của quận Hải An nhằm đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu
quả chính sách thu hồi đất nông nghiệp ở địa phƣơng.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tổng quan và lý luận về vai trò của chính sách đất đai, đặc biệt là chính sách
thu hồi đất nông nghiệp đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội.
- Phân tích hệ thống chính sách quản lý đất đai hiện hành ở cấp thành phố và cấp
quận.
- Phân tích và đánh giá quá trình phát triển KT-XH khu vực nghiên cứu giai đoạn
2003-2010.
- Đánh giá thực trạng việc thu hồi đất tại một số dự án trên địa bàn quận Hải An
và những tác động của chính sách đối với sự phát triển KT-XH và sinh kế của ngƣời
dân.
4. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi khu vực nghiên cứu: Trên cơ sở đánh giá tác động của chính sách thu
hồi đất nông nghiệp của các dự án trên địa bàn quận Hải An, đề tài lựa chọn một số dự
án tiêu biểu để nghiên cứu chi tiết.
- Phạm vi nội dung nghiên cứu: Đánh giá tác động của chính sách đất đai là một
lĩnh vực nghiên cứu rộng, phức tạp. Trong khuôn khổ đề tài luận văn thạc sỹ, một số
nội dung chính đƣợc nghiên cứu nhƣ sau:
+ Phân tích thực trạng hiệu quả chính sách thu hồi đất nông nghiệp
3


Với mục tiêu định hƣớng phát triển kinh tế quận Hải An, việc hoạch định chính
sách sử dụng đất một cách chính xác phù hợp và hiệu quả sẽ đảm bảo cho quá trình phát
triển bền vững của địa phƣơng.
4

Với quan điểm bền vững này, việc duy trì cơ cấu sử dụng đất hợp lý song vẫn đảm
bảo đầy đủ chức năng của lãnh thổ sẽ đảm bảo cho khu vực nghiên cứu có một lộ trình
phát triển phù hợp và theo hƣớng phát triển bền vững.
5.2.Phƣơng pháp nghiên cứu
5.2.1.Phương pháp điều tra, khảo sát
Điều tra thu thập các tài liệu, số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, tài
nguyên thiên nhiên và môi trƣờng, các số liệu thống kê, kiểm kê về diện tích các loại
đất giai đoạn 2005 - 2010, các phƣơng án bồi thƣờng… để phân tích, đánh giá tác
động của chính sách thu hồi đất nông nghiệp trên địa bàn quận Hải An.
5.2.2.Phương pháp thống kê, so sánh
Trên cơ sở các số liệu, tài liệu thu thập đƣợc, tiến hành thống kê, so sánh số liệu
qua các năm để thấy đƣợc sự biến động sử dụng đất, sự thay đổi về các vấn đề kinh tế
- xã hội, sinh kế ngƣời dân. Đặc biệt là so sánh các thời điểm trƣớc và sau khi thu hồi
đất nông nghiệp.
5.2.3.Phương pháp phân tích, đánh giá tổng hợp
Đặt đất nông nghiệp của quận Hải An vào một hệ thống chỉnh thể, chịu sự tƣơng
tác của nhiều yếu tố, tiến hành đánh giá tổng hợp cả hệ thống để tìm ra những thay
đổi, những điểm tích cực và tiêu cực của việc áp dụng chính sách thu hồi đất nông
nghiệp ở quận Hải An. Mặt khác, đánh giá toàn diện những tác động của chính sách
thu hồi đất nông nghiệp tới kinh tế, xã hội và cƣ dân địa phƣơng.
5.2.4.Phương pháp điều tra xã hội học
Thực hiện điều tra nhanh 51 hộ dân có đất nông nghiệp thu hồi phục vụ 3 dự án
xây dựng trọng điểm trên địa bàn quận Hải An (Đƣờng cao tốc Hà Nội – Hải Phòng,
Khu CN Tràng Duệ, Khu đô thị Hồ sen – Cầu Rào 2) bằng phƣơng pháp điều tra và
phỏng vấn trực tiếp ngƣời dân, từ đó phân tích, đánh giá, tổng hợp mức thu nhập của

b) Khái niệm về thu hồi đất nông nghiệp, phát triển bền vững và sinh kế người dân
- Thu hồi đất nông nghiệp: Là việc Nhà nƣớc ra quyết định hành chính để thu lại
quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất đã giao cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử
dụng đất vào mục đích sản xuất nông nghiệp.
Trong quá trình thực hiện quyền sở hữu của mình, Nhà nƣớc đã ban hành nhiều
chính sách đất đai trong đó có chính sách thu hồi đất bao gồm các chính sách về bồi
thƣờng, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng. Các chính sách này ngày càng đƣợc hoàn thiện
phù hợp với nhu cầu về phát triển kinh tế - xã hội của đất nƣớc, thành phố và bảo đảm
lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân có đất sản xuất nông nghiệp bị thu hồi.
6

- Phát triển bền vững: Hiểu nhƣ là sự phát triển về mọi mặt trong hiện tại mà vẫn phải
đảm bảo sự tiếp tục phát triển trong tƣơng lai. Phát triển bền vững nhằm thỏa mãn các
nhu cầu căn bản của con ngƣời là lƣơng thực, nƣớc sạch, nhà ở, sức khỏe, giáo dục, an
sinh, phúc lợi, quyền phát biểu, quyền tham gia, v.v. và nhiều yêu cầu tinh thần và vật
chất hiện tại khác của con ngƣời, nhƣng không làm tổn hại tới sự thỏa mãn các nhu
cầu nhƣ vậy của thế hệ trong tƣơng lai.
- Sinh kế của người dân: Có thể hiểu là phƣơng tiện, cách thức kiếm sống của con
ngƣời, nó là kế sinh nhai hay còn là thu nhập ổn định của một con ngƣời. Sinh kế là
tập hợp các nguồn lực và khả năng con ngƣời có đƣợc kết hợp với những quyết định
và những hoạt động mà họ sẽ thực hiện để không những kiếm sống đƣợc mà còn đạt
đến mục tiêu và ƣớc nguyện của mình. Về cơ bản, các hoạt động sinh kế là do mỗi cá
nhân hay hộ gia đình tự quyết định dựa vào năng lực và khả năng của họ và đồng thời
chịu tác động của các thể chế chính sách và mối quan hệ xã hội mà mỗi cá nhân và hộ
gia đình tự thiết lập trong cộng đồng.
c) Chính sánh thu hồi đất nông nghiệp ở Việt Nam qua các thời kỳ
Qua nghiên cứu hệ thống chính sách thu hồi đất nông nghiệp ở nƣớc ta, các quy
định của pháp luật về thu hồi đất nông nghiệp ngày càng phù hợp hơn với yêu cầu
thực tế cũng nhƣ yêu cầu của các quy luật kinh tế. Các chính sách đƣợc thể hiện qua
các giai đoạn của quá trình áp dụng Luật đất đai nhƣ sau:

quốc gia, Nhà nƣớc trƣng mua hoặc trƣng dụng có bồi thƣờng tài sản của cá nhân
hoặc tổ chức theo thời giá thị trƣờng (Điều 23).
Giai đoạn này việc thu hồi và bồi thƣờng thiệt hại khi Nhà nƣớc thu hồi đất đã có
điều chỉnh so với giai đoạn trƣớc trên cơ sở thực hiện Luật đất đai năm 1993 xác lập
quyền sử dụng đất của hộ dân. Chính phủ ban hành Nghị định 90/CP ngày 17/8/1994
quy định về việc bồi thƣờng thiệt hại khi Nhà nƣớc thu hồi đất sử dụng vào mục đích
an ninh, quốc phòng, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng thay thế tất cả các văn bản,
chính sách trƣớc đây của Nhà nƣớc về bồi thƣờng giải phóng mặt bằng.
Nhìn chung việc bồi thƣờng đất nông nghiệp trong giai đoạn này có sự thay đổi
cơ bản về chủ thể đối với quyền sử dụng đất, nhƣng vì giá bồi thƣờng thiệt hại đất
nông nghiệp còn thấp (mới đảm bảo đủ chi phí cho việc khai hoang xây dựng đồng
ruộng) chƣa phù hợp với giá chuyển nhƣợng quyền sử dụng đất. Việc thu hồi đất để
thực thi các dự án đầu tƣ còn gặp nhiều khó khăn. Có thể thấy nội dung của Nghị định
90/CP còn rất sơ sài, chƣa gắn với cơ chế thị trƣờng.
8

+ Sau khi tích luỹ đƣợc một số kinh nghiệm, ngày 24/4/1998 Chính phủ ban hành
Nghị định số 22/1998/NĐ-CP để thay thế cho Nghị định số 90/CP. Nghị định gồm 6
chƣơng 40 điều quy định rõ phạm vi, đối tƣợng đƣợc bồi thƣờng thiệt hại; Nguyên
tắc, giá đất đền bù, chính sách hỗ trợ. Đây là các văn bản quy định việc thu hồi và đền
bù thiệt hại khi nhà nƣớc thu hồi đất rất rõ ràng, đầy đủ nhất từ trƣớc đến năm 1998 ở
nƣớc ta [11].
Tuy vậy, việc quy định giá đất để đền bù còn hạn chế ở cách tính hệ số K cho từng
dự án để nhân với giá đất chung Chính phủ quy định. Việc tính hệ số K ở mỗi dự án, mỗi
địa phƣơng rất phức tạp về cách tính toán và thủ tục hành chính, việc thực thi đền bù đất
bị kéo dài, trong khi giá cả thị trƣờng về quyền sử dụng đất luôn biến động nên nảy sinh
nhiều mâu thuẫn trong nhân dân.
+ Trên cơ sở Luật đất đai ngày 26/11/2003, Chính phủ ban hành Nghị định
197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 về bồi thƣờng, hỗ trợ tái định cƣ khi nhà nƣớc thu
hồi đất gồm 7 chƣơng, 51 điều.

giao 1 suất đất ở hoặc căn hộ chung cƣ, 1 suất đất sản xuất kinh doanh phi nông đối
với địa phƣơng có quỹ đất ở nhà ở [5].
1.1.2. Tác động của chính sách thu hồi đất nông nghiệp tới phát triển kinh tế - xã hội
a) Tác động tới phát triển kinh tế - xã hội
- Đối với lĩnh vực nông nghiệp, đất đai là nguồn tƣ liệu sản xuất chính sản xuất ra của
cái vật chất cho xã hội. Thu hồi đất nông nghiệp ngoài việc đem lại lợi ích không nhỏ
phục vụ cho quá trình phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc, phát triển hạ
tầng cơ sở các khu công nghiệp, đô thị, giao thông, cảng biển góp phần phát triển
kinh tế - xã hội đất nƣớc. Tuy nhiên bên cạnh đó, nó cũng làm ảnh hƣởng xấu đến lợi
ích của quốc gia, đó là ảnh hƣởng đến vấn đề an ninh lƣơng thực, sinh kế của ngƣời
nông dân khi mất đất làm ảnh hƣởng đến trật tự an toàn xã hội và làm kiệt quệ nguồn
tài nguyên thiên nhiên của quốc gia.
Vì vậy, trong quá trình phát triển kinh tế, Nhà nƣớc đã ban hành nhiều chính
sách đất đai trong đó có chính sách thu hồi đất nông nghiệp và đã đƣợc các địa
phƣơng nỗ lực thực hiện. Vấn đề bồi thƣờng, hỗ trợ, bảo đảm việc làm, thu nhập và
đời sống của ngƣời nông dân có đất bị thu hồi đƣợc quan tâm hàng đầu. Song tình
trạng thiếu việc làm, không chuyển đổi đƣợc nghề nghiệp, khó khăn trong cuộc sống
sinh hoạt của ngƣời nông dân bị thu hồi đất đã và đang diễn ra tại nhiều địa phƣơng.
Nguyên nhân này một phần do nhiều nơi thực hiện đền bù, hỗ trợ, đào tạo, giải quyết
việc làm cho ngƣời dân có đất bị thu hồi còn chƣa hợp lý dẫn đến tình trạng khiếu
10

kiện gây mất trật tự an ninh, xã hội. Bên cạnh đó, bản thân ngƣời dân bị thu hồi đất
còn thụ động trông chờ vào nhà nƣớc, chƣa tích cực tự đào tạo để đáp ứng với sự
nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nƣớc.
Mâu thuẫn giữa chính sách đất đai với các chính sách phát triển kinh tế khác,
cộng với những điểm chƣa rõ ràng của luật đã tạo nhiều bất ổn trong phát triển kinh tế
tổng thể gây ra những lãng phí và tranh chấp không đáng có. Mặc dù chính sách đất
đai đƣợc thay đổi liên tục nhƣng những kẽ hở và sự thiếu rõ ràng của nó làm cho số vụ
tranh chấp, khiếu nại, tố cáo của ngƣời dân, doanh nghiệp liên quan đến đất đai có xu

xây dựng khu công nghiệp, mặc dù nhu cầu việc làm của bộ phận nông dân mất đất rất
cao, nhƣng các khu công nghiệp này lại không thể nhận họ vì những lý do sau: Các
khu công nghiệp yêu cầu lao động tay nghề cao trong khi nhóm hộ dân mất đất không
thể đáp ứng cho công việc; nhiều khu công nghiệp phải tiến hành các thủ tục san lấp
mặt bằng kéo dài 2-3 năm, thậm chí nhiều khu công nghiệp còn có tình trạng để
hoang, găm đất. Vì vậy, ngƣời nông dân sau khi bị thu hồi đất vẫn khó khăn trong việc
tìm kiếm việc làm.
Bên cạnh đó, theo khảo sát của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho biết:
60% số hộ bị thu hồi đất vẫn sống dựa vào nông nghiệp, đời sống gặp khó khăn, chỉ
29% số hộ có điều kiện sống cao hơn trƣớc, trong khi có tới 34,5% số hộ có mức sống
thấp hơn trƣớc và 36,5% thì vẫn nhƣ cũ, có tỉnh 25%-30% lao động sau thu hồi đất
không có việc làm hoặc việc làm không ổn định. Số lao động không có việc làm sau khi
bị thu hồi đất tăng nhanh ở tất cả các tỉnh có khảo sát. Tại Hà Nội, tỷ lệ lao động không
có việc làm trƣớc khi thu hồi đất là 4,7% đã tăng lên 12,4% sau khi bị thu hồi đất. Tỷ lệ
tƣơng ứng của các tỉnh khác, nhƣ Hải Phòng là 5,1% và 10,8%; Bắc Ninh 5,3% và
7,9%. Số ngƣời không có việc làm tăng lên, cơ cấu nghề nghiệp cũng thay đổi: số ngƣời
chuyển sang buôn bán tăng 2,72% chuyển sang làm thuê, xe ôm tăng 3,64%, số ngƣời
làm công việc khác tăng 4,1% số ngƣời gắn với các khu công nghiệp chỉ tăng 2,79%.
Tuy nhiên vẫn còn nhiều vấn đề bất cập trong quản lý Nhà nƣớc về chuyển đổi
nghề nghiệp cho nông dân mất đất. Kế hoạch phát triển khu công nghiệp không gắn
với kế hoạch đào tạo nghề cho nông dân. Một số trung tâm đào tạo nghề cho nông dân
chỉ biết đào tạo cũng không biết nhu cầu thị trƣờng lao động, không biết sau khi đào
tạo nông dân có đƣợc nhận vào các cơ sở sản xuất kinh doanh ở các khu vực hay
không. Tại Hà Nội, số lao động mất đất đƣợc đào tạo bằng nguồn vốn của Nhà nƣớc,
sau đào tạo đƣợc nhận vào làm việc là 33%, bằng vốn của gia đình là 45,6%. Cụ thể là
12

lao động đào tạo bằng nguồn vốn của gia đình là 0,19 ngƣời/hộ nhƣng chỉ có 0,09
ngƣời đƣợc tuyển dụng nhận vào làm việc tại các doanh nghiệp nhận đất.
Nhƣ vậy, cứ 1.000 hộ mất đất nông nghiệp có 190 ngƣời tự bỏ tiền ra học nghề

2005 quy định: “Quốc gia do sự cần thiết vì lợi ích công cộng, có thể căn cứ vào pháp
luật mà trưng thu hay trưng dụng đất đai và trả bồi thường”. Các nhà làm luật giải
thích rằng trƣng thu áp dụng đối với đất thuộc sở hữu tập thể do phải chuyển quyền sở
hữu tập thể sang sở hữu nhà nƣớc, còn trƣng dụng đổi với đất thuộc sở hữu nhà nƣớc
vì chỉ thay đổi mục đích sử dụng đất.
Trong trƣờng hợp Nhà nƣớc thu hồi đất của ngƣời đang sử dụng để sử dụng vào
mục đích công cộng, lợi ích quốc gia… thì Nhà nƣớc có chính sách bồi thƣờng và tổ chức
tái định cƣ cho ngƣời bị thu hồi đất. Vấn đề bồi thƣờng cho ngƣời có đất bị thu hồi đƣợc
pháp Luật đất đai Trung Quốc quy định nhƣ sau:
- Về trách nhiệm bồi thường: Pháp luật đất đai Trung Quốc quy định, ngƣời nào sử
dụng đất thì ngƣời đó có trách nhiệm bồi thƣờng. Phần lớn tiền bồi thƣờng do ngƣời
sử dụng đất trả. Tiền bồi thƣờng bao gồm các khoản nhƣ lệ phí sử dụng đất phải nộp
cho Nhà nƣớc và các khoản tiền trả cho ngƣời có đất bị thu hồi. Ngoài ra, pháp luật
đất đai Trung Quốc còn quy định mức nộp lệ phí trợ cấp đời sống cho ngƣời bị thu hồi
đất là nông dân cao tuổi không thể chuyển đổi sang ngành nghề mới khi bị mất đất
nông nghiệp, khoảng từ 442.000 - 2.175.000 nhân dân tệ/ha [23].
Các khoản phải trả cho ngƣời bị thu hồi đất gồm tiền bồi thƣờng đất đai, tiền trợ cấp
tái định cƣ, tiền bồi thƣờng hoa màu và tài sản trên đất. Cách tính tiền bồi thƣờng đất đai
và tiền trợ cấp tái định cƣ căn cứ theo giá trị tổng sản lƣợng của đất đai những năm trƣớc
đây rồi nhân với một hệ số do Nhà nƣớc quy định. Còn đối với tiền bồi thƣờng hoa màu
và tài sản trên đất thì xác định theo giá thị trƣờng tại thời điểm thu hồi đất.
Ở Trung Quốc, Nhà nƣớc quan tâm tới nông dân, tạo điều kiện cho họ đƣợc
hƣởng những thành quả công nghiệp hóa, đô thị hóa khi thu hồi đất. Khi Nhà nƣớc thu
hồi đất nông nghiệp hoặc là thu hồi đất ở thuộc khu vực nông thôn để sử dụng vào
mục đích khác thì ngƣời nông dân đƣợc lƣu ý, quan tâm về lợi ích cũng nhƣ đƣợc bồi
thƣờng một cách hợp lý. Một vấn đề rất quan trọng đó là gắn công tác bồi thƣờng với
việc giải quyết các vấn đề xã hội. Thông thƣờng khi bị thu hồi đất, ngƣời nông dân
khó tìm đƣợc việc làm thích hợp với khả năng của mình. Để giải quyết vấn đề này,
Trung Quốc đã thực hiện chế độ dƣỡng lão đối với ngƣời già (phụ nữ từ 45 tuổi và
nam giới từ 50 tuổi trở lên) và hỗ trợ tiền cho những ngƣời đang trong độ tuổi lao

- Về thu hồi đất: Điều 208 Luật Đất đai Đài Loan quy định “Do nhu cầu xây dựng các
công trình công cộng, nhà nước có thể trưng thu đất tư hữu theo quy định của Bộ luật
này, nhưng phạm vi trưng thu phải hạn chế trong nhu cầu cần thiết của công trình đó,
như công trình quốc phòng, công trình giao thông, công trình công cộng, vệ sinh công
15

cộng, cơ quan Chính phủ, cơ quan tự trị của địa phương, kiến trúc công cộng khác, sự
nghiệp khoa học kỹ thuật và từ thiện, các công trình khác do Chính phủ xây mới phục
vụ lợi ích công cộng”.
Việc trƣng thu đất và bồi thƣờng tài sản trên đất ở Đài Loan đƣợc thực hiện nhƣ
sau: Cơ quan cần đất đƣa ra kế hoạch xây dựng mới công trình và phạm vi dùng đất, sau
đó liên hệ với cơ quan địa chính địa phƣơng để thực hiện.
Cũng theo quy định của Luật đất đai Đài Loan (Điều 236) thì đất đai bị thu hồi
đƣợc bồi thƣờng giá trị đất và tiền di chuyển. Các khoản bồi thƣờng giá trị đất và tiền
di chuyển do Chính phủ, cơ quan thành phố, huyện và các địa phƣơng đó quy định.
Khoản tiền bồi thƣờng đất do ngƣời cần dùng đất trả và nộp vào cơ quan địa chính
huyện địa phƣơng nơi có đất để chuyển trả. Đối với đất chƣa qua chuyển đổi quyền sở
hữu thì việc bồi thƣờng giá trị đất căn cứ vào giá trị đất đƣợc pháp luật quy định tại
thời điểm công bố trƣng thu đất. Đối với đất đai đã qua chuyển đổi quyền sở hữu thì
bồi thƣờng theo giá trị đất đai của lần chuyển đổi sau cùng. Tiền bồi thƣờng tài sản
trên đất do cơ quan địa chính huyện, thành phố phối hợp với các cơ quan có liên quan
đánh giá, quyết định. Việc phát tiền bồi thƣờng đƣợc thực hiện trong vòng 15 ngày
sau khi hết hạn công bố.
Trong quá trình thực hiện trƣng thu đất đai, Đài Loan vẫn thƣờng gặp phải các
rắc rối và sự phản kháng của chủ sở hữu đất. Điều 238 Luật Đất đai của Đài Loan quy
định, khi cơ quan địa chính huyện, thành phố gặp phải các tình huống dƣới đây thì
đƣợc di chuyển thay hoặc trƣng thu đất luôn:
+ Chủ sở hữu đất cự tuyệt không nhận hoặc không thể nhận phí di chuyển khi đƣợc
chi trả;
+ Ngƣời đƣợc lĩnh tiền không rõ ràng ở địa phƣơng;

+ Chính quyền có kế hoạch và chính sách phát triển nông nghiệp gắn với quy hoạch
phát triển các cơ sở nông - công nghiệp sẽ đƣợc bố trí ở nông thôn, với vùng nguyên
liệu và các nhà máy chế tạo máy nông nghiệp.
+Tạo môi trƣờng chính sách vĩ mô thuận lợi cho công nghiệp hoá nông thôn thông
qua các chính sách về lãi suất, tiền lƣơng, tỷ giá, khuyến khích sản xuất nông sản, trợ
giá đầu vào cho chế biến thức ăn gia súc và chăn nuôi,… Từ đó khuyến khích chuyển
lao động sang hoạt động phi nông nghiệp.
+ Chú trọng nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực nhằm nâng cao khả năng sử dụng
công nghệ.
17

+ Chính quyền tăng cƣờng đầu tƣ kết cấu hạ tầng nông thôn nhằm khuyến khích phát
triển kinh tế nông thôn.
* Ở Nhật Bản:
- Về thu hồi đất: Luật Trƣng thu đất đai của Nhật Bản ban hành năm 1951 quy định
việc trƣng dụng đất có bồi thƣờng để xây dựng công trình hạ tầng trọng yếu đƣợc
pháp luật cho phép, chẳng hạn đƣờng xá, công viên theo luật quy hoạch đô thị, đê
điều, hồ chứa nƣớc theo luật sông ngòi, cảng biển theo luật cảng biển.
Trình tự trƣng dụng đất đai đƣợc thể hiện trong hình sau:
Hoạt động giải quyết việc làm cho ngƣời cao tuổi đƣợc chú trọng để xoá bỏ
những bất cân đối về việc làm do tuổi tác. Luật về ổn định việc làm của ngƣời lao
động cao tuổi nhấn mạnh yêu cầu các công ty kéo dài tuổi về hƣu bắt buộc và thuê
mƣớn lại những ngƣời cao tuổi có năng lực, kinh nghiệm tại các công ty hiện đại hoặc
từ các công ty chi nhánh. Nhiều chính sách đƣợc đƣa ra nhƣ các chính sách về đào tạo
lại, nâng cao tay nghề cho lao động trung niên. Các loại hình tuyển dụng và thuê
mƣớn đƣợc đa dạng hoá, coi trọng các công việc làm thêm không chính thức nhƣ làm
bán thời gian, tạm thời hoặc bất thƣờng. Chế độ tuyển dụng thay đổi theo khu vực,
không tập trung chủ yếu tại các đô thị lớn nhƣ trƣớc kia mà chuyển sang các khu vực
lân cận và các địa phƣơng.
Trong những năm 1960, các lĩnh vực nhƣ phúc lợi y tế, công nghệ tin học và môi
trƣờng đang giữ một vai trò quan trọng then chốt trong việc mở ra những thị trƣờng
mới ở Nhật Bản. Đồng thời, các ngành công nghiệp mới và các dịch vụ liên quan đƣợc
khuyến khích phát triển. Việc phát triển khoa học và công nghệ địa phƣơng đƣợc đẩy
mạnh thông qua việc tận dụng đặc thù mỗi vùng. Chính phủ Nhật Bản đã có những
bƣớc đi thích hợp nhằm ổn định thị trƣờng lao động ở tầm vĩ mô, nhƣng để có thể
tham gia đƣợc vào thị trƣờng lao động thì bản thân mỗi ngƣời lao động cũng phải tự
phát triển năng lực nghề nghiệp của mình thông qua việc tự đào tạo lại; các công ty, tổ
chức cũng phải ủng hộ điều này một cách tích cực. 19

b) Ở Việt Nam
- Tình hình thu hồi đất ở nước ta: Trong 5 năm, từ năm 2001-2005, tổng diện tích đất
nông nghiệp đã thu hồi là 366,44 nghìn ha (chiếm 3,89% đất nông nghiệp đang sử
dụng). Trong đó, diện tích đất nông nghiệp đã thu hồi để xây dựng các khu công
nghiệp và cụm công nghiệp là 39,56 nghìn ha, xây dựng đô thị là 70,32 nghìn ha và
xây dựng kết cấu hạ tầng là 136,17 nghìn ha.
Các vùng kinh tế trọng điểm là khu vực có diện tích đất nông nghiệp thu hồi lớn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status