LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô đã cung cấp cho em những kiến thức vô
cùng quý báu trong suốt quá trình học tập tại Khoa Tài chính – Ngân hàng trường Đại
học Đại Nam.
Em xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo, các cô chú, anh chị công tác tại chi
nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Hoàng Mai, Hà Nội đã tạo
điều kiện thuận lợi, hướng dẫn em trong quá trình thực tập và hoàn thành khóa luận.
Đặc biệt em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn và chỉ bảo nhiệt tình của Th.S
Nguyễn Thị Hương Lan đã giúp em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp
Cuối cùng em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến gia đình, bạn bè, những người đó
luôn ở bên và quan tâm, động viên em trong suốt quá trình học tập và hoàn thành khóa
luận này.
Em xin chân thành cảm ơn !
Sinh viên
Dương Trà Linh
i
KÝ HIỆU CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT
RRTD
NHTM
NH
DN
NHNN
NHNo&PTNT
HĐ
TCTD
TCKT
TCXH
TGDC
TGTCKT
DNNH
DNTDH
ngân hàng thương mại lớn nhất tại Việt Nam và có nhiều kinh nghiệm trong hoạt động
tín dụng. Tuy nhiên, sự phát triển mạnh mẽ của hệ thống ngân hàng, sự biến động của
nền kinh tế đặt ra nhiệm vụ cho Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt
Nam cũng như Chi nhánh Hoàng Mai phải nâng cao các giải pháp phòng ngừa để hạn
chế rủi ro, tăng lợi nhuận, đem lại sự an toàn cho hoạt động tín dụng nói riêng và hoạt
động kinh doanh nói chung.
Nhận thấy sự cấp thiết của đề tài, sau một thời gian thực tập và tìm hiểu thực tế
tại chi nhánh Ngân Hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Hoàng Mai, em đã
chọn đề tài “Giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng trong tại Ngân hàng Nông nghiệp
và Phát triển Nông thôn Chi nhánh Hoàng Mai” với mục tiêu tìm ra tồn tại, nguyên
nhân và đề xuất một số biện pháp khắc phục nhằm tăng cường hiệu quả công tác hạn
chế rủi ro tín dụng tại Chi nhánh.
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về RRTD trong hoạt động kinh doanh
NHTM
- Phân tích đánh giá thực trạng rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và
Phát triển Nông thôn Chi nhánh Hoàng Mai.
- Đưa ra những giải pháp kiến nghị nhằm tăng cường hiệu quả trong công tác hạn
chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Chi
nhánh Hoàng Mai.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
- Đối tượng nghiên cứu: hoạt động tín dụng và rủi ro tín dụng tại Ngân hàng
Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Chi nhánh Hoàng Mai.
1
- Phạm vi nghiên cứu: nghiên cứu những vấn đề liên quan đến hoạt động tín dụng
và rủi ro tín dụng trong 3 năm từ năm 2009 đến năm 2011.
4. Phương pháp nghiên cứu.
Khóa luận sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, suy
luận logic, thống kê, so sánh…
5. Kết cấu khóa luận.
Thứ hai: Tín dụng là sự chuyển nhượng một lượng giá trị (tiền tệ hoặc hiện vật)
có thời hạn. Ngân hàng là trung gian tài chính "đi vay để cho vay", nên mọi khoản
tín dụng của ngân hàng đều phải có thời hạn, bảo đảm cho ngân hàng hoàn trả
vốn huy động.
Thứ ba: Tính hoàn trả. Nếu không có sự hoàn trả thì không coi là tín
dụng. Giá trị hoàn trả phải lớn hơn giá trị ban đầu, nghĩa là ngoài việc hoàn trả
giá trị gốc, khách hàng phải trả cho ngân hàng một khoản lãi, đây chính là giá
3
của quyền sử dụng vốn vay. Khoản lãi này bù đắp chi phí hoạt động và tạo lợi
nhuận cho ngân hàng, phản ánh bản chất hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
Thứ tư: Tín dụng là hoạt động tiềm ẩn rủi ro cao cho ngân hàng. Việc thu
hồi tín dụng phụ thuộc không những vào bản thân khách hàng, mà còn phụ
thuộc vào môi trường hoạt động ngoài tầm kiểm soát của khách hàng như sự
biến động về giá cả, lãi suất, tỷ giá, lạm phát, thiên tai… khi khách hàng gặp
khó khăn do môi trường kinh doanh thay đổi, dẫn đến khó khăn trong việc trả
nợ, điều này khiến cho ngân hàng gặp rủi ro tín dụng.
Thứ năm: Tín dụng trên nguyên tắc hoàn trả vô điều kiện. Quá trình xin
vay và cho vay diễn ra trên cơ sở những căn cứ pháp lý chặt chẽ như hợp đồng
tín dụng, khế ước vay tiền, hợp đồng bảo đảm tiền vay, bảo lãnh … trong khi đó
bên đi vay phải cam kết hoàn trả vô điều kiện khoản vay cho ngân hàng khi đến
hạn.
b. Nguyên tắc cơ bản
Thứ nhất: vốn vay phải được sử dụng đúng mục đích.
Thứ hai: vốn vay phải được hoàn trả cả gốc lẫn lãi đúng thời hạn đã cam kết
trong hợp đồng.
1.1.2 Phân loại tín dụng
1.1.2.1 Căn cứ vào thời hạn tín dụng
Tín dụng ngắn hạn: là loại tín dụng có thời hạn đến một năm và được sử dụng
để bù đắp sự thiếu hụt tạm thời của các doanh nghiệp và các nhu cầu chi tiêu
ngắn hạn cá nhân.
liệu, trả thuế và chi trả lương.
Tín dụng nông nghiệp: là khoản tín dụng cấp cho các hoạt động nông nghiệp
nhằm trang trải các chi phí trong các hoạt động trồng trọt, chăn nuôi…
Tín dụng các định chế tài chính: cấp tín dụng cho các ngân hàng, các công ty
tài chính, công ty bảo hiểm…
Tín dụng tiêu dùng: là khoản tín dụng cấp cho các cá nhân, hộ gia đình nhằm
phục vụ nhu cầu mua sắm hàng tiêu dùng đắt tiền, các khoản để trang trải
chi phí thông thường của đời sống thông qua phát hành thẻ tín dụng.
1.1.2.4 Căn cứ vào chủ thể vay vốn
Tín dụng doanh nghiệp: các doanh nghiệp thường vay những khoản vay có giá
trị lớn
5
Tín dụng cá nhân và hộ gia đình: thường là các khoản vay có giá trị nhỏ phục
vụ mục đích tiêu dùng.
Tín dụng cho các tổ chức tài chính : là các khoản tín dụng cấp cho các ngân
hàng, công ty bảo hiểm, công ty tài chính, và các tổ chức tài chính khác, những
khoản đi vay này trở thành nguồn vốn của ngân hàng đi vay, chúng có thể dùng
để trả nợ hay cho vay lại.
1.1.2.5 Căn cứ vào phương thức hoàn trả nợ vay
Tín dụng trả góp: là loại tín dụng mà khách hàng phải hoàn trả vốn gốc và lãi
vay định kỳ thành những khoản bằng nhau. Loại tín dụng này áp dụng cho
những khoản vay lớn và có thời hạn dài.
Tín dụng hoàn trả một lần: là loại tín dụng mà khách hàng chỉ hoàn trả vốn gốc
và lãi vay một lần đến hạn. Loại tín dụng này áp dụng cho những khoản vay
nhỏ có thời hạn ngắn.
Tín dụng hoàn trả theo yêu cầu: loại tín dụng khách hàng có thể hoàn trả nợ vay
bất cứ khi nào. Loại tín dụng này thường được áp dụng cho những khoản vay
thấu chi, thẻ tín dụng.
1.1.2.6 Căn cứ vào hình thái giá trị của tín dụng
Tín dụng bằng tiền: là tín dụng có hình thái giá trị bằng tiền
dạng của khách hàng.
- Giúp nhà đầu tư nắm bắt được những cơ hội kinh doanh, doanh nghiệp có vốn
để mở rộng sản xuất kinh doanh, các cá nhân có đủ khả năng tài chính để trang
trải cho các khoản tiền chi tiêu, nâng cao chất lượng cuộc sống.
- Buộc khách hàng nỗ lực tận dụng hết khả năng của mình để sử dụng vốn vay
hiệu quả, đẩy nhanh quá trình tái sản xuất, đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp
và đảm bảo nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng.
c. Đối với ngân hàng
- Tín dụng là hoạt động truyền thống, chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng tài sản
có và mang lại nguồn thu nhập chủ yếu cho ngân hàng ( từ 70 đến 90% ).
- Thông qua hoạt động tín dụng mà ngân hàng đa dạng hóa danh mục tài sản có,
giảm thiểu rủi ro.
- Thông qua hoạt động tín dụng, ngân hàng mở rộng được các loại hình dịch vụ
khác như thanh toán, kinh doanh ngoại tệ, tư vấn…
1.2 RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NHTM
1.2.1 Khái niệm và phân loại RRTD
7
1.2.1.1 Khái niệm
Rủi ro tín dụng là một trong những loại rủi ro phổ biến nhất trong hoạt động
kinh doanh của ngân hàng. Hoạt động tín dụng ngày nay tạo ra phần lớn nguồn thu cho
ngân hàng song cũng ẩn chứa rủi ro cao và có thể đem lại hậu quả nặng nề, có khi dẫn
đến việc ngân hàng bị phá sản.
Theo quyết định 493/2005/QĐ – NHNN ngày 22/04/2005 của NHNN Việt và
quyết định số 18/2007/QĐ-NHNN: “Rủi ro tín dụng(RRTD) là khả năng xảy ra tổn
thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện
hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết.”
Như vậy RRTD là kết quả của việc NH cấp tín dụng cho khách hàng và ngân
hàng nhận được sự cam kết của con nợ sẽ thanh toán cả gốc lẫn lãi đầy đủ khi đến hạn.
Tuy nhiên vì một lý do nào đó mà con nợ lại không muốn trả nợ hoặc không có khả
năng trả nợ theo đúng cam kết, khi ấy tổn thất tiềm tàng mà ngân hàng phải gánh chịu
tín dụng, khi ngân hàng lựa chọn những phương án vay vốn có hiệu quả
để ra quyết định cho vay.
- Rủi ro bảo đảm : phát sinh từ các tiêu chuẩn bảo đảm như các điều khoản trong
hợp đồng cho vay, các loại tài sản đảm bảo, chủ thể bảo đảm, cách thức đảm
bảo và mức cho vay trên giá trị của tài sản đảm bảo.
- Rủi ro nghiệp vụ : là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt
động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử
lý các khoản cho vay có vấn đề.
b. Căn cứ vào khả năng trả nợ cho ngân hàng trên cả hai khía cạnh: thời
gian và số lượng, rủi ro tín dụng gồm hai loại: rủi ro đọng vốn và rủi ro mất
vốn:
Rủi ro đọng vốn : xảy ra khi khách hàng không thể trả nợ đúng hạn đã thỏa
thuận với ngân hàng hay nói cách khác khách hàng đã trì hoãn trả nợ.
Điều này ảnh hưởng đến kế hoạch sử dụng vốn của ngân hàng, gây cản
trở và khó khăn cho việc chi trả người gửi tiền, tăng chi phí cho ngân
hàng (chi phí cơ hội, chi phí xử lý nợ quá hạn và nợ khó đòi, chi phí giám
sát và chi phí pháp lý).
Rủi ro mất vốn : xảy ra khi khách hàng không trả được một phần hoặc toàn
bộ nợ vay, làm cho dòng tiền của ngân hàng giảm sút đồng thời doanh thu
bị chậm lại hoặc mất đi.
9
1.2.2 Các dấu hiệu nhận biết RRTD
1.2.2.1 Các dấu hiệu tài chính
Các dấu hiệu tài chính là các biểu hiện thông qua các chỉ tiêu định lượng. Nó
bao gồm: các chỉ số thanh khoản như hệ số thanh toán nhanh , hệ số thanh toán tức
thời…, cơ cấu vốn được biểu hiện bằng hệ số nợ , các vòng quay hoạt động như vòng
quay hàng tồn kho, vòng quay các khoản phải thu , các chỉ số khả năng sinh lời ROA
(tỷ lệ lợi nhuận/ tổng Tài sản), ROE(tỷ lệ lợi nhuận/vốn chủ sở hữu), EBIT(lợi nhuận
sau thuế và lãi vay)…. Các chỉ số trên cho phép ta đánh giá được thực trạng tình hình
sản xuất kinh doanh, khả năng tài chính cũng như khả năng trả nợ của DN , phát hiện
Khó khăn trong phát triển sản phẩm, không có các sản phẩm thay thế thu
hút khách hàng, mất thị phần trên thị trường, mất các khách hàng lớn, giá
trị đơn đặt hàng giảm sút gây ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp.
Trang thiết bị không được duy trì bảo hành và nâng cấp thường xuyên,
chất lượng sản phẩm giảm sút, có biểu hiện cắt giảm chi phí
d. Nhóm 4: Nhóm các dấu hiệu xử lý thông tin tài chính
Các số liệu về tài chính chuẩn bị không đầy đủ, chậm chễ hoặc trì hoãn
Sự gia tăng không cân đối về tỷ lệ nợ thường xuyên
Kế hoạch sử dụng vốn và trả nợ không rõ ràng.
e. Nhóm 5: Nhóm các dấu hiệu khác
Cơ chế chính sách (chính sách thuế, điều kiện thành lập và hoạt động) thay
đổi ảnh hưởng không tốt đến hoạt động kinh doanh của khách hàng vay
vốn.
Giá cả thị trường thay đổi ảnh hưởng trực tiếp đến giá cả đầu ra, đầu vào
của sản phẩm mà khoản vốn đó đầu tư.
1.2.3 Đo lường RRTD
1.2.3.1 Đo lường RRTD của từng khoản vay
a. Mô hình 6C
Mô hình 6C có thể sử dụng để đánh giá khách hàng trong giai đoạn thẩm định
và ra quyết định cho vay 1 khoản vay riêng lẻ, và cũng có thể được sử dụng trong quá
trình giám sát sau khi cho vay để theo dõi chất lượng khoản vay đã được thực hiện.
Khi sử dụng mô hình này, ngân hàng định kỳ cần phải phân tích lại mô hình cho các
khoản vay được xem là có vấn đề
11
Mô hình 6C cho phép ngân hàng trả lời câu hỏi người xin vay có tín nhiệm
không, tức là nguời vay có thiện chí trả nợ khi khoản vay đến hạn hay không. Các khía
cạnh cần xem xét trong mô hình 6C gồm:
(1) Tư cách người vay (Character): Cán bộ tín dụng phải có cơ sở rõ ràng về
mục đích sử dụng vốn vay của người đi vay rằng người xin vay có mục đích tín dụng
- Tầm quan trọng của các chỉ số này trong việc xác định xác suất vỡ nợ của
người vay trong quá khứ
Altman xây dựng mô hình điểm số sau:
Z = 1,2X
1
+ 1,4 X
2
+ 3,3 X
3
+ 0,6 X
4
+ 1,0 X
5
Trong đó :
X
1
: Hệ số vốn lưu động / tổng tài sản
X
2
: Hệ số lãi chưa phân phối / tổng tài sản
X
3
: Hệ số lợi nhuận trước thuế và lãi / tổng tài sản
X
4
: Hệ số giá thị trường của tổng vốn sở hữu / giá trị hạch toán của tổng nợ
X
5
: Hệ số doanh thu / tổng tài sản
Trị số Z càng cao thì người vay có xác suất vỡ nợ càng thấp. Khi trị số Z thấp
- Các khoản nợ quá hạn từ 91-180 ngày;
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu, trừ các khoản nợ điều
chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu phân loại vào nhóm 2;
- Các khoản nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi
đầy đủ theo hợp đồng tín dụng;
Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ)
- Các khoản nợ quá hạn từ 181 đến 360 ngày;
- Các khoản nợ được cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90
ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu;
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai;
- Các khoản nợ được phân loại vào nhóm 4;
Nhóm 5 (Nợ có khả năng bị mất vốn)
- Nợ quá hạn trên 360 ngày;
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn 90 ngày trở lên theo
thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu;
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn
trả nợ được cơ cấu lại lần thứ hai;
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên, kể cả chưa bị quá hạn
hoặc đã quá hạn;
- Các khoản nợ khoanh, nợ chờ xử lý;
- Các khoản nợ được phân loại vào nhóm 5.
14
Tỷ lệ nợ xấu cũng là một chỉ tiêu để đánh giá chất lượng tín dụng của tổ chức
tín dụng. Nếu tỉ lệ này càng cao thì rủi ro tín dụng càng cao vì đây là những
khách hàng có dấu hiệu khó khăn về tài chính nên gặp khó khăn trong việc trả
nợ cho ngân hàng:
Nợ xấu
Tỉ lệ nợ xấu= x 100
(%) Tổng dư nợ
Nguyên nhân của các khoản nợ xấu là các khách hàng chỉ muốn vay, không nỗ
từng khu vực địa lý. Mức độ tập trung tín dụng có thể đối với chỉ tiêu là bao
nhiêu tuỳ thuộc vào chính sách tín dụng, vào chiến lược và mục tiêu của từng
ngân hàng trong từng thời kỳ.
Mức độ tập trung tín dụng theo ngành nghề kinh doanh :
Mức độ tập trung tín dụng theo ngành nghề kinh doanh là mức độ dồn vốn tín
dụng theo danh mục ngành nghề kinh tế như: ngành điện, ngành xi măng, xây lắp …
Mức độ này còn tuỳ thuộc vào nhiều nhân tố như chính sách tín dụng , mục tiêu của
ngân hàng trong từng thời kỳ và trạng thái nền kinh tế và định hướng chung của Nhà
nước mà mỗi ngành kinh tế có những xu hướng phát triển khác nhau, mở rộng hay thu
hẹp.
Mức độ tập trung tín dụng theo thời hạn :
Mức độ tập trung tín dụng theo thời hạn là tỷ trọng dồn vốn tín dụng vào các
hình thức tín dụng ngắn hạn, trung hạn, dài hạn trong danh mục đầu tư của ngân hàng.
Mức độ tập trung tín dụng càng cao thì rủi ro càng lớn.
Dư nợ TD ngắn hạn
Tỷ trọng dư nợ ngắn hạn = x 100
(%) Tổng dư nợ
Dư nợ TD trung&dài hạn
Tỷ trọng dư nợ trung&dài hạn= x 100
(%) Tổng dư nợ
Mức độ tập trung tín dụng theo loại tiền :
16
Mức độ tập trung tín dụng theo loại tiền là tỷ trọng dồn vốn tín dụng vào VNĐ
hay ngoại tệ, phụ thuộc vào chính sách tín dụng của từng ngân hàng trong từng thời
kỳ. Tỷ trọng dư nợ tín dụng bằng đồng tiền nào càng cao thì rủi ro gặp phải càng lớn.
Dư nợ bằng VND
Tỷ trọng dư nợ bằng VND = x 100
(%) Tổng dư nợ
hàng phá sản sẽ ảnh hưởng đến tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp,
không có tiền trả lương dẫn đến đời sống công nhân gặp khó khăn. Hơn nữa, sự
hoảng loạn của các ngân hàng ảnh hưởng rất lớn đến toàn bộ nền kinh tế. Nó
làm cho nền kinh tế bị suy thoái, giá cả tăng, sức mua giảm, thất nghiệp tăng, xã
hội mất ổn định. Ngoài ra, RRTD cũng ảnh hưởng đến nền kinh tế thế giới vì
ngày nay nền kinh tế mỗi quốc gia đều phụ thuộc vào nền kinh tế khu vực và thế
giới. Kinh nghiệm cho ta thấy cuộc khủng hoảng tài chính châu Á (1997), cuộc
khủng hoảng tài chính Nam Mỹ (2001-2002) và mới nhất chính là khủng hoảng
tín dụng Mỹ đã làm rung chuyển toàn cầu. Mặt khác, mối liên hệ về tiền tệ, đầu
tư giữa các nước phát triển rất nhanh nên RRTD tại một nước ảnh hưởng trực
tiếp đến nền kinh tế các nước có liên quan.
18
b) Đối với Ngân hàng
Khi gặp RRTD, ngân hàng không thu được vốn tín dụng đã cấp và lãi cho vay,
nhưng ngân hàng phải trả vốn và lãi cho khoản tiền huy động khi đến hạn, điều này
làm cho ngân hàng mất cân đối trong việc thu chi. Khi không thu được nợ thì vòng
quay vốn tín dụng giảm làm ngân hàng kinh doanh không có hiệu quả. Khi gặp phải
RRTD ngân hàng thường rơi vào tình trạng mất khả năng thanh khoản, làm mất lòng
tin người gửi tiền, ảnh hưởng đến uy tín của ngân hàng, bị cấp trên khiển trách. Đối
với cấp dưới, do gặp phải RRTD nên không có tiền trả lương cho nhân viên vì thế
những người có năng lực sẽ thuyên chuyển công tác, gây khó khăn cho ngân hàng.
Nói tóm lại, RRTD của một ngân hàng xảy ra ở mức độ khác nhau: nhẹ
nhất là ngân hàng bị giảm lợi nhuận khi không thu hồi được lãi cho vay, nặng
nhất khi ngân hàng không thu được vốn lãi, nợ thất thu với tỷ lệ cao dẫn đến
ngân hàng bị lỗ và mất vốn. Nếu tình trạng này kéo dài không khắc phục được,
ngân hàng sẽ bị phá sản, gây hậu quả nghiêm trọng cho nền kinh tế nói chung và
hệ thống ngân hàng nói riêng. Chính vì vậy đòi hỏi các nhà quản trị ngân hàng
phải hết sức thận trọng và có những biện pháp thích hợp nhằm giảm thiểu rủi ro
trong cho vay.
1.2.5 Nguyên nhân RRTD
• Khả năng quản lý kinh doanh kém:
Khi các doanh nghiệp vay tiền ngân hàng để mở rộng quy mô kinh doanh, đa
phần là tập trung vốn đầu tư vào tài sản vật chất chứ ít doanh nghiệp nào mạnh dạn đổi
mới cung cách quản lý, đầu tư cho bộ máy giám sát kinh doanh, tài chính, kế toán theo
đúng chuẩn mực.
• Tình hình tài chính doanh nghiệp yếu kém, thiếu minh bạch:
Quy mô tài sản, nguồn vốn nhỏ bé, tỷ lệ nợ so với vốn tự có cao là đặc điểm
chung của hầu hết các doanh nghiệp VN. Ngoài ra, thói quen ghi chép đầy đủ, chính
xác, rõ ràng các sổ sách kế toán vẫn chưa được các doanh nghiệp tuân thủ nghiêm
chỉnh và trung thực. Do vậy, sổ sách kế toán mà các doanh nghiệp cung cấp cho ngân
hàng nhiều khi chỉ mang tính chất hình thức hơn là thực chất. Khi cán bộ ngân hàng
lập các bản phân tích tài chính của doanh nghiệp dựa trên số liệu do các doanh nghiệp
cung cấp, thường thiếu tính thực tế và xác thực.
b) Nguyên nhân từ phía ngân hàng
• Chính sách tín dụng không hợp lý:
20
Sự không hợp lý thể hiện ở chỗ ngân hàng quá đề cao mục tiêu lợi nhuận mà
không chú ý đến mục tiêu an toàn, hiệu quả và lành mạnh. Hay ngân hàng quá quan
tâm về vấn đề lợi nhuận mà đơn giản hóa việc phân tích, đánh giá khách hàng.
• Ngân hàng không có đủ thông tin về các số liệu thống kê, chỉ tiêu để đánh giá
khách hàng dẫn đến xác định sai hiệu quả của phương án xin vay, hoặc xác định
thời hạn cho vay và trả nợ không phù hợp với phương án kinh doanh của khách
hàng
• Lỏng lẻo trong công tác kiểm tra nội bộ các ngân hàng:
Kiểm tra nội bộ có điểm mạnh hơn thanh tra NHNN ở tính thời gian vì nó
nhanh chóng, kịp thời ngay khi vừa phát sinh vấn đề và tính sâu sát của người kiểm tra
viên, do việc kiểm tra được thực hiện thường xuyên cùng với công việc kinh doanh.
Nhưng trong thời gian trước đây, công việc kiểm tra nội bộ của các ngân hàng hầu như
chỉ tồn tại trên hình thức.
• Bố trí cán bộ thiếu đạo đức và trình độ chuyên môn nghiệp vụ: