LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan :
Những nội dung trong báo cáo này là do em thực hiện dưới sự hướng dẫn
của cô giáo :Dương Thị Tuệ.
Những số liệu, tài liệu thu thập và phân tích trong đề tài là hoàn toàn trung
thực, chính xác và chưa hề có trong bất cứ đề tài nào.
Mọi tham khảo dung trong đề tài này đều được trích dẫn rõ rang tên tác giả,
tên công trình, thời gian, địa điểm công bố.
Mọi soa chép không hợp lệ, vi phạm quy chế đào tạo, hay gian trá, em xin
chịu hoàn toàn trách nhiệm.
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT
CP : CỔ PHẦN
KHCN : KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN
RRTD : RỦI RO TÍN DỤNG
NHNN : NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC
NHNNVN : NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
NHTM : NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
NHTMCP : NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN
NHTMNN : NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI NHÀ NƯỚC
TMCP : THƯƠNG MẠI CỔ PHẦNDANH MỤC BẢNG BIỂU
DANH MỤC BẢNG BIỂU
BẢNG
BẢNG
LỜI MỞ ĐẦU
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Ngay từ khi mới thành lập, Ngân hàng thương mại cổ phần Quốc tế Việt
hoạt động tín dụng cá nhân ngày càng mở rông, hiệu quả.
Từ xu hướng chung và sau một thời gian công tác tại phòng Tín dụng khách
hàng cá nhân ngân hàng VIB cá nhân tôi nhận thấy sự cần thiết và tầm quan trọng
của việc quản trị rủi ro tín dụng khách hàng cá nhân vì vậy tôi chọn đề tài: “Quản
trị rủi ro tín dụng khách hàng cá nhân tại ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam”
làm đề tài nghiên cứu cho chuyên đề của mình.
2. Mục đích nghiên cứu
Chuyên đề cho thấy thực tế hoạt động cho vay khách hàng cá nhân tại VIB giai
đoạn từ 2007 đến nay, công tác quản trị rủi ro tín dụng khách hàng cá nhân từ đó tìm ra
những thành tựu và những hạn chế trong công tác quản trị rủi ro, phân tích để tìm ra
các nguyên nhân của hạn chế cũng như những việc chưa làm được để từ đó đề ra các
giải pháp cho công tác quản trị rủi ro tín dụng khách hàng cá nhận tại VIB.
3. Đối tượng nghiên cứu:
Công tác quản trị rủi ro tín dụng khách hàng cá nhân tại VIB
4. Phạm vị nghiên cứu:
Quản trị rủi ro tín dụng khách hàng cá nhân của Ngân hàng TMCP Quốc tế
Việt Nam.
5. Phương pháp nghiên cứu:
Chuyên đề sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, suy luận logic, phân
tích tổng hợp và phương pháp so sánh, thống kê, toán học, phân tích kinh tế….để
nghiên cứu đề tài này.
2
6. Kết cấu chuyên đề :
Chương 1
Chương 1
: Lý luận về quản trị rủi ro tín dụng khách hàng cá nhân của
: Lý luận về quản trị rủi ro tín dụng khách hàng cá nhân củangân hàng thương mại
1.1. Hoạt động tín dụng của NHTM
1.1.1 Khái niệm hoạt động tín dụng
Tín dụng có nguồn gốc từ tiếng La tinh tức là sự tin tưởng, tín nhiệm hoặc
nói khác đi là sử dụng sự tin tưởng hoặc tín nhiệm để thực hiện các quan hệ vay
mượn một lượng giá trị vật chất hoặc tiền tệ trong một thời gian nhất định.
Từ đó quan hệ tín dụng được hiểu là quan hệ chuyển nhượng tạm thời một lượng
giá trị (dưới hình thức tiền tệ hoặc hiện vật) từ người sở hữu sang người sử dụng để
sau một thời gian nhất định thu hồi về một lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban
đầu. Tín dụng biểu hiện ra bên ngoài như là sự vận động đơn phương của giá trị
thuộc hai quá trình ngược chiều nhau trong một thời gian cụ thể.
Tóm lại: Tín dụng được hiểu là quan hệ vay mượn giữa các chủ thể trong nền
kinh tế, trong đó chủ thể này chuyển nhượng cho chủ thể khác quyền sử dụng một
lượng giá trị (có thể dưới hình thức hàng hoá hoặc tiền tệ) với những điều kiện và trong
một thời gian nhất định mà hai bên đã thoả thuận dựa trên nguyên tắc hoàn trả.
Khi Ngân hàng thực hiện vai trò trung gian tín dụng thì tín dụng Ngân hàng
được hiểu dưới hai giác độ sau:
+ Ngân hàng đóng vai trò huy động vốn (người đi vay): Các Ngân hàng
thương mại có khả năng thu hút nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi với những thời hạn
khác nhau của các tổ chức kinh tế và cá nhân trong nền kinh tế như tiền gửi tiết
kiệm, tiền gửi thanh toán với mức lãi suất khác nhau.
+ Ngân hàng đóng vai trò người cho vay: Dựa trên cơ sở vốn huy động được
Ngân hàng thực hiện cho vay đối với các tổ chức kinh tế, cá nhân có nhu cầu sử
dụng vốn để phục vụ nhu cầu sản xuất kinh doanh và tiêu dùng trong nền kinh tế.
4
Tín dụng Ngân hàng vì vậy được hiểu là quan hệ vay mượn vốn lẫn nhau
giữa Ngân hàng và Khách hàng trong nền kinh tế trong một khoảng thời gian nhất
định dựa trên nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi đúng kỳ hạn.
Khách hàng khi vay vốn phải đảm bảo các nguyên tắc:
Sử dụng vốn vay đúng mục đích đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng
Hoàn trả nợ gốc và lãi vốn vay đúng thời hạn đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng.
tín dụng khách hàng doanh nghiệp, tín dụng tổ chức tài chính và tín dụng khách
hàng cá nhân.
Khách hàng doanh nghiệp bao gồm: Doanh nghiệp nhà nước, Hợp tác xã,
Công ty trách nhiệm hữu hạn, Công ty cổ phần, Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài, Công ty hợp danh. Hình thức cho vay đối với khách hàng doanh nghiệp rất
đa dạng như cho vay ngắn hạn theo món, vay theo hạn mức tín dụng dự phòng, cho
vay theo dự án đầu tư, cho vay hợp vốn,…
Khách hàng tổ chức tài chính ở đây bao gồm các ngân hàng khác, hợp tác xã
tín dụng, các công ty bảo hiểm, các công ty tài chính,… Hình thức cho vay đối với
các tổ chức tài chính cũng hết sức đa dạng. Thường cho vay NHTM nhằm đáp ứng
các nhu cầu ngắn hạn của các ngân hàng này và các giao dịch thường diễn ra trên
thị trường tiền tệ liên ngân hàng.
Khách hàng cá nhân ở đây là tất cả các cá nhân có năng lực pháp luật dân sự,
năng lực hành vi dân sự và chịu trách nhiệm dân sự theo qui định của pháp luật. Đối
tượng vay vốn đa dạng bao gồm những khách hàng có nhu cầu vốn để mua nhà, sửa
chữa nhà, xây dựng nhà, mua ô tô, mua các thiết bị gia dụng, thực hiện các phương
án sản xuất kinh doanh và đáp ứng một số yêu cầu khác. Các phương thức vay vốn
đa dạng như: cho vay từng lần, cho vay trả góp, cho vay cầm cố bằng sổ tiết kiệm, cho
vay theo hạn mức,…Thời hạn cho vay linh hoạt tuỳ vào mục đích vay của khách hàng
và kết quả thẩm định của cán bộ tín dụng. Lãi suất cho vay được xác định dựa trên biểu
lãi suất cho vay của ngân hàng, hoặc cũng có thể phụ thuộc vào sự thoả thuận của
khách hàng và ngân hàng. Về tài sản đảm bảo cho khoản vay bao gồm bất động sản
(nhà, đất,…), động sản (hàng hoá, máy móc thiết bị,…), số dư tài khoản tiền gửi, các
chứng chỉ tiền gửi và các giấy tờ có giá khác, tài sản có giá trị khác
6
Nhìn chung tín dụng Ngân hàng đóng vai trò hết sức quan trọng trong nền
kinh tế, nó thúc đẩy quá trình tích tụ, tập trung vốn và phân bổ lại nguồn lực đầu tư
của xã hội vào các lĩnh vực của nền kinh tế một cách có hiệu quả. Tín dụng của một
hệ thống Ngân hàng lành mạnh phản ánh năng lực hấp thụ vốn của nền kinh tế quốc
gia; mức rủi ro thấp của nền kinh tế chính là điều kiện để kêu gọi các dòng vốn từ
xuất là khả năng khách hàng không thực hiện đúng cam kết, khả năng này có thể
xảy ra, có thể không xảy ra; khi rủi ro tín dụng xảy ra, khách hàng thực sự không
thực hiện được cam kết, số tiền mà Ngân hàng không thu hồi được thì được hiểu là
tổn thất Ngân hàng phải gánh chịu. Trong nội dung về quản trị rủi ro, Basel II cũng
đề cập đến khái niệm tổn thất dự kiến (expected loss – EL) và tổn thất ngoài dự kiến
(unexpected loss – UL). Theo đó, tổn thất dự kiến được coi là chi phí hoạt động
kinh doanh của Ngân hàng, nó thường được tính vào giá của khoản tín dụng và
được bù đắp bằng nguồn dự phòng. Tổn thất ngoài dự kiến mới thực sự là rủi ro tín
dụng, cần tính toán cụ thể để dự phòng về vốn tự có.
Trên thực tế, sẽ rất dễ bị nhầm lẫn và hiểu đồng nhất giữa giá trị tổn thất với
khái niệm rủi ro tín dụng. Sự nhầm lẫn này sẽ tác động bất lợi đến hoạt động quản
trị rủi ro tín dụng, trong đó ảnh hưởng lớn nhất đến tính chủ động trong các biện
pháp quản lý rủi ro. Đơn cử, xuất phát từ quan niệm chỉ khi khoản vay phát sinh quá
hạn mới có rủi ro và việc trích lập quĩ dự phòng rủi ro dựa trên cơ sở những khoản
nợ quá hạn, chứ không đánh giá trích lập dự phòng rủi ro tín dụng trên cơ sở mức
độ xác xuất xảy ra nợ quá hạn, sẽ dẫn đến tình trạng: Thứ nhất, những khoản cho
vay mà theo xác xuất thực sự có rủi ro sẽ không được trích lập; Thứ hai, làm mất
tính chủ động trong quản trị rủi ro tín dụng, mức độ đáp ứng của nguồn bù đắp rủi
ro sẽ rất hạn chế, trong những trường hợp có cú sốc thì Ngân hàng sẽ rất khó khăn
trong việc chống đỡ rủi ro; Thứ ba, nó làm cho Ngân hàng không thể hiểu và đánh
giá đúng mức độ rủi ro của mình, mặc dù trên thực tế có những Ngân hàng có nợ
quá hạn rất thấp, nhưng danh mục tín dụng lại rủi ro rất lớn vì tập trung quá nhiều
dư nợ vào nhóm khách hàng hay ngành rủi ro phá sản cao. Đây chính là luận cứ xây
8
dựng chính sách phân loại nợ, chủ động trích lập qũi dự phòng và sử dụng quĩ này
trong quá trình quản trị RRTD.
1.2.2 Các nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng
Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến RRTD, chúng ta có thể phân chia ở
các nhóm nguyên nhân chủ yếu sau:
1.2.2.1 Nguyên nhân bất khả kháng
nội dung trong danh mục tín dụng trở nên tương đối lớn so với mức vốn hoặc tài
sản của Ngân hàng. Rủi ro tập trung tín dụng không chỉ phụ thuộc vào giá trị tín
dụng đã cam kết, mà còn phụ thuộc vào tỷ lệ mất vốn cao khi xảy ra rủi ro.
Rủi ro tập trung tín dụng gồm hai nhóm chính: Rủi ro tập trung tín dụng
thông thường và rủi ro tập trung tín dụng dựa trên các yếu tố rủi ro chung hay tương
quan. Rủi ro tập trung tín dụng thông thường xảy ra khi tín dụng được tập trung
quá nhiều vào một khách hàng, nhóm khách hàng, hoặc ngành/lĩnh vực như
kinh doanh bất động sản, dầu mỏ, khí đốt. Trong khi đó, rủi ro tập trung tín dụng
do sự liên hệ qua lại của các yếu tố rủi ro lại liên quan nhiều đến các yếu tố đặc thù,
mà chỉ có thể phát hiện thông qua phân tích như giữa các thị trường mới nổi, rủi ro
tín dụng và rủi ro thị trường, các rủi ro này với rủi ro thanh khoản. Điển hình cho
loại rủi ro này là cuộc khủng hoảng tài chính ở Châu á năm 1997 và cuộc khủng
hoảng tài chính, kinh tế Mỹ từ cuối năm 2007 đến nay. Trong cuộc khủng hoảng
này, sự liên hệ rủi ro thị trường và rủi ro tín dụng, cũng như giữa rủi ro này với rủi
ro thanh khoản, đã tạo ra các khoản lỗ/mất vốn rộng khắp.
Các vấn đề trong quy trình cấp tín dụng cũng là một nguyên nhân gây ra rủi
ro tín dụng, trong đó chủ yếu liên quan đến quá trình thẩm định và theo dõi tín
dụng. Rất nhiều Ngân hàng thấy rằng rất khó thực hiện một quá trình đánh giá tín
dụng kỹ càng bởi áp lực cạnh tranh trong Ngân hàng ngày càng tăng. Do áp lực này
mà nhiều Ngân hàng có xu hướng dựa vào một số chỉ tiêu đơn giản để cấp tín dụng.
Bên cạnh đó, việc không có hệ thống kiểm định và đánh giá các kỹ thuật tín dụng
mới cũng đã gây ra nhiều rủi ro, cụ thể:
10
- Không theo dõi, giám sát thường xuyên khách hàng hoặc tài sản bảo đảm.
Điều này làm cho Ngân hàng không có cơ sở đưa ra các biện pháp hành động sớm
nhằm ngăn chặn rủi ro.
- Kỹ thuật định giá theo rủi ro kém, tập trung quá nhiều vào điều kiện phi giá
(điều kiện tín dụng như hồ sơ, tài chính, tài sản bảo đảm…). Vấn đề này chủ yếu
ảnh hưởng đến khả năng bù đắp của Ngân hàng trong trường hợp có rủi ro xảy ra.
- Không thận trọng với các thỏa thuận tín dụng có đòn cân nợ cao. Do đó,
nguyên nhân này NHNN đã đặt một số NHTMCP vào tình trạng giám sát đặc biệt,
những vụ án lớn và việc xử lý một khối lượng hàng ngàn tỷ đồng nợ tồn đọng của
các NHTMNN từ năm 2000 về trước đều bắt nguồn từ những khoản cho vay khó
đòi. Cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997 bắt nguồn từ Đông Nam Á đã làm cho
nhiều Ngân hàng ở Châu Á bị mất hàng tỷ đô la Mỹ, bị phá sản, hoặc buộc phải sáp
nhập, trong đó nguyên nhân quan trọng nhất là tỷ lệ nợ quá hạn của các Ngân hàng
tăng cao. Thời điểm trước cuộc khủng hoảng, tỷ lệ nợ quá hạn của các Ngân hàng
Thái Lan là 13%, Indonesia 13%, Phillippines 14%, Malaysia 10%. Gần đây nhất là
cuộc khủng hoảng tài chính kinh tế Mỹ bắt nguồn từ làn sóng cho vay thế chấp nhà
đất rủi ro cao đã minh chứng rất rõ căn nguyên cơ bản tạo ra ở vấn đề của Ngân
hàng là RRTD. Vì vậy, vấn đề quản trị rủi ro tín dụng luôn luôn là vấn đề sống còn
của NHTM.
Một số nguyên nhân chủ yếu làm cho rủi ro trong hoạt động kinh doanh
Ngân hàng ngày càng gia tăng:
Thứ nhất, do quá trình tự do hoá, nới lỏng qui định trong hoạt động Ngân
hàng trên phạm vi toàn thế giới. Trong những thập kỷ gần đây, xu hướng toàn cầu
hoá, tự do hoá kinh tế, đề cao cạnh tranh đã trở thành phổ biến. Khi gia tăng cạnh
tranh cũng đồng nghĩa với rủi ro và phá sản gia tăng. Trong lĩnh vực Ngân hàng,
cạnh tranh làm cho chênh lệch lãi suất biên ngày càng giảm xuống. Tác động này
làm cho các Ngân hàng ngày càng có xu hướng mở rộng qui mô kinh doanh để bù
đắp sự sụt giảm lợi nhuận, trong đó mở rộng qui mô tín dụng đồng nghĩa với việc
RRTD cũng có nguy cơ gia tăng. Bên cạnh đó, qui luật đào thải của cạnh tranh sẽ
12
làm tăng mức độ phá sản của các khách hàng của Ngân hàng kéo theo sự thiệt hại
cho Ngân hàng.
Thứ hai, hoạt động kinh doanh của Ngân hàng ngày càng theo xu hướng đa
năng phức tạp, với công nghệ ngày càng phát triển, cùng với xu hướng hội nhập
cạnh tranh gay gắt vừa tăng thêm mức độ rủi ro và nguy cơ rủi ro mới. Trong lĩnh
vực tín dụng các sản phẩm tín dụng có bước phát triển mạnh mẽ, vượt xa so với sản
phẩm tín dụng truyền thống. Các sản phẩm tín dụng dựa trên cơ sở của sự phát triển
- Lý do RRTD là do đánh giá tín dụng chưa tốt hay do thoái trào kinh doanh
hay do gian lận hay chất lượng tài sản thế chấp kém?
- Ngân hàng có thể thấy RRTD tăng dần trong thời điểm này do cho vay tập
trung không đúng thị trường?
- Ngân hàng có thể đạt được mục tiêu dài hạn về RRTD có thể chấp nhận?
Để đánh giá RRTD tiềm tàng của mỗi khách hàng ngay từ khâu phân tích hồ
sơ xin vay, Ngân hàng thường tiến hành nghiên cứu chi tiết sáu khía cạnh (6 “C”,
chữ cái đầu của tiếng Anh) của hồ sơ xin vay: Tính cách, năng lực, dòng tiền mặt,
tài sản thế chấp, các điều kiện và sự kiểm soát. Tất cả phải thoả mãn các yêu cầu đối
với một khoản cho vay tốt theo quan điểm của người cho vay.
Tính cách (Character). Cán bộ tín dụng phải có được những bằng chứng cho
thấy rằng khách hàng có mục tiêu rõ ràng khi xin vay và có kế hoạch trả nợ nghiêm
túc. Trách nhiệm, tính trung thực, mục đích vay vốn nghiêm túc, kế hoạch trả nợ rõ
ràng là những tiêu chuẩn tạo dựng nên tính cách của khách hàng trong cách nhìn
nhận của cán bộ tín dụng.
Năng lực (Capacity). Cán bộ tín dụng phải chắc chắn rằng khách hàng có đủ
tư cách pháp lý trong việc ký kết hợp đồng vay vốn.Ví dụ, người chưa đủ 18 tuổi là
người chưa thành niên không có đủ tư cách pháp lý để lập một hợp đồng tín dụng.
Tương tự, cán bộ tín dụng phải chắc chắn rằng người đại diện cho công ty để tiến
hành thoả thuận và ký kết hợp đồng tín dụng phải được phê chuẩn bởi cấp có thẩm
quyền theo quy định tại điều lệ Cty, phù hợp với quy định của pháp luật.
14
Dòng tiền mặt (Cash folow). Đây là nội dung có ý nghĩa quan trọng đối với
một yêu cầu xin vay và thường tập trung vào câu hỏi: Liệu người vay có khả năng
tạo ra một dòng tiền mặt đủ lớn để đáp ứng yêu cầu hoàn trả cho ngân hàng món
vay không? Nhìn chung khách hàng vay vốn chỉ có ba nguồn có thể được sử dụng
để hoàn trả khoản vay: (a) Dòng tiền mặt từ doanh thu bán hàng hoặc thu nhập, (b)
dòng tiền từ việc bán tài sản, (c) các nguồn vốn huy động bằng cách phát hành nợ
hay chứng khoán vốn. Bất cứ nguồn nào trong ba nguồn nêu trên đều có thể được
sử dụng để đáp ứng nhu cầu tiền mặt trong việc thanh toán nợ cho ngân hàng. Tuy
Đo lường rủi ro tín dụng là bước tiếp theo sau khi đã phát hiện được nguy cơ rủi
ro. Trên thực tế các bước này khá gần gũi với nhau và thường được gộp chung lại trong
quá trình thực hiện tác nghiệp. Mục đích của các bước này là giúp cho toàn bộ bộ máy
quản trị rủi ro hiểu chính xác và nhất quán nguy cơ rủi ro đã xác định, phân tích rõ
nguyên nhân và quan trọng nhất là lượng hoá mức độ rủi ro có thể xảy ra đối với Ngân
hàng để định giá rủi ro có thể chấp nhận được; trích lập dự phòng rủi ro.
Để duy trì một quá trình quản lý, đo lường và theo dõi tín dụng phù hợp, theo
thông lệ tốt nhất do ủy ban Balse (2000) đề xuất, Ngân hàng phải tuân thủ các
nguyên tắc sau:
Nguyên tắc 1: Ngân hàng cần có hệ thống quản lý liên tục các danh mục đầu
tư có rủi ro tín dụng.
Nguyên tắc 2: Ngân hàng cần có hệ thống theo dõi điều kiện của từng khoản
tín dụng, bao gồm xác định mức độ đủ dự phòng và dự trữ
Nguyên tắc 3: Khuyến khích các Ngân hàng phát triển và sử dụng hệ thống xếp
hạng tín dụng nội bộ trong quản lý rủi ro tín dụng. Hệ thống xếp hạng cần thống nhất
với bản chất, quy mô và mức độ phức tạp của các hoạt động của Ngân hàng.
Nguyên tắc 4: Ngân hàng cần có hệ thống thông tin và các kỹ thuật phân tích
để cho phép lãnh đạo đo lường được rủi ro tín dụng trong mọi hoạt động nội bảng
và ngoại bảng. Hệ thống thông tin quản lý phải cung cấp đầy đủ thông tin về cơ cấu
của danh mục đầu tư tín dụng, bao gồm xác định sự tập trung rủi ro.
16
Nguyên tắc 5: Ngân hàng cần có hệ thống theo dõi cơ cấu và chất lượng của
toàn bộ danh mục đầu tư tín dụng.
Nguyên tắc 6: Ngân hàng cần tính đến những thay đổi tiềm năng trong tương
lai về các điều kiện kinh tế khi đánh giá từng khoản tín dụng và danh mục đầu tư và
phải đánh giá các tài sản có tiềm năng rủi ro tín dụng trong điều kiện căng thẳng.
1.3.2.3 Quản lý, kiểm soát rủi ro tín dụng
Đây là những khâu thể hiện rõ nhất tính chiến lược, cũng như tư tưởng của
Ngân hàng về RRTD. Trước hết, Ngân hàng cần xây dựng được hệ thống các công
cụ hạn chế rủi ro như chính sách thiết lập giới hạn tín dụng, mức uỷ quyền, các tiêu
quốc gia). Giới hạn nhằm kiểm soát tổn thất tín dụng do hàng loạt khách hàng gặp
khó khăn với cùng một lý do, ví dụ lĩnh vực kinh doanh bất động sản với rủi ro lớn
khi thị trường đóng băng, có thể dẫn tới loạt khách hàng vay vốn kinh doanh trong
lĩnh vực này phá sản, không trả được nợ Ngân hàng.
Xây dựng và tuân thủ tiêu chuẩn cấp tín dụng:
Là việc ngân hàng đặt ra các điều kiện về năng lực khách hàng, tài chính,
phương án/dự án…, tuân thủ quy định của NHNN và quy định nội bộ của Ngân
hàng. Theo quy định hiện hành của NHNN, Ngân hàng chỉ xem xét và quyết định
cấp tín dụng khi khách hàng có đủ các điều kiện sau:
+ Có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự và chịu trách nhiệm
dân sự theo quy định của pháp luật.
+ Mục đích sử dụng vốn vay hợp pháp.
+ Có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết.
+ Có dự án đầu tư, phương án kinh doanh khả thi và có hiệu quả.
+Thực hiện các quy định về bảo đảm tiền vay theo đúng quy định của pháp luật.
Để đảm bảo hoạt động theo quá trình cấp tín dụng lành mạnh, theo thông lệ tốt
nhất do ủy ban Balse (2000) đề xuất, Ngân hàng phải tuân thủ các nguyên tắc sau:
Nguyên tắc 1: Các Ngân hàng phải hoạt động trong phạm vi các tiêu chí cấp
tín dụng lành mạnh được xác định cụ thể. Những tiêu chí này cần chỉ rõ thị trường
mục tiêu của Ngân hàng và hiểu biết rõ về bên vay hoặc đối tác, cũng như mục đích
và cơ cấu khoản tín dụng và nguồn hoàn trả.
18
Nguyên tắc 2: Ngân hàng cần xây dựng các hạn mức tín dụng tổng thể ở mức
từng bên vay và đối tác và nhóm các đối tác có liên quan đến nhau để tạo ra các loại
hình rủi ro tín dụng khác nhau theo cách có ý nghĩa và có thể so sánh được trong sổ
sách kế toán Ngân hàng và sổ sách kế toán kinh doanh, nội bảng và ngoại bảng.
Nguyên tắc 3: Các Ngân hàng cần có một quá trình được xây dựng rõ ràng để
phê duyệt các khoản tín dụng mới cũng như sửa đổi, gia hạn và tái tài trợ cho các
khoản tín dụng hiện tại.
Nguyên tắc 4: Việc cấp tín dụng cần được thực hiện trên cơ sở công bằng giữa
Ngân hàng tối thiểu phải đạt 8% tổng tài sản có rủi ro (được xác định bằng cách
nhân số vốn cần thiết cho rủi ro thị trường và tác nghiệp với 12.5, sau đó cộng với
tổng tài sản có rủi ro tín dụng). Trong đó, tổng tài sản có rủi ro tín dụng được tính
toán theo phương pháp tiêu chuẩn hóa hoặc phương pháp tiếp cận dựa trên xếp hạng
nội bộ.
1.3.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới công tác quản trị rủi ro tín dụng của
NHTM
1.3.3.1 Nhân tố chủ quan
Môi trường quản lý rủi ro tín dụng
Môi trường được hiểu là quan điểm, văn hoá, chiến luợc cũng như nguyên
tắc ứng xử về rủi ro tín dụng mà một ngân hàng xây dựng và áp dụng trong toàn hệ
thống của mình. Các yếu tố này tạo một môi trường để mọi bộ phận, cán bộ ngân
hàng triển khai hoạt động quản trị rủi ro tín dụng một cách cụ thể. Môi trường chính
là kim chỉ nan đối với công tác quản trị rủi ro tín dụng. Một môi trường quản lý rủi
ro tín dụng được coi là hợp lý khi đảm bảo được các nguyên tắc sau:
Nguyên tắc 1: Hội đồng quản trị có trách nhiệm phê duyệt định kỳ (ít nhất
hàng năm) xem xét chiến lược về rủi ro tín dụng và các chính sách về rủi ro tín dụng
của Ngân hàng. Chiến lược cần phản ánh mức độ chấp nhận rủi ro của Ngân hàng và
mức sinh lời mà Ngân hàng kỳ vọng đạt được khi gánh chịu các rủi ro này. Chiến
lược rủi ro được xây dựng bởi Hội đồng quản trị, do Ban điều hành thi hành, thực
hiện bởi bộ phận quản lý rủi ro và am hiểu bởi tất cả các cán bộ trong ngân hàng.
20
Nguyên tắc 2: Ban (tổng) giám đốc có trách nhiệm thực hiện chiến lược rủi
ro tín dụng được hội đồng quản trị phê duyệt và phát triển các chính sách và thủ tục
nhằm phát hiện, đo lường và theo dõi và kiểm soát rủi ro tín dụng. Các chính sách
và thủ tục này phải nhằm vào rủi ro tín dụng trong mọi hoạt động của Ngân hàng và
ở mức từng khoản tín dụng cũng như ở mức toàn bộ danh mục đầu tư.
Nguyên tắc 3: Ngân hàng cần phát hiện và quản lý rủi ro tín dụng trong mọi
sản phẩm và hoạt động. Ngân hàng cần bảo đảm rằng các rủi ro của các sản phẩm
và hoạt động mới nằm trong phạm vi các thủ tục quản lý rủi ro và kiểm soát đầy đủ