Nâng cao hiệu quả cho vay khách hàng cá nhân tại Vietinbank – Chi Nhánh Nghệ An - Pdf 26

MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
TÓM TẮT LUẬN VĂN i
2.1. GIỚI THIỆU VỀ NHTMCP CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM - CHI NHÁNH NGHỆ AN 35
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CĐT Chủ đầu tư
CBCNV Cán bộ công nhân viên
CBTD Cán bộ tín dụng
CN Chi nhánh
GCN Giấy chứng nhận
GHTD Giới hạn tín dụng
HĐGV Hợp đồng góp vốn
HĐLD Hợp đồng liên kiết
HĐTD Hợp đồng tín dụng
HĐMB Hợp đồng mua bán
HSC Hội sở chính
KHCN Khách hàng cá nhân
NHCT/Vietinbank NHTMCP Công thương Việt Nam
NHTM Ngân hàng thương mại
NHNN Ngân hàng Nhà nước
NQH Nợ quá hạn
TCTD Tổ chức tín dụng
TMCP Thương mại cổ phần
TSĐB Tài sản đảm bảo
QSDĐ Quyền sử dụng đất
QSHNO Quyền sở hữu nhà ở
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
SƠ ĐỒ
2.1. GIỚI THIỆU VỀ NHTMCP CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM - CHI NHÁNH NGHỆ AN 35
TÓM TĂT LUẬN VĂN

kinh tế.
Trong hoạt động cho vay của NHTM có nhiều cách phân loại như: Phân loại
theo thời gian cho vay, theo mục đích cho vay, …nhưng theo đối tượng cho vay
gồm hai nhóm khách hàng các nhân và khách hàng tổ chức. Từ lý luận về hiệu quả
hoạt động cho vay KHCN của NHTM, sau đó sẽ phân tích thực trạng hiệu quả cho
vay KHCN tại Vietinbank – Chi nhánh Nghệ An và đề ra một số giải pháp để nâng
cao hiệu quả hoạt động cho vay KHCN tại Vietinbank – Chi nhánh Nghệ An
.
.
1.2. Hoạt động cho vay
1.2. Hoạt động cho vay khách hàng cá nhân
của ngân hàng thương mại
của ngân hàng thương mại
1.2.1. Đặc điểm cho vay khách hàng cá nhân: Cho vay KHCN có những đặc điểm
riêng thể hiện sự khác biệt với các loại hình cho vay khác như sau:
Đối tượng cho vay là cá nhân và các hộ gia đình.
Quy mô khoản vay: hầu hết các khoản cho vay KHCN có quy mô nhỏ nhưng
số lượng khoản vay lớn
Mục đích vay: nhằm phục vụ nhu cầu tiêu dùng hoặc sản xuất kinh doanh nhỏ
của cá nhân, hộ gia đình.
Rủi ro đối với cho vay KHCN: cho vay KHCN có mức độ rủi ro lớn và được coi là
tài sản rủi ro nhất trong danh mục tài sản của ngân hàng. Xuất phát từ bản thân khách
hàng vay vốn có thể có sự biến động về tình hình tài chính dẫn đến mất khả năng chi trả
hay khi khách hàng cố tình không chịu trả nợ, hoặc do sự biến động về tình trạng sức
khoẻ, công việc…. Do khoản cho vay KHCN có rủi ro cao nhất nên các ngân hàng
thường yêu cầu phải có tài sản đảm bảo khi vay và yêu cầu người vay phải mua bảo
hiểm thất nghiệp, bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm cho hàng hoá đã mua.
Lãi suất cho vay: do quy mô của các khoản vay thường nhỏ (trừ những khoản
cho vay để mua bất động sản), dẫn đến chi phí để cho vay cao (về thời gian, nhân
lực đi thẩm định, quản lý các khoản cho vay này) đồng thời rủi ro của các khoản

Từ đánh giá hiệu quả trên thấy được những kết quả và những hạn chế trong
cho vay KHCN của NHTM, từ đó sẽ phân tích những nhân tố ảnh hưởng tới hiệu
quả cho vay KHCN của NHTM.
+ Nhóm nhân tố chủ quan từ phía ngân hàng gồm: Chính sách cho vay; năng
lực tài chính và khả năng quản lý của ngân hàng; trình độ chuyên môn của cán bộ
tín dụng ngân hàng; hoạt động quảng bá của ngân hàng; mạng lưới của ngân hàng.
iii
Đây là những nhân tố tác động trực tiếp tới hoạt động cho vay của NHTM nói
chung và cho vay KHCN nói riêng.
Nhóm nhân tố khách quan:
+ Nhóm nhân tố thuộc về khách hàng: Nhu cầu vốn của khách hàng; Khả năng
đáp ứng các điều kiện khi vay của khách hàng; Ngoài ra còn có các yếu tố khác
như: quy mô gia đình, đặc điểm, tính cách của khách hàng, khả năng đáp ứng các
điều kiện vay của khách hàng như tài sản bảo đảm, các giấy tờ về quyền sở hữu
cũng ảnh hưởng đến nhu cầu vay vốn của khách hàng.
+ Nhóm nhân tố thuộc về môi trường hoạt động của ngân hàng: Đây là nhóm
các nhân tố thuộc về môi trường hoạt động của ngân hàng. Môi trường hoạt động
của ngân hàng cũng gây ra các tác động lớn đến mở rộng cho vay đối với khách
hàng nói chung và đối với KHCN nói riêng. Bao gồm: môi trường kinh tế, môi
trường luật pháp, môi trường văn hoá – xã hội, sự phát triển của Khoa học – công
nghệ và đối thủ cạnh tranh.
CHƯƠNG 2, Giới thiệu khái quát về Vietinbank – Chi nhánh Nghệ An và thực
trang cho vay khách hàng cá nhân trong thời gian 2008 – 2010. Từ đánh giá những
kết quả đạt được, những tồn tại và nguyên nhân của tồn tại trong cho vay KHCN tại
Vietinbank – CN Nghệ An
Sau khi giới thiệu một vài nét khái quát về Vietinbank Nghê An về quá trình
hình thành và phát triển, cơ cấu tổ chức và tình hình hoạt động trong những năm
qua, luận văn đi vào xem xét, đánh giá thực trạng.
1. Thực trạng hiệu quả cho vay khách hàng cá nhân tại Vietinbank – Chi
nhánh Nghệ An: Để đánh giá đúng thực trạng cho vay của Vietinbank – Chi

v
2. Hiệu quả cho vay khách hàng cá nhân tại Vietinbank - Chi nhánh
Nghệ An
- Xét về mặt định tính:. Hình ảnh ngân hàng Vietinbank trở nên gần gũi
hơn trong cộng đồng và hỗ trợ các hoạt động khác của ngân hàng ngày phát triển.
- Xét về mặt định lượng:
+ Xét về hiệu quả cho vay: Năm 2008 chỉ thu từ lãi cho vay KHCN hơn 21
tỷ đồng sang năm 2009 thu hơn 35 tỷ đồng tăng hơn 13 tỷ tương đương 166% so với
năm trước và đến năm 2010 con số trên là hơn 55 tỷ đồng , con số tăng và tỷ lệ tăng so
với năm trước lần lượt là 20 tỷ đồng và 157%. Trong khi đó, năm 2008 nợ xấu KHCN
là 545 tỷ trong tổng số 23 tỷ toàn Chi nhánh (Chiếm tỷ lệ 0,61%/tổng dư nợ nhóm
KHCN). Năm 2009 con số này tương ứng là 52 triệu đồng và 302 triệu đồng, đến 2010
con số nợ xấu toàn Vietinbank – Chi nhánh Nghệ An là 0 (không) đồng.
+ Xét về quy mô cho vay KHCN: Chỉ tiêu về dư nợ và số lượng KHCN phục
vụ đều tăng dần qua các năm cả về số tuyệt đối và tương đối: Tăng trưởng dư nợ
cho vay KHCN năm sau so với năm trước hơn 100% và số lượng KHCN năm 2009
tăng 141 khách so với năm 2008 tương đương tăng 21%. Năm 2010 tăng đột biến
so với năm 2009 với 459 khách tương đương tăng 56%.
Với quy mô cho vay tăng mạnh cùng chất lượng cho vay đảm bảo ổn định
bước đầu có thể khẳng định rằng: Hiệu quả cho vay KHCN tại Vietinbank – Chi
nhánh Nghệ An thời gian qua đạt kết quả tốt.
3. Hạn chế: Ngoài những kết quả đạt được trên, việc cho vay KHCN tại
Vietinbank – Chi nhánh Nghệ An trong thời gian qua vẫn chưa tương xứng với tiềm
năng và còn một số hạn chế sau: Tỷ lệ cho vay KHCN trong tổng dư nợ còn thấp;
Cho vay theo các sản phẩm đạt thấp;Số dư nợ bình quân/món vay tương đối cao; Tỷ
lệ dư nợ trong cho vay tiêu dùng ngày càng tăng; Cho vay qua nghiệp vụ phát hành
thẻ tín dụng đạt thấp.
4. Nguyên nhân: Những hạn chế trong việc cho vay KHCN tại
Vietinbank – Chi nhánh Nghệ An trong thời gian qua xuất phát từ những những
nguyên nhân sau:

là định hướng quan trọng trong chiến lược phát triển của Chi nhánh.
vii
1. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả cho vay khách hàng cá nhân
tại Vietinbank - Chi nhánh Nghệ An.
Trong môi trường cạnh tranh gay gắt như hiện nay, các NHTM cổ phần đều
xác định cho vay KHCN là một hướng đi mới, vì thị trường cho vay KHCN là mảng
thị trường lớn nhưng hiện vẫn chưa được khai thác đầy đủ. Vì thế, để nâng cao hiệu
quả cho vay KHCN thì Vietinbank – Chi nhánh Nghệ An cần tập trung một số giải
pháp sau:
1.1. Mở rộng đối tượng khách hàng cá nhân, Việc cho vay tại Vietinbank –
Chi nhánh Nghệ An chỉ mới tập trung các cá nhân tại Thành phố Vinh do hiện tại
mạng lưới chưa phát triển mạnh. Nhưng trong tương lai không xa việc mạng lưới
các Phòng giao dịch sẽ phủ kín tại các huyện đồng bằng trung du thì việc mở rộng
đối tượng cho vay là tất yếu.
1.2. Thiết kế quy trình cho vay cụ thể, So với các NH TMCP khác thì Vietinbank
đang thiếu những mô hình dịch vụ ngân hàng cá nhân cụ thể để chi nhánh triển khai.
Thiết nghĩ nếu có một quy trình cho vay cụ thể, chắc chắn sẽ mở đường cho Chi nhánh
triển khai đồng loạt tất cả các dịch vụ ngân hàng cá nhân và chính thực tiễn nghiệp vụ tất
yếu sẽ hoàn thiện và nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ.
1.3. Nâng cấp cơ sở vật chất, Ngoài việc nâng cấp cơ sở vật chất về mặt ngoại
thất thì cần phải có sự cải tiến nâng cấp về mặt nội thất như: Bố trí lại phòng làm
việc tại các phòng khách hàng, có thêm một phòng chờ dành cho khách hàng với
trang thiết bị hiện đại. Dù đề án nâng cấp đã được HSC Vietinbank phê duyệt
nhưng triển khai còn chậm nên trong phạm vi khả năng của mình Chi nhánh cần nỗ
lực tốt nhất để cải thiện cơ sở vật chất hiện có.
1.4. Sắp xếp bố trí và đào tạo lại cán bộ, Với lịch sử của mình, Vietinbank –
Chi nhánh Nghệ An đã thừa hưởng những mặt tốt đẹp nhất của lịch sử để lại nhưng
cũng mang trong mình những hạn chế do lịch sử, đặc biệt về con người, nếu so về
độ tuổi trung bình thì Vietinbank chỉ đứng sau Ngân hàng NN và Phát triển Nông
thôn. Vì thế khi bước sang giai đoạn phát triển mới một bộ phận rất lớn CBCNV đã

cầu các cơ quan triển khai đề án thanh toán không dùng tiền mặt.
Kiến nghị với Ngân hàng Nhà nước, yêu cầu các ngân hàng thương mại
thực hiện tốt việc cung cấp thông tin tín dụng của cá nhân vay vốn cho Trung tâm
ix
CIC, để các ngân hàng có thể có thông tin đầy đủ về khách hàng, tránh rủi ro tín dụng.
Việc thông tin trên mạng cần được cập nhật thường xuyên, định kỳ. Ngân hàng Nhà
nước cần điều hành chính sách tiền tệ ổn định để ngân hàng huy động lãi suất thấp nhằm
cung cấp cho khách hàng nguồn vốn rẻ. NHNN với vai trò là ngân hàng của các ngân
hàng, là công cụ điều tiết vĩ mô của Nhà nước cần nâng cao hơn nữa hiệu quả phục vụ
của mình, có các việc làm thiết thực giúp các ngân hàng vượt qua hoàn cảnh khó khăn
hiện nay và phát triển hơn nữa hoạt động của mình. Các quy định của NHNN ban hành
phải có tầm nhìn xa, phục vụ cho sự phát triển ổn định của cả nền kinh tế. Tránh trường
hợp liên tục sửa đổi làm khó khăn cho cả ngân hàng và người dân.
Kiến nghị với Vietinbank, Với những chính sách và đường lối phát triển
của mình, Vietinbank đã gặt hái được nhiều thành công trong thời gian qua. Điều đó
thể hiện sự chỉ đạo vĩ mô của Vietinbank là đúng đắn và mang lại hiệu quả cao. Tuy
nhiên, để trở thành ngân hàng bán lẻ hàng đầu Việt Nam thì Vietinbank cần quan
tâm hơn nữa đến cho vay KHCN. Mảng KHCN ngân hàng đã khai tốt và tăng liên
tục trong thời gian qua, nhưng kết quả đạt được còn hạn chế và chưa tương xứng
với tiềm năng của nhóm khách hàng còn rất nhiều này.
Cho vay là hoạt động then chốt và truyền thống của ngân hàng vì vậy nâng
cao hoạt động cho vay KHCN sẽ tác động tích cực giúp ngân hàng phát triển nhanh
và bền vững hơn. Luận văn chỉ phân tích và đưa ra một số giải pháp kiến nghị nhỏ
bé vào việc nâng cao hiệu quả cho vay KHCN của Vietinbank – Chi nhánh Nghệ
An như: Xây dựng chính sách cho vay KHCN, mở rộng đối tượng cho vay, nâng
cấp cơ sở vật chất, sắp xếp bố trí lại lao động, cải tiến cách đánh giá CBTD,…Các
kiến nghị đưa ra với Chính phủ và các Cơ quan Công quyền; NHNN, Với
Vietinbank để giúp cho ngân hàng nâng cao hơn nữa hiệu quả cho vay KHCN nói
riêng và hoạt động kinh doanh của ngân hàng nói chung.
Việc chỉ nghiên cứu trong phạm vi hoạt động của Vietinbank – Chi nhánh

- Nghiên cứu trên giác độ NHTM
4. Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng – chủ nghĩa
duy vật lịch sử, trong quá trình thực hiện luận văn các phương pháp được sử dụng
1
chủ yếu là: Phương pháp thống kê, phương phám phân tích, phương pháp so sánh,
quy nạp, logic, phán đoán, tổng hợp để thực hiện nghiên cứu
5. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, Luận văn được kết cấu gồm 3 chương:
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ HIỆU QUẢ CHO VAY KHÁCH
HÀNG CÁ NHÂN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ CHO VAY KHÁCH HÀNG
CÁ NHÂN TẠI VIETINBANK – CHI NHÁNH NGHỆ AN
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP ĐỂ NÂNG CAO HIỆU QUẢ CHO VAY
KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI VIETINBANK – CHI NHÁNH NGHỆ AN.
2
CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ HIỆU QUẢ CHO VAY KHÁCH
HÀNG CÁ NHÂN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Hoạt động cho vay khách hàng cá nhân của ngân hàng thương mại
1.1.1. Khái quát hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại
1.1.1.1. Hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại.
Ngân hàng là một loại hình tổ chức có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế
nói chung và đối với từng cộng đồng địa phương nói riêng. Các ngân hàng có thể
được định nghĩa qua chức năng hay các dịch vụ mà chúng thực hiện trong nền kinh
tế. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, ngày càng có nhiều các tổ chức tài chính
khác nhau cung cấp các dịch vụ ngân hàng như cho vay, uỷ thác đầu tư, nhận tiền
gửi, ngược lại các ngân hàng thương mại (NHTM) cũng đang mở rộng và đa dạng
hoá các loại hình dịch vụ của mình. Do đó, rất dễ có sự nhầm lẫn giữa loại hình
NHTM và các trung gian tài chính khác. Peter Rose đã định nghĩa về NHTM như

nước phát hành); chứng khoán của các ngân hàng khác, các công ty tài chính (bao
gồm các cổ phiếu và các giấy nợ khác do các ngân hàng, các công ty tài chính phát
hành hoặc chấp nhận thanh toán); chứng khoán của các công ty khác. Ngân hàng
giữ chứng khoán vì chúng mang lại thu nhập cho ngân hàng và có thể bán đi để gia
tăng ngân quỹ khi cần thiết.
Các hoạt động khác bao gồm một số hoạt động như: mua bán ngoại tệ, bảo
quản vật có giá, cung cấp các tài khoản giao dịch và thực hiện thanh toán, quản lý
ngân quỹ, tài trợ các hoạt động của Chính phủ, bảo lãnh, cho thuê thiết bị trung và
dài hạn, cung cấp các dịch vụ uỷ thác và tư vấn, cung cấp dịch vụ môi giới đầu tư
chứng khoán, cung cấp các dịch vụ bảo hiểm, cung cấp các dịch vụ đại lý.
1.1.1.2. Hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại
Như đã trình bày ở trên, cho vay là việc ngân hàng đưa tiền cho khách hàng
vay với cam kết khách hàng phải hoàn trả cả gốc và lãi trong khoảng thời gian xác
định. Để đảm bảo cho NHTM có thể duy trì và phát triển vững chắc, đòi hỏi hoạt
4
động cho vay của NHTM phải an toàn, hiệu quả. Muốn vậy, các khâu của hoạt động
cho vay phải được thực hiện một cách trôi chảy theo những nguyên tắc nhất định để
đảm bảo cho NHTM thu hồi cả gốc và lãi khi hết thời hạn cho vay. Theo điều 3
Quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN thì “Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo
đó đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền vào một mục
đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và
lãi”. Ngân hàng nào hoạt động cũng có hình thức cho vay. Ngân hàng đồng ý giao
tiền cho khách hàng để khách hàng sử dụng tiền vào một mục đích và trong một
thời gian nhất định được thỏa thuận thống nhất trong hợp đồng tín dụng.
Khách hàng muốn vay vốn của bất kỳ NHTM nào cũng phải thõa mãn những
điều kiện pháp luật quy định. Trước hết khách hàng phải có năng lực pháp luật dân
sự, năng lực hành vi dân sự và chịu trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật.
Điều này sẽ giúp ngân hàng sàng lọc được khách hàng tốt cho mình và ngân hàng sẽ
được pháp luật bảo vệ lợi ích khi khách hàng không thực hiện đúng hợp đồng. Mục
đích sử dụng vốn vay của khách hàng phải phù hợp với pháp luật. Tức khách hàng

Thời hạn cho vay và kỳ hạn trả nợ gốc xác định phụ thuộc vào chu kỳ kinh
doanh của doanh nghiệp, nguồn thu trong thời hạn vay. Trong mỗi hợp đồng tín
dụng khách hàng có thể rút vốn vay làm nhiều lần tùy theo tiến độ và nhu cầu vốn
vay thực tế. Khi rút vốn vay, khách hàng phải lập bảng kê thực tế và được ngân
hàng chấp thuận. Ngân hàng có thể chấp nhận một phần hoặc toàn bộ và số tiền giải
ngân sẽ được tính vào tổng dư nợ của các lần rút vốn trước, doanh số nhận nợ
không được vượt quá số tiền khi trong hợp đồng tín dụng. Việc trả nợ phải được
thực hiện theo đúng hợp đồng tín dụng đã thỏa thuận nghĩa là khách hàng phải trả
nợ hết khi đến hạn (dù khoản vay có được nhận nợ làm nhiều lần).
+ Cho vay theo hạn mức: Là phương pháp cho vay mà ngân hàng và khách
hàng xác định một hạn mức tín dụng duy trì trong một thời gian nhất định. Hạn mức
tín dụng là mức dư nợ cho vay tối đa được duy trì trong một thời gian nhất định
không tính tới doanh số cho vay cũng như số lần giải ngân.
Ngân hàng và khách hàng căn cứ vào phương án, kế hoạch sản xuất kinh
doanh, nhu cầu vay vốn của khách hàng, tỷ lệ cho vay tối đa so với tài sản đảm bảo,
khả năng nguồn vốn của ngân hàng để tính toán và thỏa thuận một hạn mức tín
6
dụng duy trì trong thời gian nhất định hoặc theo chu kỳ sản xuất kinh doanh.
Cho vay theo hạn mức tín dụng thường áp dụng đối với khách hàng có nhu
cầu vay vốn – trả nợ thường xuyên, có vòng luân chuyển vốn dưới 12 tháng và có
uy tín với ngân hàng.
Nhu cầu vốn
vay lớn nhất
=
Chi phí sản xuất kinh doanh
cần thiết cho 1 vòng quay VLĐ
- VCSH -
Vốn huy động
khác (nếu có)
Mỗi lần rút tiền vay, khách hàng ký vào khế ước nhận nợ trong đó nêu rõ

+ Cho vay gián tiếp: Phần lớn hoạt động cho vay của ngân hàng là cho vay
trực tiếp. Bên cạnh đó ngân hàng cũng phát triển hình thức cho vay gián tiếp. Đây là
hình thức cho vay thông qua các tổ chức trung gian.
Ngân hàng cho vay thông qua các tổ, hội, đội, nhóm,…như: Hội nông dân, hội
phụ nữ, …các tổ chức này thường liên kết các thành viên theo một mục đích riêng,
song chủ yếu để hỗ trợ nhau, bảo vệ quyền lợi cho mỗi thành viên. Vì vậy, việc phát
triển kinh tế, làm giàu, xóa đói giảm nghèo luôn được các trung gian này quan tâm.
Ngân hàng có thể chuyển một vài khâu của hoạt động cho vay sang các tổ
chức trung gian, như: Phát tiền vay, thu nợ,…Tổ chức trung gian cũng có thể đứng
ra tín chấp cho các thành viên vay hoặc các thành viên trong nhóm đứng ra bảo lãnh
cho một thành viên không đủ điều kiện theo quy định của ngân hàng vay. Để bù đắp
một phần chi phí trung gian, các ngân hàng thường trích ra một phần thu nhập có
được để lại cho trung gian gọi là hoa hồng.
Ngoài ra, ngân hàng có thể cho vay qua nhà bán lẻ, việc cho vay này sẽ hạn
chế người vay sử dụng tiền sai mục đích.
Cho vay gián tiếp thường được áp dụng đối với thị trường có nhiều món vay
nhỏ, người vay phân tán, cách xa ngân hàng. Trong trường hợp như vậy, cho vay
qua trung gian có thể tiết kiệm chi phí.
Cho vay qua trung gian nhằm giảm bớt rủi ro, chi phí cho ngân hàng. Tuy
nhiên, nó cũng bộc lộ nhiều khiếm khuyết. Nhiều trung gian đã lợi dụng vị thế của
mình để tăng lãi suất, chiếm đoạt khoản vay, vay ké, vay hộ,…các nhà bán lẻ cũng
bán hàng có chất lượng kém, giá đắt cho người mua hàng, điều này sẽ làm ảnh
hưởng đến chất lượng khoản vay.
8
- Theo tài sản đảm bảo: Cho vay có tài sản đảm bảo và cho vay không có tài
sản đảm bảo.
Cho vay có tài sản đảm bảo gồm các biện pháp bảo đảm sau: Thế chấp/cầm
cố tài sản của chính khách hàng, thế chấp/cầm cố tài sản của bên thứ 3, bão lãnh
bằng tài sản của bên thứ 3.
Cho vay không có tài sản đảm bào gồm: Cho vay bằng tín chấp của chính

trọng không những đối với ngân hàng, khách hàng mà cả đối với cả nền kinh tế.
- Đối với nền kinh tế: Ngân hàng được ví như mạch máu của nền kinh tế, là
trung gian luân chuyển vốn giữa người thiếu vốn và người có vốn nhàn rỗi. Hoạt
động cho vay sẽ giúp cho nền kinh tế phát triển được nhanh hơn khi nguồn vốn
nhàn rỗi trong dân cư không bị ứ đọng, mà sẽ được sử dụng một cách hiệu quả để
tạo thêm của cải cho nền kinh tế. Với khả năng quản lý tốt và chuyên nghiệp hoạt
động cho vay của ngân hàng sẽ giúp giảm thiểu chi phí và rủi ro trong quá trình
luân chuyển vốn trong nền kinh tế. Ngoài ra, hoạt động cho vay cũng góp phần
nâng cao đời sống người dân thông qua hoạt động cho vay tiêu dùng và tạo điều
kiện thúc đẩy sản xuất kinh doanh diễn ra nhanh chóng và hiệu quả.
- Đối với ngân hàng: Cho vay có vai trò chủ chốt trong hoạt động của ngân
hàng. Trước hết, cho vay mang lại thu nhập chủ yếu cho ngân hàng, đó là việc thu
được lãi và các khoản phí nhất định. Thu nhập từ lãi sẽ bù đắp chi phí huy động
vốn, quản lý và tạo ra lợi nhuận cho ngân hàng. Lãi từ hoạt động cho vay chiếm
khoảng 60% thu nhập cho ngân hàng hàng năm. Hoạt động cho vay cũng phục vụ
tốt cho cho các hoạt động khác của ngân hàng như: Thanh toán quốc tế, kinh doanh
thẻ, mua bán ngoại tệ,… phát triển nhanh và bền vững.
- Đối với khách hàng: Việc vay vốn từ ngân hàng với lãi suất thấp giúp cho
khách hàng dễ dàng thõa mãn các nhu càu trong tiêu dùng và hoạt động sản xuất
kinh doanh của mình. Khách hàng sẽ rất khó có thể thõa mãn nhu cầu về vốn của
mình đúng thời gian và đúng số lượng nếu không có nguồn vốn của ngân hàng. Do
rất khó để có sự phù hợp giữa người cần vốn và người có vốn nhàn rỗi về thời điểm,
thời gian và số lượng. Trong khi đó, khi cần vốn chỉ cần đến ngân hàng vay bất kỳ
lúc nào, với thời hạn và món vay linh hoạt. Hoạt động cho vay của ngân hàng phục
vụ đông đảo đối tượng từ các tập đoàn lớn, công ty, cho đến các hộ gia đình. Khách
hàng có thể vay vốn ngắn – trung – dài hạn với mục đích đa dạng: Bổ sung vốn lưu
10
động, đầu tư dự án, tiêu dùng,…Hoạt động cho vay còn tránh cho khách hàng phải
vay với lãi suất cao và nhiều rủi ro nếu hoạt động vay được tiến hành đơn lẻ giữa
người cần vốn – người có vốn. Ngoài ra, trong quan hệ vay vốn với ngân hàng

nhiều và nhu cầu tiêu dùng rất đa dạng.
Mục đích vay: nhằm phục vụ nhu cầu tiêu dùng hoặc sản xuất kinh doanh nhỏ
của cá nhân, hộ gia đình. Do đó, nhu cầu vay vốn phụ thuộc vào tâm lý khách hàng
và chu kỳ kinh tế của người đi vay. Khi nền kinh tế có sự tăng trưởng cao và ổn
định, KHCN sẽ có thái độ lạc quan hơn về tương lai, họ kỳ vọng sẽ có khoản thu
nhập nhiều hơn trong tương lai và do vậy sẽ thúc đẩy sự chi tiêu cho tiêu dùng hoặc
sản xuất kinh doanh ở hiện tại. Ngược lại, khi nền kinh tế suy thoái người dân
thường có xu hướng giảm tiêu dùng, giảm đầu tư vào sản xuất kinh doanh, thay vào
đó là sẽ tăng cường tiết kiệm và hạn chế vay mượn từ Ngân hàng.
Nhu cầu vay của khách hàng thường kém nhạy cảm với lãi suất, thông thường
người đi vay quan tâm tới số tiền phải thanh toán hơn là lãi suất mà họ phải chịu.
Mức thu nhập và trình độ dân trí là hai nhân tố tác động rất lớn đến nhu cầu vay
của khách hàng.
Rủi ro đối với cho vay KHCN: cho vay KHCN có mức độ rủi ro lớn và được
coi là tài sản rủi ro nhất trong danh mục tài sản của ngân hàng. Xuất phát từ bản
thân khách hàng vay vốn có thể có sự biến động về tình hình tài chính dẫn đến mất
khả năng chi trả hay khi khách hàng cố tình không chịu trả nợ, hoặc do sự biến
động về tình trạng sức khoẻ, công việc… Việc thẩm định khả năng trả nợ của các cá
nhân hoặc hộ gia đình cũng hết sức khó khăn. Ngoài ra, để có được khoản vay có
nhiều khách hàng giấu các thông tin về tình hình sức khoẻ và công việc trong tương
lai của mình nên các ngân hàng dễ gặp phải rủi ro đạo đức khi cho vay. Do khoản
cho vay KHCN có rủi ro cao nhất nên các ngân hàng thường yêu cầu phải có tài sản
đảm bảo khi vay và yêu cầu người vay phải mua bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm
nhân thọ, bảo hiểm cho hàng hoá đã mua.
Lãi suất cho vay: do quy mô của các khoản vay thường nhỏ (trừ những khoản
cho vay để mua bất động sản), dẫn đến chi phí để cho vay (về thời gian, nhân lực đi
thẩm định, quản lý các khoản cho vay này) cao đồng thời rủi ro của các khoản vay
12

Trích đoạn Nhóm hình thức cho vay tiêu dùng ngắn hạn: Nhóm hình thức cho vay tiêu dùng trung dài hạn: Kiến nghị Chính phủ và các Cơ quan Công quyền Nhà nước. Kiến nghị Ngân hàng Nhà nước Kiến nghị Vietinbank
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status