Phân tích vai trò đầu tư với tăng trưởng kinh tế. Liên hệ với thực tiễn Việt Nam - Pdf 26

Bản sơ thảo
Bài tập nhóm Môn Kinh tế
đầu tư I
* * *
Nhóm 5 – Đề tài 1 - Lớp Kinh tế đầu tư I_2
Tên đề tài: Phân tích vai trò đầu tư với tăng trưởng kinh
tế. Liên hệ với thực tiễn Việt Nam
Giáo viên: Phạm Văn Hùng
1
Chương 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƯ TÁC
ĐỘNG ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 4
1.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM 4
1.1.1 Đầu tư 4
1.1.2 Tăng trưởng kinh tế 4
1.2 MỐI QUAN HỆ QUA LẠI GIỮA ĐẦU TƯ VỚI TĂNG TRƯỞNG &
PHÁT TRIỂN KINH TẾ 5
1.2.1 Lý thuyết tăng trưởng kinh tế của trường phái cổ điển: 5
1.2.2 Quan điểm tăng trưởng kinh tế của Marx (1818-1883): 5
1.2.3 Lý thuyết tăng trưởng của trường phái tân cổ điển: 6
1.2.4 Lý thuyết tăng trưởng kinh tế của trường phái Keynes: 6
1.2.5 Lý thuyết tăng trưởng kinh tế của trường phái kinh tế hiện đại: 9
Chương 2. THỰC TRẠNG SỰ TÁC ĐỘNG ĐẦU TƯ ĐẾN TĂNG
TRƯỞNG KINH TẾ Ở VIỆT NAM 10
2.1 Tổng quan nền kinh tế trước thời kì đổi mới (Năm 1986) 10
2.2 Tăng trưởng kinh tế Việt Nam thời kì sau đổi mới 11
2.2.1 Những kết quả đạt được trong tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2001-
2010 11
2.2.2 Đánh giá tác động nguồn vốn đầu tư đến tăng trưởng kinh tế ở
Việt Nam giai đoan 2001-2010 14
2.2.3 Đánh giá tác động đầu tư tới tốc độ tăng trưởng kinh tế: 27
Chương 3. GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG MỐI QUAN HỆ TÁC

WTO, Việt Nam đã chứng tỏ được mình là một điểm thu hút đầu tư hấp dẫn đối với các
nhà đầu tư lớn trên thế giới. Nguồn vốn đầu tư nước ngoài đổ vào Việt Nam tăng lên hết
sức ấn tượng. Nhưng đồng nghĩa với nó là nền kinh tế nước ta đang phải đương đầu với
bài toán lạm phát và thâm hụt cán cân thương mại.
Thực trạng này như một hồi chuông cảnh báo các nhà kinh tế Việt Nam cần
có một cái nhìn tổng quan và đánh giá đúng đắn về mối quan hệ qua lại giữa đầu tư với
tăng trưởng và phát triển, nhằm giải quyết bài toán trên. Nhận thức được tính chất quan
trọng của vấn đề, chúng tôi lựa chọn đề tài: vai tro đầu tư với tăng trưởng và phát triển
kinh tế”, với mục đích làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về tác động của đầu tư
đến TT&PT kinh tế và ngược lại. Trên cơ sở đó đưa ra một số giải pháp nhằm phát huy
tối đa mối quan hệ này để phục vụ cho sự nghiệp phát triển đất nước.
3
Chương 1.NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƯ
TÁC ĐỘNG ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
1.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM
1.1.1 Đầu tư
1.1.1.1 Khái niệm
Có nhiều khái niệm khác nhau về đầu tư, có thể nói rằng đầu tư nói chung là
sự hi sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu
về các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt
các kết quả đó. Như vậy mục tiêu của mọi công cuộc đầu tư là đạt được các kết
quả lớn hơn so với những hi sinh về nguồn lực mà người đầu tư phải gánh chịu
khi tiến hành đầu tư.
Trên góc độ kinh tế học vĩ mô: Đầu tư là hoạt động mua “tư bản hiện vật”
như máy móc, xây dựng nhà xưởng … nhằm thay thế một phần tài sản đã hao
mòn để nâng cao năng lực sản xuất của doanh nghiệp.
Tóm lại Đầu tư là việc sử dụng phối hợp các nguồn lực vào các hoạt động
nào đó nhằm đem lại lợi ích hoặc mục tiêu, mục đích của chủ đầu tư.
1.1.1.2 Phân loại
Có nhiều cách để phân loại đầu tư theo các tiêu chí khác nhau

nhất nhưng chính đất đai mới là giới hạn của tăng trưởng. Khi sản xuất nông
nghiệp ra tăng trên những đất đai màu mỡ hơn giá lương thực thực phẩm sẽ tăng
lên. Do đó tiền lương danh nghĩa của công nhân cũng tăng lên tương ứng, lợi
nhuận của nhà tư bản có xu hướng giảm. Nếu cứ tiếp tục như vậy cho đến khi
lợi nhuận hạ thấp, không thể bù đắp được rủi ro trong kinh doanh làm cho nền
kinh tế trở nên bế tắc.
Đầu tư làm giảm sự giới hạn đó: Ricardo cho rằng muốn hạn chế giới hạn đó
thì chỉ có cách xuất khẩu hàng công nghiệp để mua lương thực rẻ hơn từ nước
ngoài, hoặc phát triển công nghiệp để rồi tác động vào nông nghiệp. Muốn vậy,
chúng ta phải đầu tư sang lĩnh vực công nghiệp để thúc đẩy tăng trưởng ngành
công nghiệp. Điều này thể hiện vai trò của đầu tư trong việc tăng trưởng ngành
nông nghiệp dẫn đến làm giảm sự giới hạn tăng trưởng chung.
Hạn chế của lý thuyết: các nhà kinh tế cổ điển cho rằng thị trường tự do
được một bàn tay vô hình dẫn dắt để gắn lợi ích cá nhân với lợi ích xã hội. Thị
trường với sự linh hoạt của giá cả và tiền công có khả năng tự điều chỉnh những
mất cân đối của nền kinh tế để xác lập những cân đối mới. Như vậy Ricardo
chưa thấy vai trò của chính phủ cũng như các chính sách đầu tư phát triển của
nhà nước. Theo ông chính phủ không có vai trò gì trong tăng trưởng kinh tế
thậm chí hạn chế sự tăng trưởng.
1.2.2 Quan điểm tăng trưởng kinh tế của Marx (1818-1883):
Các yếu tố của quá trình tái sản xuất: Theo ông có bốn yếu tố tác động đến
quá trình tái sản xuất là: đất đai, lao động, vốn và tiến bộ khoa học kỹ thuật. Ông
đặc biệt quan tâm đến vai trò của lao động trong việc tạo ra giá trị thặng dư.
5
Sự cần thiết phải tích lũy tư liệu sản xuất cho tái sản xuất: Theo Mark, giữa
cung và cầu của thị trường luôn có một khoảng cách. Để giải quyết vấn đề này
cần phải có tích lũy sản xuất, tích lũy hàng hóa. Đây cũng là hoạt động đầu tư
hàng tồn trữ. Cũng theo ông, sau khi trải qua giai đoạn khủng hoảng có chu kỳ,
để tiếp tục phát triển, các nhà tư bản phải tiến hành đổi mới tư bản cố định với
quy mô lớn làm cho nền kinh tế tiến đến phục hồi, hưng thịnh. Để đổi mới được

S : Vốn tiết kiệm hay phần tích luỹ trong tổng sản phẩm
ΔP : Phần tăng tổng sản phẩm do đầu tư mang lại
K: Hệ số đảm bảo sự cân bằng của nền kinh tế khi có tăng trưởng
K = I/ΔP
Hệ số k nói lên rằng cần phải đầu tư bao nhiêu đồng để tăng thêm được một
đồng tổng sản phẩm
Đặt s = S/P và p = Δ P/P do I = S
Đẳng thức trên có thể được viết lại dưới dạng khác là:
K = s/p Và p = s/K
Trong đó: S : tỷ trọng của tích luỹ trong tổng sảnphẩm
P : tốc độ tăng trưởng sản phẩm
Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm phụ thuộc vào tỷ trọng tích luỹ trong tổng
sản phẩm (s) và hệ số k.
Hệ số k là chỉ số thể hiện mối quan hệ giữa vốn đầu tư và sự gia tăng tổng
sản phẩm và thường được gọi là chỉ số ICOR hay chỉ số tư bản-đầu ra. Chỉ số
ICOR thấp biểu hiện tình trạng đầu tư nghèo nàn. Chỉ số ICOR quá cao thể hiện
sự lãng phí vốn đầu tư.
Phương trình này có ý nghĩa quan trọng trong công tác xây dựng kế hoạch.
Nếu xác định được chỉ số k thì vấn đề còn lại của công tác xây dựng kế hoạch
đơn giản chỉ là việc hoặc là ấn định tốc độ tăng trưởng để xác định nguồn vốn
đầu tư cần có là bao nhiêu hoặc là từ nguồn vốn đầu tư có thể quy lại việc xác
định tỷ lệ tăng trưởng có thể đạt là bao nhiêu.
Mô hình Harrod–Domar có ý nghĩa quan trọng trong thời kỳ đầu của các giai
đoạn phát triển của bất kỳ một quốc gia nào. Quan điểm chủ yếu của mô hình
này là nhấn mạnh đến vai trò của yếu tố vốn-vốn là vấn đề chủ yếu nhất để tăng
trưởng kinh tế. Các tổ chức tài chính quốc tế như Ngân hàng thế giới, Quỹ tiền
tệ quốc tế… cũng dựa vào mô hình này để nhấn mạnh vai trò của viện trợ trong
việc bù đắp các chênh lệch về vốn và trao đổi ngoại thương.
7
Nhược điểm của mô hình Harrod-Domar:

1
1
1
=

=



=
∆−∆

=


=


=
Trong đó : MPC : khuynh hướng tiêu dùng biên
MPS : khuynh hướng tiết kiệm biên
Nếu MPC càng lớn thì k càng lớn, do đó độ khuyếch đại của sản lượng càng
lớn. sản lượng càng tăng, công ăn việc làm càng gia tăng.
Thực tế, việc gia tăng đầu tư dẫn đến gia tăng cầu về các yếu tố tư liệu sản
xuất (máy móc thiết bị, nguyên vật liêu…) và qui mô lao động. Sự kết hợp hai
yếu tố này làm cho sản xuất phát triển, kết quả là gia tăng sản lượng nền kinh tế.
8
Mô hình số nhân phản ánh mối quan hệ giữa thu nhập với tăng đầu tư. Theo
ông, mỗi sự gia tăng về đầu tư đều kéo theo sự gia tăng về nhu cầu bổ sung công
nhân, nâng cao về tư liệu sản xuất. Do vậy làm tăng tiêu dùng, tăng giá bán

từ khi Cách mạng thành công đến nay, lại mất nhiều năm hàn gắn vết thương
chiến tranh và mất hàng chục năm tìm tòi cơ chế, cùng với những thành tựu về
chính trị, về phát triển xã hội, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu to lớn về
kinh tế, nhất là sau Đổi mới năm 1986.
Trước Cách mạng tháng Tám, kinh tế nước ta là một nền nông nghiệp lạc
hậu. Hầu hết ruộng đất nằm trong tay địa chủ, thực dân; hệ thống đê được hình
thành trong lịch sử, nhưng do không được thường xuyên tu bổ, nên cứ cách vài
ba năm lại vỡ đê một lần; hệ thống thuỷ lợi chỉ bảo đảm nước tưới cho 15% diện
tích canh tác, còn tới 85% phải dựa vào nước trời. Năng suất, sản lượng cây
trồng năm 1944 còn rất thấp.
Các giai đoạn thăng trầm kinh tế
Cách mạng tháng Tám thắng lợi chưa được bao lâu, thì đất nước lại phải trải
qua cuộc kháng chiến 9 năm, nền kinh tế đã bị tàn phá nặng nề; chỉ có nông
nghiệp tăng trưởng chút ít (tổng giá trị sản lượng nông nghiệp năm 1955 so với
năm 1939 tăng 23,9%, bình quân 1 năm tăng 1,3%, sản lựơng lúa chỉ tăng 318
nghìn tấn, đậu tương giảm 3,9 nghìn tấn, chè búp khô giảm 4,4 nghìn tấn, cao su
tăng 4 nghìn tấn, lạc tăng 12,1 nghìn tấn, số lượng trâu tăng 210 nghìn con, bò
tăng 114 nghìn con, lợn tăng 790 nghìn con ).
Còn công nghiệp bị sút giảm mạnh (năm 1955 so với năm 1939, giá trị tổng
sản lượng công nghiệp giảm 60,1%, sản lượng xi măng giảm 14,4%, than giảm
74,4%, muối giảm 33,5%, rượu giảm 65,3% ).
Hoà bình được lập lại, nhưng đất nước lại bị chia cắt làm 2 miền và trải qua
gần 20 năm chiến tranh, mãi đến năm 1976 mới thống nhất. Tuy nhiên, do so
với năm 1955 là năm sau chiến tranh có điểm xuất phát quá thấp, nên năm 1976
một số chỉ tiêu kinh tế vẫn tăng lên so với năm 1955. Giá trị tổng sản lượng
nông nghiệp năm 1976 tăng 96% (tăng 3,3%/ năm). Sản lượng lúa năm 1975
tăng 72,2% (tăng 2,8%/năm).
Một số nông sản khác tăng khá hơn, như lạc, cà phê nhân, chè; riêng đậu
tương không tăng, cao su còn bị giảm. Giá trị tổng sản lượng công nghiệp năm
1976 gấp 20 lần năm 1955 (tăng 15,3%/năm, chủ yếu do tăng từ không đến

2.2.1.1 Tăng trưởng kinh tế đạt tốc độ cao và ổn định trong nhiều năm.
Nếu không kể khoảng thời gian năm 2008 – 2009 do ảnh hưởng đáng kể
của khủng hoảng kinh tế toàn cầu, nhìn chung, chúng ta đã duy trì được tốc độ
tăng trưởng nhanh. Theo số liệu từ Tổng cục Thống kê, tốc độ tăng trưởng trung
bình của giai đoạn 2001 – 2010 là 7,25%. Trong đó, tăng trưởng trung bình giai
đoạn 2001 – 2005 là 7,51% và giai đoạn 2006 – 2010 lại bị tụt lùi, còn 7%. Như
vậy, nếu xét về góc độ quy mô và tốc độ tăng trưởng, Việt Nam đã thành công
trong duy trì tăng trưởng trong dài hạn.
11
Kinh tế Việt Nam tăng trưởng khởi sắc và khá cao từ năm 2001 – 2005
với tỉ lệ tăng trưởng GDP cho năm 2005 là 8.4% sau khi điều chỉnh lạm phát.
Tốc độ tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2007 đạt 8,5%, như vậy đây là
năm thứ ba liên tiếp kinh tế Việt Nam đạt tốc độ tăng trưởng trên 8%.
Hoạt động kinh doanh tại Việt Nam vẫn tiếp tục được cải thiện, tỷ lệ đầu
tư của nền kinh tế đạt 40,4% so với GDP. Sự tăng trưởng đã được thúc đẩy bởi
nhân tố tư nhân, trong đó có 59 nghìn doanh nghiệp được thành lập trong năm
qua, tăng 26% so với năm trước. Vốn đầu cam kết đầu tư trực tiếp nước ngoài
(FDI) tăng gần gấp đôi, lên 20,3 tỷ USD.
Trong khi đó, tính đến năm 2007, vốn hoá thị trường chứng khoán đạt
43% GDP (hai năm trước mới đạt 1,5% GDP). Mức dự trữ ngoại hối đã tăng từ
10 tỷ lên 21,6 tỷ USD, tương đương 30,2 % GDP hay 3,3 tháng nhập khẩu.
Xuất khẩu (không tính dầu thô) tăng 27%, đưa tổng kim ngạch xuất khẩu
đạt 48,5 tỷ USD, đạt hơn 68% GDP.
Việt Nam là nước xuất khẩu gạo đứng hàng thứ hai trên thế giới nhưng trị
giá kinh tế mặt hàng gạo chỉ chiếm 4% trên tổng số xuất khẩu của Việt Nam khi
gộp chung giá trị của các sản phẩm dầu khí vào.
Trong 3 mặt hàng chiến lược chiếm tỉ trọng giá trị cao nhất – ngoài khu vực
dầu khí - gồm có hàng may mặc, giày da, và thuỷ sản với tỉ trọng lần lượt 15%,
9.4% và 8.4%. Ba ngành kỹ nghệ này thu hút hàng triệu lao động của nền kinh
12

ngành dịch vụ có xu hướng gia tăng hơn cả. Tốc độ tăng trưởng nông nghiệp có
xu hướng giảm khá nhiều theo thời gian. Do có sự thay đổi tích cực trong tốc độ
tăng trưởng kinh tế theo ngành, nên cơ cấu ngành kinh tế nước ta có dấu hiệu
chuyển dịch theo xu thế tích cực, trong đó: tủ trọng khu vực công nghiệp tăng
lên, tỷ trọng khu vực nông nghiệp giảm xuống, ngành dịch vụ bắt đầu có dấu
hiệu gia tăng tỷ trọng cả GDP và lao động.
2.2.2 Đánh giá tác động nguồn vốn đầu tư đến tăng trưởng kinh tế ở
Việt Nam giai đoan 2001-2010
Vốn đầu tư là yếu tố vật chất trực tiếp quyết định tốc độ tăng trưởng kinh
tế, phát triển xã hội và bảo vệ, cải thiện môi trường. Nhìn chung, tổng số vốn
đầu tư huy động được tăng dần qua các năm kể từ 2001 cho đến 2010 phù hợp
với sức tăng trưởng khá nhanh của nền kinh tế Việt Nam. Tốc độ tăng của vốn
đầu tư trong giai đoạn này mang dấu hiệu rất khả quan. Cụ thể: năm 2001, tổng
số vốn huy động được chỉ đạt được 170,5 nghìn tỷ đồng, thì đến năm 2009, con
số này là 704,7 nghìn tỷ đồng tức tổng vốn đầu tư tăng gấp 4 lần trong vòng 9
năm và năm 2010 là 830,3 nghìn tỷ đồng , tăng 17,1% so với năm 2009 . Điều
này phản ánh dấu hiệu lạc quan trong lĩnh vực đầu tư (đầu tư phát triển) trong
nền kinh tế Việt Nam.
14
Xét về cơ cấu vốn, nếu như trong các năm 2001 và 2002, vốn đầu tư được chú
trọng đến khu vực kinh tế nhà nước chiếm lần lượt 60% và 57% trên tổng số vốn đầu
tư, thì bắt đầu tư năm 2003 trở đi, cơ cấu vốn đã có sự chuyển dịch. Tức là quan tâm
rót vốn vào 2 khu vực kinh tế còn lại (khu vực ngoài nhà nước, khu vực có vốn đầu
tư nước ngoài) nhưng chưa rõ rệt. Năm 2009, vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện theo
giá thực tế ước tính tăng 15,3% so với năm 2008 và bằng 42,8% GDP. Trong đó, khu
vực nhà nước tăng 40,5%; khu vực ngoài nhà nước tăng 13,9%; khu vực có vốn đầu
tư trực tiếp nước ngoài giảm 5,8%. Trong vốn đầu tư của khu vực nhà nước, vốn từ
ngân sách nhà nước chiếm 21,8% tổng vốn đầu tư cả nước, đạt 106,8% kế hoạch
năm. (bảng 1)
Bảng 1: Vốn đầu tư thực hiện theo giá thực tế phân theo thành phần

a. Nguồn vốn từ khu vực nhà nước
• Vốn từ ngân sách nhà nước
Đây chính là nguồn chi của ngân sách nhà nước cho đầu tư. Thường chiếm
một tỉ trọng nhất định trong toàn bộ khối lượng đầu tư, giữ một vai trò quan
trọng trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia. Thường
được sử dụng cho các dự án kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, quốc phòng, an
ninh, hỗ trợ các dự án đầu tư vào lĩnh vực cần tham gia của nhà nước. Đây là
nguồn cung quan trọng để xây dựng cơ sở kết cấu hạ tầng, hình thành các
doanh nghiệp thuộc các ngành then chốt trên cơ sở đó tạo môi trường và điều
kiện thuận lợi cho sự ra đời và phát triển các doanh nghiệp thuộc mọi thành
phần kinh tế. Nguồn kinh phí trong ngân sách cũng có thể được sử dụng để hỗ
trợ cho sự phát triển của các doanh nghiệp, khi các doanh nghiệp gặp khó khăn
cần sự trợ giúp của nhà nước
Năm 2009, vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước ước đạt 163 nghìn tỷ đồng,
chiếm trên 21,7% tổng vốn đầu tư toàn xã hội; vốn trái phiếu chính phủ ước đạt
48 nghìn tỷ đồng, chiếm tỷ lệ 6,8%; vốn đầu tư từ khu vực dân cư và tư nhân
ước đạt 223,5 nghìn tỷ đồng, chiếm tỷ lệ trên 31,7%. . Còn đối với năm 2010
vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước đạt 141,6 nghìn tỷ đồng , giảm so với năm
2009
• Nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển nhà nước
Vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước là một hình thức quá độ chuyển
từ hình thức cấp phát vốn ngân sách sang hình thức tín dụng đối với các dự án
có khả năng thu hồi vốn trực tiếp. Đây là hình thức cho vay ưu đãi với lãi suất
thấp hơn lãi suất thị trường tín dụng nên nhà nước phải dành ra một phần ngân
sách để trợ cấp bù lãi suất. Có tác dụng giảm chi ngân sách nhà nước và nâng
cao trách nhiệm của người sử dụng vốn. Đồng thời có vai trò đáng kể trong việc
phục vụ công tác quản lí và điều tiết kinh tế vĩ mô. Do mang tính ưu đãi nên nhà
nước chủ động định hướng dòng chảy của nguồn vốn này theo chiến lược quy
hoạch đã vạch sẵn để thực hiện các mục tiêu xã hội như xóa đói giảm nghèo,
giáo dục, y tế …

Đầu tư trong nước là công cụ định
hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế, kích
thích phát triển sản xuất kinh doanh ,trong những năm gần đây thự hiện chủ
trương của Đảng là thực hiện “công nghiệp hóa ,hiện đại hóa đất nước”vì vậy,
Năm Tổng vốn đầu tư
1995 50447
1996 64694
1997 78070
1998 92834
1999 108500
2000 124011
2001 140485
2002 165350
2003 200946
2004 249585
2005 292033
2006 339108
2007 402065
2008 426065
2009 527643
2010 615772
17
vốn đầu tư trong nước cũng có những bước chuyển biến hết sức căn bản và
mạnh mẽ về cơ cấu vốn đầu tư theo lĩnh vực ngành nghề theo hướng tăng nhanh
tỷ trọng vốn dành cho đầu tư phát triển các dự án công nghiệp nặng, công
nghiệp hóa nông nghiệp nông thôn và hiện đại hóa công nghiệp nhẹ, trong đó
chú trọng đến công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản
Nguồn vốn đầu tư phân theo ngành kinh tế giai đoạn2000-2006
(đơn vị:tỉ đồng)
Năm 2000 2002 2003 2004 2005 2006

chãi cho sự tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam
Một trong những vai trò quan trọng của nguồn vốn đầu tư trong nước là ổn
định và cải thiện môi trường kinh tế vĩ mô; tạo tiền đề thu hút nguồn vốn đầu tư
nước ngoài. Điều đó thể hiện rất rõ trong các Dự án phục vụ phát triển cơ sở hạ
tầng của đất nước.Sau hơn 20 năm đổi mới, từ một hệ thống kết cấu hạ tầng yếu
kém cả về số lượng và chất lượng, đến nay kết cấu hạ tầng đã đạt được kết quả
đáng kể trong các lĩnh vực như sau:

- Đường bộ có khoảng
Trong đó: Quốc lộ có khoảng
: 310.000 Km
: 21.000 Km
- Đường sắt : 3.200 Km
- Năng lực thông qua cảng thuỷ nội địa : 96 Triệu tấn
- Năng lực thông qua các cảng biển khoảng : 187 Triệu tấn
- Năng lực thông qua các cảng hàng không
khoảng
: 63 Triệu tấn
- Công suất thiết kế hệ thống cấp nước đô
thị khoảng
:5,5 Triệum
3
/ngày
- Công suất thực tế hệ thống cấp nước đô thị
khoảng
: 4,5 Triệu m
3
/ngày
- Tỷ lệ xử lý chất thải rắn đô thị khoảng : 80%
- Tỷ lệ đáp ứng nhu cầu đi lại hai đô thị đặc

Tổ chức Thương mại Thế giới đưa ra định nghĩa như sau về FDI:
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước
(nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư)
cùng với quyền quản lý tài sản đó. Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI
với các công cụ tài chính khác. Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn
tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh. Trong
những trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay đựoc gọi là "công ty mẹ" và các
tài sản được gọi là "công ty con" hay "chi nhánh công ty
Khu vực FDI tiếp tục khẳng định vai trò của mình trong tiến trình phát
triển kinh tế Việt Nam và trở thành một bộ phận cấu thành rất quan trọng của
nền kinh tế Việt Nam.Cụ thể:
Trong thập niên 80 và đầu thập niên 90, dòng FDI vào Việt Nam còn nhỏ.
Đến năm 1991, ĐTNN đạt được 214 dự án với tổng vốn đăng ký cấp mới 1,6 tỷ
USD trong đó tổng vốn FDI ở Việt Nam mới chỉ là 213 triệu đô-la Mỹ. Tuy
nhiên, con số FDI đăng ký đã tăng mạnh từ 1992 và đạt đỉnh điểm vào 1996 với
tổng vốn đăng ký lên đến 8,6 tỷ đô-la Mỹ. Sự tăng mạnh mẽ của FDI này là do
nhiều nguyên nhân. Các nhà đầu tư nước ngoài bị thu hút bởi tiềm năng của một
nền kinh tế đang trong thời kỳ chuyển đổi với một thị trường phần lớn còn chưa
được khai thác. Thêm vào đó, các nhà đầu tư nước ngoài còn bị hấp dẫn bởi
hàng loại các yếu tố tích cực khác như lực lượng lao động dồi dào, giá nhân
công rẻ và tỷ lệ biết chữ cao. Bên cạnh những yếu tố bên trong còn có các yếu tố
bên ngoài đóng góp vào việc gia tăng của FDI. Thứ nhất là làn sóng vốn chảy
dồn về các thị trường mới nổi trong những năm 80 và đầu những năm 90. Trong
các thị trường này, Đông Nam Á là một điểm chính nhận FDI. Năm 1990, các
nước Đông Nam Á thu hút 36% tổng dòng FDI đến các nước đang phát triển.
20
Thứ hai là dòng vốn nước ngoài vào các nền kinh tế quá độ khối xã hội chủ
nghĩa trước đây, nơi mà họ cho rằng đang có các cơ hội kinh doanh mới và thu
lợi nhuận. Thứ ba, là các nước mạnh trong vùng (cụ thể là Mã-lai-xi-a, Xin-ga-
po, Thái-lan,…) đã bắt đầu xuất khẩu vốn. Là một nền kinh tế đang trong thời

- Giai đọan 2006-2007: Là giai đoạn đặc biệt. Dòng vốn ĐTNN tăng rất
nhanh. Năm 2006, ĐTNN đạt 10,2 tỷ tăng 75,4% so với năm 2005.
- Tính đến cuối năm 2007, có hơn 8.590 dự án ĐTNN còn hiệu lực hoạt
động tại VN với tổng vốn đầu tư đăng ký đạt khỏang 83,1 tỷ USD. Năm 2007
đạt mức kỷ lục trong 20 năm qua với 20,3 tỷ USD tăng gấp đôi so với năm
2006. Đây được xem là làn sóng ĐTNN lớn thứ 2 đổ vào VN từ trước đến nay.
- Năm 2008 tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký của cả nước năm 2008
đạt 64,011 tỉ USD, tăng 199,9% so với năm trước, cao nhất từ trước đến nay.
Tổng số dự án được cấp mới của cả năm là 1.171 dự án. Vốn giải ngân đạt 11,5
tỉ USD, tăng 43,2% so với năm trước. Lĩnh vực công nghiệp và xây dựng thu
hút 572 dự án với 32,6 tỉ USD, dịch vụ có 554 dự án với tổng vốn đăng ký 27,4
tỉ USD, số dự án và vốn đầu tư vào lĩnh vực nông - lâm - ngư rất nhỏ. Malaysia
trở thành nhà đầu tư đứng đầu tại VN với 55 dự án, vốn đăng ký 14,9 tỉ USD.
Giá trị xuất khẩu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt gần 24,5 tỉ
USD, chiếm khoảng 40% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước, đây cũng là khu
vực có kim ngạch nhập khẩu rất lớn (28,5 tỉ USD). Đây là kết quả đáng khích lệ
đối với các nhà hoạch định chính sách FDI, là thành quả của Chính phủ trong nỗ
lực chỉ đạo, điều hành, của các cơ quan quản lý hoạt động FDI từ Trung ương
đến địa phương trong việc tạo môi trường đầu tư - kinh doanh hấp dẫn, cởi mở,
minh bạch và thông thoáng, phù hợp với cam kết quốc tế về giảm thiểu các khó
khăn, vướng mắc cho nhà đầu tư. Bên cạnh đó còn là sự tích cực, chủ động
trong thu hút và quản lý FDI bằng nhiều biện pháp theo hướng đơn giản thủ tục
hành chính, hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi cho các dự án đầu tư đã được cấp
phép nhanh chóng đi vào hoạt động kinh doanh hiệu quả, phát huy tính tự chủ
và tự chịu trách nhiệm của doanh nghiệp
Tuy chỉ bằng 30% năm 2008, nhưng FDI vào Việt Nam năm 2009 đạt con
số 21,48 tỷ USD cũng vẫn là kết quả khả quan. Mặc dù khủng hoảng kinh tế
toàn cầu, song Việt Nam đã vượt mục tiêu thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài trong năm nay, theo kế hoạch ban đầu chỉ là 20 tỷ USD.
Cả nước có 839 dự án mới được cấp giấy chứng nhận đầu tư với tổng vốn

5 Khai khoáng 6 397,0 0 0,0 397,0
6 Nghệ thuật và giải trí 12 291,8 0 0,0 291,8
7
Bán buôn,bán lẻ;sửa
chữa
115 191,7 14 46,5 238,2
8 Vận tải kho bãi 26 109,8 5 74,8 184,6
9
SX,pp
điện,khí,nước,đ.hòa
16 129,0 1 27,9 156,9
10
HĐ chuyên môn,
KHCN
148 89,0 7 10,9 99,9
11
Thông tin và truyền
thông
63 67,6 17 25,5 93,1
12
Nông,lâm nghiệp;thủy
sản
16 62,4 8 22,5 84,9
13 Giáo dục và đào tạo 8 5,2 3 23,7 28,9
14 Dịch vụ khác 22 14,9 5 7,9 22,7
15
Cấp nước;xử lý chất
thải
5 8,4 0 0,0 8,4
16 Y tế và trợ giúp XH 6 7,4 1 0,9 8,3

thêm
(triệu
Vốn đăng ký
cấp mới và
tăng thêm
(triệu USD)
23
USD) vốn USD)
1 KD bất động sản 27 6.710,6 6 132,1 6.842,7
2 CN chế biến,chế
tạo
385 4.032,2 199 1.048,9 5.081,2
3 SX,phân phối
điện,khí,nước,điều
hòa
6 2.942,9 2 9,8 2.952,6
Nguồn: Cục Đầu tư trực tiếp nước ngoài, Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Tỷ trọng vốn FDI thực hiện trong tổng vốn đầu tư phát triển (%). Nguồn:
Tổng cục Thống kê
Đánh giá tác động nguồn vốn nước ngoài đối với tăng trưởng kinh tế ở
Việt Nam
*Về mặt kinh tế:
-ĐTNN là nguồn vốn bổ sung quan trọng cho vốn đầu tư đáp ứng nhu
cầu đầu tư phát triển xã hội và tăng trưởng kinh tế: Đóng góp của ĐTNN
trong tổng vốn đầu tư xã hội có biến động lớn, từ tỷ trọng chiếm 13,1% vào
năm 1990 đã tăng lên mức 32,3% trong năm 1995. Tỷ lệ này đã giảm dần trong
giai đoạn 1996-2000, do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính khu vực (năm
2000 chiếm 18,6%) và trong 5 năm 2001-2005 chiếm khoảng 16% tổng vốn
đầu tư xã hội; hai năm 2006-2007 chiếm khoảng 16% (Theo Niên giám Thống
kê cơ cấu vốn đầu tư thực hiện của khu vực ĐTNN năm 2003 là 16%, năm

- Tác động lan tỏa của ĐTNN đến các thành phần kinh tế khác trong
nền kinh tế:
Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp ĐTNN được nâng cao qua số lượng
các doanh nghiệp tăng vốn đầu tư, mở rộng quy mô sản xuất. Đồng thời, có tác
động lan tỏa đến các thành phần khác của nền kinh tế thông qua sự liên kết giữa
25

Trích đoạn Đầu tư phát triển nguồn nhân lực nhằm nâng cao năng suất lao Đổi mới công tác quản lý, kiểm tra, giám sát trong lĩnh vực đầu tư
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status