TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HỒ CHÍ MINH
KHOA : TÂM LÝ GIÁO DỤC
HỌC PHẦN: TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC
ĐỀ TÀI:
NHẬN XÉT VIỆC VẬN DỤNG
PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
( PHIM GIỜ DẠY )
GVHD: Ts. Ngô Đình Qua
Nhóm thực hiện: 1. Võ Nguyên Anh
2. Vũ Thị Chinh
3. Trương Thị Hằng
4. Võ Ngọc Kim Sơn
5. Trần Lê Tường Vy
Lớp: Tâm lý Giáo dục 3.
Tp. Hồ Chí Minh, ngày 20, tháng 12, năm 2012.
I. KHÁI QUÁT
Các phương pháp dạy học được giáo viên sử dụng trong tiết học Hóa học:
Trang 1
1. Phương pháp làm việc với sách giáo khoa và tài liệu tham khảo
2. Phương pháp giảng giải
3. Phương pháp vấn đáp
4. Phương pháp thực hành thí nghiệm
5. Phương pháp dạy học trực quan
6. Phương pháp ôn tập
II. KHÁI NIỆM
II.1. Khái niệm phương pháp dạy học
• Phương pháp là cách thức, con đường hoạt động nhằm đạt mục đích đã định.
• Phương pháp dạy học là cách thức hoạt động phối hợp thống nhất giữa giáo viên và học
sinh, trong đó GV giữ vai trò chủ đạo, HS tự giác, tích cực, độc lập tiến hành hoạt động
Là phương pháp thuyết trình bằng cách sử dụng những luận cứ, số liệu để giải thích và
chứng minh một hiện tượng, sự kiện , định luật, định lý…
Giảng giải chứa đựng những yếu tố suy đoán, suy lí nên có nhiều khả năng phát triển tư
duy logic của học sinh.
Ưu điểm:
• Cho phép trình bày nội dung lý thuyết tương đối khó, phức tạp và chứa đựng nhiều
thông tin mà học sinh không tự tìm hiểu được.
• Cho phép trình bày mô hình mẫu của tư duy logic, của cách trình bày và lí giải một
vấn đề khoa học, mô hình dùng ngôn ngữ để diễn đạt vấn đề khoa học.
• Hình thành tư tưởng và tình cảm tốt đẹp, niềm tin và hoài bão qua ngôn ngữ và nhân
cách của giáo viên.
• Tạo điều kiện phát triển năng lực chú ý, năng lực tư duy bằng khái niệm ở học sinh.
• Tính kinh tế cao.
Nhược điểm:
• Dễ làm người học thụ động, mệt mỏi vì tính đơn điệu.
• Ít phát triển tư duy độc lập, sáng tạo và kĩ năng.
• Thông tin ngược không được đảm bảo tốt.
II.2.3 Phương pháp vấn đáp.
Phương pháp vấn đáp là phương pháp giáo viên khéo léo đặt hệ thống câu hỏi để học sinh
trả lời nhằm gợi mở cho họ sáng tỏ những vấn đề mới; tự khai phá những tri thức mới
Trang 3
bằng sự tái hiện những tài liệu đã học hoặc từ những kinh nghiệm đã tích luỹ được trong
cuộc sống, nhằm giúp học sinh củng cố, mở rộng, đào sâu, tổng kết, hệ thống hoá những
tri thức đã tiếp thu được và nhằm mục đích kiểm tra, đánh giá và giúp học sinh tự kiểm tra,
tự đánh giá việc lĩnh hội tri thức.
Ưu điểm :
• Kích thích tính tích cực hoạt động nhận thức của học sinh.
• Bồi dưỡng cho học sinh năng lực diễn đạt bằng lời những vấn đề khoa học một cách
chính xác, đầy đủ và súc tích.
• Giáo viên thu tín hiệu ngược từ học sinh nhanh, kịp thời điều chỉnh hoạt động dạy và
Nhược điểm:
+ Có thể cả lớp cùng lúc không thể quan sát hết thí nghiệm.
II.2.5 Phương pháp dạy học trực quan
Là phương pháp sử dụng những phương tiện trực quan , phương tiện kĩ thuật dạy học để
hình thành, củng cố, hệ thống hóa và kiểm tra tri thức , kĩ năng, kĩ xảo ở học sinh.
Ở đây, giáo viên đã sử dụng phương pháp trình bày trực quan : là cách thức giáo
viên trình bày nội dung bài học dựa trên các phương tiện trực quan khác nhau tùy mục
đích, yêu cầu, nội dung bài học .
Phương pháp này thường được thể hiện dưới hai hình thức là minh họa ( bản mẫu, bản đồ,
tranh ảnh, chân dung, hình vẽ,…) và trình bày ( thí nghiệm, thiết bị kĩ thuật, chiếu phim
đèn chiếu,…)
Ưu điểm:
- Giúp học sinh có thông tin sâu sắc và đầy đủ về đối tượng hoặc hiện tượng nghiên cứu
trên cơ sở huy động nhiều giác quan tham gia vào quá trình tri giác đối tượng nhận
thức , từ đó, phát triển tư duy trừu tượng, hình thành khái niệm về đối tượng.
- Làm thỏa mãn và phát triển hứng thú của người học.
Trang 5
- Làm cho tài liệu học tập vừa sức hơn đối với học sinh bằng tính trực quan thông qua
những phương tiện dạy học.
- Tăng cường lao động của người học và bằng cách đó nâng cao nhịp điệu nghiên cứu tài
liệu học tập.
Nhược điểm: Nếu lạm dụng sẽ làm cho học sinh phân tán sự chú ý, thiếu tập trung vào
các dấu hiệu bản chất, hạn chế phát triển tư duy trừu tượng…
II.2.6 Phương pháp ôn tập
Là phương pháp dạy học giúp học sinh mở rộng, đào sâu, khái quát hóa, hệ thống hóa tri
thức đã học, kĩ năng, kĩ xảo đã được hình thành, phát triển trí nhớ, tư duy và qua đó điều
chỉnh những sai lầm trong nhận thức của họ.
Hình thức ôn tập : Ôn ngay sau khi lĩnh hội tri thức, kĩ năng, kĩ xảo : hình thức này
thường diễn ra thường ngày, sau khi lĩnh hội nội dung bài học nhằm củng cố sơ bộ tri thức,
kĩ năng, kĩ xảo.
Cũng trong phần “tính chất hóa học” – phần “ tác dụng với 1 số oxit bazo”, cũng với trình
tự trên thí nghiệm – vấn đáp – giảng giải, giáo viên nói: “như vậy tính chất thứ 2 của nước
sẽ là nước tác dụng với oxit bazo sinh bazo nhưng trong tính chất này thì nước chỉ tác dụng
được với 1 số oxit bazo như natri oxit, kali oxit nhưng không tác dụng được với các oxit của
kim loại hoạt động hóa học bình thường và yếu như FeO, …”
Cũng trong phần này, giáo viên lưu ý: “quan thí nghiệm 1, chúng ta cũng thấy dung dịch
NaOH làm đổi quỳ tím thành xanh, ở thí nghiệm 2 dung dịch canxi hidroxit cũng đổi màu
quỳ tím thành xanh vậy dung dịch bazo có tính chất làm đổi màu quỳ tím thành xanh”
Phần thứ 3 của phần “tính chất hóa học” là phần “tác dụng với oxit axit”, giáo viên giảng
giải: “chất làm đổi màu quỳ tím thành đỏ chính là axit, và axit này là H
3
PO
4
gọi là axit
Trang 7
photphoric”, “Tương tự như dung dịch bazo, dung dịch axit cũng có tác dụng làm đổi màu
quỳ tím nhưng là đổi thành mà đỏ, như vậy tính chất tiếp theo của dung dịch axit chính là
đổi màu quỳ tím thành đỏ”
Ngoài ra, còn có những phần giảng giải ngắn trong phần bài tập củng cố và vai trò của
nước.
Đánh giá:
Giáo viên sử dụng hợp lý phương pháp giảng giải, sử dụng trong thời gian và nội dung thích
hợp: khi những phần trước đã sử dụng phương pháp thí nghiệm, vấn đáp thì phần sau sử
dụng phương pháp giảng giải, phù hợp với phần kiến thức mới mà học sinh chưa thể tự hiểu
nếu chỉ làm thí nghiệm và đọc sách giáo khoa.
Phương pháp này không được sử dụng quá nhiều trong bài giảng (ít lần thực hiện và thời
lượng không nhiều) để hạn chế tối đa những yếu điểm đã nêu trên.
III.3 Phương pháp vấn đáp
Quy trình:
Ở mỗi thí nghiệm: sau khi học sinh báo cáo kết quả thí nghiệm Giáo viên tổng kết Đặt
tìm kiếm câu trả lời.
III.4 Phương pháp thực hành thí nghiệm
Quy trình :
Trang 9
+ Giáo viên làm mẫu thí nghiệm trước dựa vào bảng quy trình thao tác thí nghiệm: có các
thí nghiệm giữa đồng kim loại, natri, thí nghiệm với giấy quỳ tím, hơ trên tấm kính với ngọn
lửa đèn cồn, canxi oxit, điphotphobentaoxit )
+ Sau khi giáo viên làm mẫu xong thì học sinh tiến hành thí nghiệm và quan sát phản ứng.
Ví dụ: nước tác dụng với đồng thì không xảy ra phản ứng, natri tác dụng với nước thì sẽ hòa
tan hết vào nước và sủi bọt, P2O5 tan hết có hơi nước bốc lên làm quỳ tím đổi thành màu
đỏ
+ Giáo viên tổng kết rút ra kết luận. Ví dụ: đồng kim loại không phản ứng với nước; natri
tác dụng với nước thì xảy ra hiện tượng sủi bọt( H2), làm quỳ tím đổi thành màu xanh, cô
cạn thì thu được chất rắn trắng( NaOH), CaO tan trong nước và làm quỳ tím đổi thành màu
xanh, …
+ Giáo viên gọi học sinh lên bảng viết lại phương trình phản ứng dực trên thí nghiệm vừa
làm. Ví dụ: 2H2O + Na 2NaOH + H2, CaO + H2O Ca(OH)2, dung dịch bazo làm quỳ
tím đổi thành màu xanh
Nhận xét:
Nội dung thí nghiệm phù hợp với chủ đề bài bài học ( Bài học : Nước Thí nghiệm :
các phản ứng của nước với kim loại, nước với oxit bazơ, nước với oxit axit )
Có sự kết hợp lời nói với thí nghiệm biểu diễn.
Thí nghiệm đơn giản, vừa sức với học sinh : học sinh trong lớp sau khi nghe và quan sát
cô giáo làm thí nghiệm thì đều có thể biết cách sử dụng các dụng cụ thí nghiệm ( ống thí
nghiệm, kẹp, đèn dầu, các loại hóa chất,…) để tiến hành thí nghiệm.
Có sự kết hợp thực hành thí nghiệm với hình thức học tập theo nhóm thống nhất ( chia
thành các nhóm thực hành thí nghiệm – tất cả các nhóm đều thực hiện những nhiệm vụ học
tập như nhau.)
III.5 Phương pháp trình bày trực quan
Hình thức thể hiện:
Quy trình ôn tập của giáo viên : Phần cuối từ phút 39 đến 42.
- Giáo viên đưa ra câu hỏi: “ Chúng ta đã nghiên cứu xong một số tính chất hoá học
và vai trò của nước, em nào có thể nhắc lại cho cô tính chất hoá học của nước?”
- Học sinh: Em thưa cô, các tính chất hoá học của nước là tác dụng với một số kim loại
mạnh như là Natri, Kali, Bari ở điều kiện thường, tác dụng với một số ôxit bazơ để
tạo ra bazơ, tác dụng với nhiều ôxit axit tạo ra axit.
Ôn tập ngay sau khi lĩnh hội tri thức, kỹ năng kỹ sảo: hình thức ôn tập này thường
diễn ra thường ngày, sau khi lĩnh hội nội dung bài học nhằm củng cố sơ bộ tri thức,
kỹ năng, kỹ sảo.
Trang
11
Giáo viên hướng dẫn các em từ kiến thức học sinh vừa nhắc lại để tiến hành làm bài
tập:
Bài tập 1: Đánh dấu vào các chất phản ứng với nước tạo ra dung dịch bazơ? Ai xung
phong đứng dậy cho cô biết?
Học sinh: Thưa cồ là Natri, Canxi oxít.
Giáo viên: Em nào có thể viết cho cô phương trình phản ứng?
Học sinh: Viết phương trình phản ứng lên bảng.
Giáo viên mời các học sinh nhận xét bài của học sinh vừa thực hiện trên bảng, rồi giáo
viên giải thích phương trình phản. Nhắc lại tính chất của nước một lần nữa.
Bài tập 2: Tương tự bài tập 1, học sinh lên bảng tiến hành viết phản ứng, giáo viên mời
cả lớp nhận xét, giáo viên hỗ trợ học sinh sửa sai và giải thích cho các em, cũng như là
nhắc lại cho các em kiến thức liên quan:
“Như vậy qua bài tập này, cô muốn nhắc các em rằng: Khi xét một phản ứng biết đúng
hay sai, các em phải xét xem các chất tham gia phản ứng có đúng hay không, tiếp theo
chúng ta phải xét xem các công thức hoá học đúng không và các phản ứng hoá học đã
cân bằng đúng hay chưa….”
Nhận xét :
Giáo viên sử dụng đúng, thành thạo, hợp lý phương pháp này, không những giúp
cho các em củng cố kiến thức qua việc nhắc lại của giáo viên mà cón cho các học
quan.
Tích cực tham
gia.
Hoàn thành tốt
nhiệm vụ.
TỐT
3 Trần Thị Hằng - Nhận xét phương
pháp thực hành thí
nghiệm.
- Đóng góp vào
soạn phần KHÁI
NIỆM.
Tích cực tham
gia.
Hoàn thành tốt
nhiệm vụ.
TỐT
4 Võ Ngọc Kim Sơn - Nhận xét phương
pháp ôn tập.
- Đóng góp vào
phần KHÁI
NIỆM.
Có tham gia
Hoàn thành
nhiệm vụ.
TỐT
5 Trần Lê Tường Vy - Nhận xét phương
pháp giảng giải +
phương pháp làm
việc với SGK và