Website: Email : Tel (: 0918.775.368
LỜI NÓI ĐẦU
Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp phải sống trong một môi
trường đầy biến động: sự biến đổi nhanh chóng về khoa học kỹ thuật, những đạo
luật mới, những chính sách mới mà nhà nước ban bố và điều chỉnh không
ngừng, sự biến đổi trong mức thu nhập của nhân dân, tập quán tiêu dùng cũng
có những biến đổi lớn và thường xuyên. Thêm vào đó là sự cạnh tranh giữa các
doanh nghiệp trong cuộc chạy đua về chất lượng, giá cả và thời gian ngày càng
quyết liệt, phương pháp cạnh tranh và những tiêu chuẩn cạnh tranh cũng thay
đổi không ngừng... tất cả điều đó đã làm cho chiến lược kinh doanh trở nên cấp
thiết và không thể thiếu đối với tất cả các doanh nghiệp.
Công ty Dệt May Hà Nội là một trong số những công ty lớn của ngành Dệt
may Việt Nam. Song trong thực tế hoạt động kinh doanh sản phẩm dệt kim của
công ty tại thị trường nội địa đang gặp phải nhiều khó khăn. Một phần do thị
trường nội địa không được công ty quan tâm và đầu tư đúng mức. Phần khác do
công ty chưa chú trọng tới việc định vị sản phẩm tại các khúc thị trường khác
nhau để tập chung được các nỗ lực cũng như những chiến lược thích hợp cho
từng khúc thị trường. Chính điều này đã làm cho công ty yếu khả năng cạnh
tranh và đánh mất thị phần vào tay đối thủ cạnh tranh
Xuất phát từ thực tế này, sau khi thực tập tốt nghiệp tại công ty Dệt May
Hà Nội - Hanosimex thời gian vừa qua, kết hợp với việc phân tích đánh giá thực
trạng hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty và các kiến thức đã được học
taị trường. Em đã quyết định lựa chọn đề tài: "Ứng dụng marketing trong hoàn
thiện chiến lược sản phẩm-thị trường cho sản phẩm dệt kim của công ty
Hanosimex" làm đồ án tốt nghiệp.
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU CHUNG VÀ ĐẶT VẤN ĐỀ NGHIÊN
CỨU
1.1. Giới thiệu khái quát về công ty Hanosimex
1.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của công ty
• Các loại khăn bông, mũ thời trang...
Công ty luôn duy trì và phát triển sản xuất, gia công, trao đổi hàng hoá,
sẵn sàng hợp tác cùng các bạn hàng trong và ngoài nước để đầu tư thiết bị hiện
đại, khoa học công nghệ mới nhằm nâng cao năng lực sản xuất và chất lượng
sản phẩm.
1.1.2.2. Nhiệm vụ
- Thực hiện nghĩa vụ đối với nhà nước, chăm lo đời sống vật chất tinh
thần cho người lao động.
- Tìm hiểu thị trường, xác định các mặt hàng thị trường có nhu cầu, tổ
chức sản xuất theo nhu cầu đặt hàng của khách hàng.
- Phấn đấu nâng cao chất lượng, hạ giá thành sản phẩm, giảm chi phí sản
xuất bằng mọi biện pháp có thể.
- Khai thác và mở rộng thị trường hiện có, xây dựng thị trường mới cả
trong và ngoài nước.
- Chú trọng và phát triển mặt hàng xuất khẩu, qua đó mở rộng sản xuất,
tạo công ăn việc làm cho cán bộ công nhân viên của công ty.
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
1.1.3. Công nghệ sản xuất một số sản phẩm của công ty
Hình 1.1: Sơ đồ quy trình công nghệ sản xuất sợi và sản phẩm dệt kim
Sợi xe thành
phẩm
Sợi đơn thành
phẩm
Bông + Xơ PE
Xé Trôn
Ghép cúi
Cúi chải
Chải thô
- Sợi con: Sợi thô được đưa qua máy sợi con kéo thành sợi con. Đây là
công đoạn cuối của quá trình gia công bông, xơ thành sợi. Bán thành
phẩm là các ống sợi con.
- Đánh ống: Sợi con được đánh ống trên các máy đánh ống.
- Quả sợi là sản phẩm cuối cùng sẽ được bao gói, đóng tải hoặc đóng hòm
theo yêu cầu của khách hàng rồi nhập kho.
1.1.4. Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của công ty Hanosimex
1.1.4.1. Số cấp quản lý
Công ty Dệt may Hà Nội thực hiện chế độ quản lý theo hình thức trực
tuyến chức năng, chế độ một thủ trưởng, trên cơ sở thực hiện quyền làm chủ tập
thể của người lao động.
Công ty Dệt may Hà nội có 3 cấp quản lý
- Cấp công ty: bao gồm ban giám đốc, giám đốc điều hành và các phòng
ban chức năng.
- Cấp nhà máy
- Cấp phân xưởng
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Hình 1.2: Sơ đồ bộ máy quản lý Công ty Dệt May H Nà ội
BAN GIÁM
ĐỐC
PHÒNG
TC-KT
PHÒNG
XUẤT
NHẬP
KHẨU
PHÒNG
KH -TT
TRANG
N/M
MAY 1
N/M MAY
2
PHÒNG
KINH
DOANH
N/M
MAY
ĐÔNG
MỸ
N/M SỢI
VINH
N/M SỢI
N/M
DỆT
NHUỘM
N/M
DỆT
VẢI
DENIM
N/M MAY
3
PHÂN
XƯỞNG
MAY DỆT
KIM
PHÂN
XƯỞNG
3 Giám đốc điều hành I Điều hành sản xuất sợi, phụ trách công tác chất lượng sản
phẩm. Điều hành sản xuất kinh doanh các đơn vị tự hạch
toán
4 Giám đốc điều hành II Điều hành sản xuất lĩnh vực sản xuất dệt nhuộm. Phụ trách
công tác kỹ thuật, đầu tư và môi trường sản xuất dệt
nhuộm.
5 Giám đốc điều hành III Quản lý, điều hành lĩnh vực lao động tiền lương, chế độ,
chính sách, đời sống, y tế và văn thế
6 Giám đốc điều hành IV Quản lý điều hành về mẫu mã thời trang, thị trường và
phương án tiêu thụ sản phẩm may nội địa
7 Phòng kế toán tài chính Quản lý nguồn vốn của công ty, thực hiện công tác tín
dụng. Tham mưu giúp việc cho Tổng giám đốc trong công
tác kế toán tài chính.
8 Phòng XNK Nghiên cứu, đánh giá thị trường, bạn hàng xuất khẩu và
nhập khẩu giúp lãnh đạo công ty trong định hướng phát
triển hàng xuất khẩu
9 Phòng tổ chức hành
chính
Tham mưu cho tổng giám đốc về lĩnh vực tổ chức cán bộ,
đào tạo, lao động tiền lương, chế độ chính sách, quản lý
hành chính.
10 Phòng KT-đầu tư Xây dựng chiến lược đầu tư trước mắt và lâu dài cho công
ty. Xây dựng và ban hành các tiêu chuẩn kỹ thuật, công
nghệ
11 Phòng kế hoạch thị
trường
Xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện công tác
Marketing, tiêu thụ sản phẩm của công ty
12 Phòng thương mại Dự đoán sự phát triển của thị trường. Đề ra các biện pháp
xây dựng kế hoạch sản xuất và tiêu thụ sản phẩm
Doanh thu của công ty tăng đều trong những năm qua làm cho đời sống
của cán bộ công nhân được nâng cao, thể hiện là thu nhập bình quân của cán bộ,
công nhân công ty tăng liên tục năm 2001 là 948.000 đ nhưng tới năm 2003 con
số này là 1.261.500 đ tức tăng 133%
Bảng 1.4: Kết quả tiêu thụ một số sản phẩm chính của công ty
Năm 2002 Năm 2003 So sánh (%)
Số lượng Giá trị
(tr.đ)
Số lượng Giá trị
(tr.đ)
Số
lượng
Giá
trị
Sợi Kg 11.055.820 264.049 12.730.228 308.435 115 117
Vải Denim M 3.237.694 69.159 4.660.634 105.163 144 152
Vải dệt kim Kg 146.800 8.971,8 352.583 22.495,4 240 251
SP may sp 15.739.229 276.845 16.745.546 366.762 106 132
- QAdệt kim “ 7.301.629 222.356 7.359.565 293.526 101 132
- Khăn “ 8.140.998 35.325 8.769.035 44.442 108 126
- QA khác “ 296.602 19.164 616.947 28.795 208 150
Nguồn: Phòng KHTT
Qua bảng trên ta thấy tình hình tiêu thụ của công ty dệt may Hà Nội đều
tăng về cả số lượng và giá trị, tốc độ tăng về giá trị của các mặt hàng đều cao
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
hơn tốc độ tăng về sản lượng, chứng tỏ các mặt hàng của công ty đã tạo được uy
tín, có chỗ đứng trên thị trường. Đặc biệt trong năm 2003 sản lượng tiêu thụ vải
dệt kim tăng mạnh tới 240%. Sản lượng của sản phẩm may mặc trong năm 2003
tăng ít nhưng giá trị lại tăng rất nhanh 132% . Điều này cho thấy mặt hàng này
định vị sản phẩm.
Nói đến Hanosimex chưa có một sản phẩm thực sự tiêu biểu nổi bật để
người ta nghĩ ngay đến nó. Nếu xét về các sản phẩm may ở thị trường thấp cấp
thì sản phẩm của Hanosimex không có nhiều cơ hội cạnh tranh với các sản phẩm
nhập từ Trung Quốc, Đài Loan. Những sản phẩm này thường có chất lượng
thấp, nhưng bù lại nó có những điểm mạnh là: Mẫu mã phong phú, đa dạng, màu
sắc hài hoà, tiện lợi, nhanh thay đổi mốt, đáp ứng cho mọi lứa tuổi. Hơn nữa, giá
bán vừa phải hoặc rất rẻ, đây là yếu tố quan trọng để mặt hàng này thâm nhập
rộng rãi vào thị thị trường Việt Nam, đặc biệt ở những vùng có thu nhập thấp
như nông thôn, vùng sâu vùng xa. Ngoài việc không cạnh tranh được ở thị
trường thấp cấp, công ty còn rất đang yếu trong thị trường sản phẩm cao cấp,
cho đến thời điểm hiện nay thì công ty mới bắt đầu quan tâm vào khúc thị
trường này.
Vấn đề đặt ra ở đây là công ty Hanosimex chưa quan tâm tới việc định vị
sản phẩm của mình tại các khúc thị trường khác nhau để tập trung được các nỗ
lực cũng như những chiến lược cho từng khúc thị trường.
Đứng trước tình hình sang năm 2005 không còn hạn ngạch đối với dệt may,
công ty đã bắt đầu chú trọng đến thị trường nội địa thì chiến lược đa dạng hoá
sản phẩm để đáp ứng tốt hơn nhu cầu của nhiều đối tượng người tiêu dùng là rất
quan trọng. Để công chúng biết tới Hanosimex không chỉ là một nhà sản xuất
quần áo bình dân mà còn sản xuất nhiều loại sản phẩm khác. Công ty cần nghiên
cứu và cho ra các sản phẩm khác nhau với nhiều chủng loại được cải tiến để phù
hợp với từng đối tượng người tiêu dùng. Hơn nữa, theo xu thế hiện nay việc phát
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
triển các sản phẩm mới đang và sẽ là yếu tố không thể thiếu trong sự phát triển
của Công ty trong tương lai. Do vậy công ty trước hết phải xác định lại danh
mục các mặt hàng và phân chia các thị trường hợp lý để từ đó có các chiến lược
kinh doanh hiệu quả.
Với tình hình thực tế đó kết hợp với những kiến thức đã được học ở trường,
Sản phẩm mở rộng. Là phần tăng thêm vào sản phẩm hiện thực để nâng
cao năng lực cạnh tranh cho sản phẩm: các dịch vụ bán hàng, hỗ trợ, bảo hành,
lắp đặt, các dịch vụ hậu mãi khác
Hỗn hợp sản phẩm
Hỗn hợp sản phẩm là toàn bộ các sản phẩm mà một công ty cung cấp ra
thị trường [2, 135]
Các đặc trưng của một hỗn hợp sản phẩm là chiều rộng, chiều dài, và
chiều sâu, sự gắn kết giữa các dòng sản phẩm.
• Chiều rộng được đo bởi số dòng sản phẩm trong hỗn hợp sản phẩm.
• Chiều dài là số các thương hiệu trung bình trong một dòng sản phẩm.
• Chiều sâu là số trung bình các phương án khác nhau về kích thước
màu sắc, kiểu dáng,... của các thương hiệu trong dòng sản phẩm.
• Sự gắn kết thể hiện mức độ gần gũi về công nghệ sản xuất, đặc điểm
phân phối và sử dụng sản phẩm.
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Bao bì sản phẩm
Bao bì là những thứ dùng để chứa đựng, bao bọc sản phẩm. Nhìn chung
bao bì có 3 cấp:
- Bao bì cấp 1: Bao gói tiếp xúc trực tiếp với sản phẩm
- Bao bì cấp 2: Vật liệu để bảo vệ bao gói thứ nhất và được loại bỏ khi
sản phẩm sắp sửa được sử dụng
- Bao bì cấp 3: để phục vụ cất , nhận dạng, vận tải.
Bao bì thực hiện hai chức năng cơ bản: bảo vệ sản phẩm và marketing
• Bảo vệ: bao bì bảo vệ cho sản phẩm không bị hư hỏng trong quá trình
chuyển giao quyền sở hữu đối với sản phẩm cho khách hàng và cả sau
khi sản phẩm đã được khách hàng mua.
• Marketing
- Hấn dẫn khách hàng: bao bì có tác dụng thu hút sự chú ý mua của
khách hàng khi đi mua sắm
mong muốn cụ thể, sẵn sàng và có khả năng mua để thoả mãn nhu cầu hay mong
muốn đó [2, 7].
Như vậy, thị trường là bên mua. Đây là định nghĩa chính tắc về thị trường
đối với một sản phẩm hay một người bán. Tuy nhiên, thị trường có thể được
hiểu rộng hơn. Theo phạm vi nghiên cứu, thị trường được chia thành:
- Thị trường toàn bộ: toàn bộ các cá nhân hoặc tổ chức trong một khu
vực địa lý nào đó
- Thị trường tiềm năng: những cá nhân, tổ chức có mối quan tâm đến
việc mua loại sản phẩm như của doanh nghiệp.
- Thị trường sẵn có: những cá nhân, tổ chức có mối quan tâm, có thu
nhập đủ lớn, có khả năng tiếp cận để phân phối sản phẩm.
- Thị trường mục tiêu: tập hợp những cá nhân, tổ chức mà doanh nghiệp
muốn tập trung các nỗ lực marketing vào đó.
- Thị trường thâm nhập được: tập hợp các cá nhân, tổ chức đã mua sản
phẩm của doanh nghiệp.
2.2. Một số công cụ lập kế hoạch chiến lược hướng tới thị trường
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
2.2.1. Khái niệm chiến lược và đơn vị kinh doanh chiến lược
Chiến lược
Chiến lược là các định hướng quản trị mang tính dài hạn nhằm đảm bảo hoàn
thành các mục tiêu dài hạn của một tổ chức [8, 6].
Theo cách tiếp cận phổ biến hiện nay thì chiến lược là hệ thống các mục tiêu
dài hạn, các chính sách và biện pháp chủ yếu về sản xuất kinh doanh về tài chính
và về giải quyết nhân tố con người nhằm đưa doanh nghiệp phát triển lên một
bước mới cao hơn về chất.
Tuy có nhiều quan niệm khác nhau nhưng tất cả đều thống nhất về mặt
nội dung là: chiến lược kinh doanh phản ánh các hoạt động của đơn vị kinh
doanh bao gồm quá trình đặt ra mục tiêu và các biện pháp, các phương tiện sử
dụng để đạt được mục tiêu đó.
thiết đối với các ngôi sao để nó giữ vững và phát triển thị phần.
• Bò tiền. Đó là các SBU có thị phần tương đối là cao và hoạt động trong
ngành có tốc độ tăng trưởng thấp (thường là ở giai đoạn bão hoà). Khi tốc
độ tăng trưởng của ngành giảm đi, các ngôi sao sẽ trở thành những con bò
Thấp
Thấp
Cao
Cao
T
T
Ố
Ố
C
C
ĐỘ
ĐỘ
T
T
Ă
Ă
NG TR
NG TR
ƯỞ
ƯỞ
NG C
NG C
Ủ
Ủ
A NGÀNH
sữa về tiền mặt. Do các ngôi sao có một lượng khách hàng trung thành lớn
và đòi hỏi ít đầu tư, chi phí marketing của những con bò sữa không cao,
trong khi nó sinh ra nhiều tiền mặt để đầu tư cho các loại SBU khác. Các
chiến lược marketing đối với những SBU bò tiền là bảo vệ thị phần.
• Dấu hỏi. Đó là các SBU có thị phần tương đối là thấp nhưng ở trong
ngành có tốc độ tăng trưởng cao. Dấu hỏi vẫn chưa có được chỗ đứng tốt
trên một thị trường tăng trưởng mạnh. Câu hỏi đặt ra đối với SBU này là
liệu nó có giành được đủ thị phần để có lợi nhuận hay không. Nừu các
nhà quản trị cho là “không”, doanh nghiệp sẽ bán lại hay giải thể đơn vị
kinh doanh chiến lược này. Nếu câu trả lời là “có”, doanh nghiệp cần phải
đầu tư tiền mặt cho những dấu hỏi này để nó có thể trở thành những ngôi
sao. Các chiến lược marketing thích hợp đối với các dấu hỏi là sáng tạo
những lợi thế khác biệt có ấn tượng đối với thị trường nhằm tạo nên sự
tăng trưởng thị phần mạnh mẽ.
• Chó già. Đó là các SBU có thị phần tương đối là thấp và ở trong ngành có
tốc độ tăng trưởng thấp. Nói chung các SBU này sẽ không nhận được sự
đầu tư lớn của doanh nghiệp nữa. Các chiến lược marketing đối với những
con chó già là tối đa hoá lợi nhuận bằng cách giảm thiểu các chi phí hoặc
khuếch trương những lợi thế khác biệt đẻ xây dựng thị phần, hoặc bán
lại/giải thể các SBU đó.
Nói chung, một doanh nghiệp không thể ảnh hưởng đến tốc độ phát triển
của toàn ngành, trừ trường hợp đó là một doanh nghiệp có vị thế lớn trong một
ngành công nghiệp mới và tăng trưởng cao. Nếu như không thể ảnh hưởng đến
tốc độ tăng trưởng của ngành doanh nghiệp sẽ tập trung nỗ lực vào yếu tố thứ
hai trong ma trận BCG là thị phần. Các chiến lược marketing dựa trên ma trận
BCG, do vậy sẽ hoặc là xây dựng hoặc là duy trì thị phần, tuỳ theo đặc điểm của
các SBU. Mỗi chiến lược marketing khác nhau đòi hỏi các nguồn lực khác nhau
và ban lãnh đạo doanh nghiệp cần phân bổ các nguồn lực hạn chế của doanh
nghiệp một cách hợp lý cho những nỗ lực marketing khác nhau.
triển sản phẩm
Chiến lược đa
dạng hoá
Chiến lược thâm
nhập thị trường
Sản phẩm
Nguồn: [2,
34]
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
• Thâm nhập thị trường là việc làm tăng doanh số của những sản phẩm
hiện tại của doanh nghiệp trên những thị trường hiện tại. Có ba cách chủ
yếu. Thứ nhất, khuyến khích những khách hàng hiện tại của doanh
nghiệp mua nhiều hơn trong một khoảng thời gian nhất định. Điều này
có thể có tác dụng khi khách hàng không phải là người mua thường
xuyên. Thứ hai, cố gắng thu hút các khách hàng của các đối thủ cạnh
tranh chuyển đổi nhãn hiệu sử dụng. Điều này có thể có tác dụng nếu
doanh nghiệp thấy được những điểm yếu chính trong sản phẩm hay
trong các chương trình marketing của các đối thủ cạnh tranh. Thứ ba,
thuyết phục những người chưa sử dụng sản phẩm thành những người sử
dụng. Điều này có nhiều khả năng thành công khi thị trường vẫn chưa
có nhiều người sử dụng sản phẩm của doanh nghiệp.
• Phát triển thị trường là việc tìm kiếm những thị trường mới mà nhu cầu
của họ có thể được đáp ứng bởi các sản phẩm hiện có. Điều này liên
quan đến (1) nhận dạng các nhóm khách hàng tiềm ẩn trong khu vực
bán hàng hiện có và kính thích sự quan tâm của họ đối với sản phẩm
của doanh nghiệp; (2) tìm kiếm những kênh phân phối mới trong các
khu vực hiện tại, nhằm đưa sản phẩm tới những nhóm khách hàng mới;
(3) xem xét việc bán sản phẩm ở những khu vực địa lý mới hoặc ở nước
ngoài.
• Phát triển sản phẩm là việc nghiên cứu những khả năng thay đổi đặc
LƯỢC TẬP
TRUNG
CHIẾN
LƯỢC DẪN
ĐẦU VỀ CHI
PHÍ THẤP
CHIẾN
LƯỢC TẬP
TRUNG
CHIẾN
LƯỢC
KHÁC BIỆT
HOÁ
Hẹp Rộng
Sự
khác
biệt
Chi phí
thấp
LỢI THẾ CẠNH TRANH
LỢI THẾ CẠNH TRANH
Nguồn: [2,
33]
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
thấp để định giá dưới mức giá của các đối thủ cạnh tranh và thu hút số đông
khách hàng nhạy cảm với giá cả nhằm gia tăng tổng số lợi nhuận hoặc (2)
Kiềm chế không cắt giảm giá hoàn toàn, bằng lòng với thị phần hiện tại và sử
dụng công cụ chi phí thấp hơn để có mức lợi nhuận biên cao hơn trên mỗi
đơn vị sản phẩm bán ra.
• Chiến lược khác biệt hoá. Theo chiến lược này, đơn vị kinh doanh sẽ tập
2.3.1. Phân khúc thị trường
Mọi thị trường có thể được phân ra thành các khúc thị trường, các nhóm
nhỏ thị trường và cuối cùng là từng cá nhân. Khúc thị trường là những nhóm lớn
có thể nhận biết được trong một thị trường. Nhóm nhỏ thị trường là một nhóm
nhỏ hẹp hơn có thể tìm kiếm một số những ích lợi đặc biệt
Cơ sở để phân khúc thị trường người tiêu dùng cá nhân
Phân khúc thị trường theo đặc điểm địa lý. Phân khúc thị trường theo đặc
điểm địa lý đòi hỏi phải chia thị trường thành những đơn vị địa lý khác nhau như
quốc gia, bang, vùng, thành phố, hay xã.
Phân khúc thị trường theo đặc điểm nhân khẩu học. Phân khúc thị trường
theo đặc điểm nhân khẩu học là phân chia thị trường thành những nhóm trên cơ
sở những biến nhân khẩu học như tuổi tác, giới tính, quy mô gia đình, chu kỳ
sống của gia đình, thu nhập, nghề nghiệp, học vấn, tôn giáo, chủng tộc và dân
tộc.
Phân khúc thị trường theo đặc điểm tâm lý. Trong cách phân khúc thị
trường theo đặc điểm tâm lý, người mua được chia thành những nhóm khác
nhau căn cứ vào tầng lớp xã hội, lối sống và/hay nhân cách. Những người trong
cùng một nhóm nhân khẩu học có thể có những đặc điểm tâm lý rất khác nhau.
Phân khúc thị trường theo hành vi. Trong cách phân khúc thị trường theo
hành vi, người mua được chia thành nhiều nhóm căn cứ vào trình độ hiểu biết,
thái độ, cách sử dụng và phản ứng đối với sản phẩm.
Những yêu cầu đối với việc phân khúc thị trường.
Để đảm bảo hữu ích tối đa, các khúc thị trường phải có năm đặc điểm sau:
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Đo lường được: quy mô, sức mua và các đặc điểm của khúc thị trường đều
đo được. Các biến phân khúc thị trường nhất định rất khó đo lường.
Đủ lớn: những khúc thị trường này phải đủ lớn và sinh lời xứng đáng để
phục vụ. Khúc thị trường phải là một nhóm lớn nhất và đồng nhất, xứng
đáng để thực hiện một chương trình Marketing riêng.
Một khúc thị trường có thể có quy mô và mức tăng trưởng mong muốn,
nhưng lại thiếu tiềm năng sinh lời. Có năm lực lượng quyết định mức độ hấp
dẫn nội tại về lợi nhuận lâu dài của một thị trường hay khúc thị trường.
1. Mối đe doạ của sự kình địch mạnh mẽ trong khúc thị trường: Một khúc thị
trường sẽ không hấp dẫn, nếu nó có quá nhiều đối thủ cạnh tranh mạnh hay là
hay tấn công. Bức tranh sẽ càng tồi tệ hơn, nếu khúc thị trường đó đã ổn định
hay đang suy thoái, nếu tăng thêm năng lực sản xuất lên quá nhiều, nếu chi phí
cố định cao, nếu rào cản xuất cao hay nếu các đối thủ cạnh tranh đều đã đầu tư
quá nhiều để bám trụ tại khúc thị trường đó. Tình hình này sẽ dẫn đến những
cuộc chiến tranh giá cả thường xuyên, những trận chiến quảng cáo cùng những
đợt tung ra sản phẩm mới, và sẽ làm cho các công ty phải chi rất nhiều tiền để
cạnh tranh.
2. Mối đe doạ của những kẻ mới xâm nhập: Một khúc thị trường sẽ không
hấp dẫn, nếu nó có thể thu hút những đối thủ cạnh tranh mới, những công ty sẽ
mang theo các năng lực sản xuất mới, những nguồn tài nguyên đáng kể và phấn
đấu để tăng thị phần.
3. Mối đe doạ về những sản phẩm thay thế: Một khúc thị trường sẽ không
hấp dẫn khi có những sản phẩm thay thế thực tế hay tiềm ẩn. Các sản phẩm thay
thế sẽ tạo ra giới hạn đối với giá cả và lợi nhuận mà một khúc thị trường có thể
kiếm được.
4. Mối đe doạ của quyền thương lượng ngày càng lớn của người mua: Một
khúc thị trường sẽ không hấp dẫn, nếu những người mua có quyền thương
lượng lớn hay ngày càng tăng. Người mua sẽ cố gắng buộc phải giảm giá, đòi
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
hỏi chất lượng và dịch vụ cao hơn, và đặt các đối thủ cạnh tranh vào thế đối lập
nhau và ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của người bán.
5. Mối đe doạ về quyền thương lượng ngày càng tăng của người cung ứng:
Một khúc thị trường sẽ không hấp dẫn nếu những người cung ứng của công ty
có thể nâng giá hay giảm chất lượng. Những người cung ứng có xu hướng trở