Luận văn tốt nghiệp Khoa Quản trị doanh nghiệp
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU “HOÀN THIỆN CÔNG TÁC ĐÃI NGỘ PHI
TÀI CHÍNH Ở CÔNG TY CP THƯƠNG MẠI BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG”
Tính cấp thiết nghiên cứu của đề tài
Ngày nay là thời đại của nền kinh tế thị trường, thời đại của nền kinh tế tri thức,
vì vậy con người trở thành nguồn lực để phát triển kinh tế - xã hội, là tài sản quý
nhất ở mọi lĩnh vực. Trong kinh doanh, con người với khả năng nắm bắt kiến thức
đã trở thành mũi nhọn tạo sức cạnh tranh cho công ty. Có thể nói, đây là nguồn
sống cho hoạt động của một công ty. Chính vì vậy, công tác đãi ngộ đối với người
lao động ngày càng được các doanh nghiệp coi trọng. Vì nó không những là cách để
thu hút thêm ngày càng nhiều người tài đến làm việc tại doanh nghiệp mà còn là
cách để phát huy năng lực làm việc của nhân viên một cách hiệu quả nhất.
Trong phạm vi doanh nghiệp, nhân lực là nhân tố quan trọng quyết định
đến sự tồn tại của mội tổ chức, một doanh nghiệp. Một vấn đề đặt ra cho các doanh
nghiệp hiện nay đó là “đãi ngộ với người lao động như thế nào” để có thể “thu hút
và giữ chân” họ. Hiện nay, vẫn còn có những ý kiến cho rằng chỉ cần trả một khoản
thu nhập hậu hĩnh thì người ta sẽ tự tìm đến doanh nghiệp, họ sẽ cống hiến hết mình
vì doanh nghiệp. Nhưng con người lại là một thực thể sống vô cùng phức tạp. Đối
với họ, làm việc không chỉ vì mục tiêu duy nhất là kiếm tiền mà còn có những nhu
cầu về mặt tinh thần khác như niềm vui trong công việc, sự hứng thú say mê làm
việc, được đối xử công bằng, được tôn trọng, được taọ điều kiện để hoàn thiện bản
thân…Chính vì vậy, để tạo ra động cơ thúc đẩy người lao động làm việc, để phát
huy và khai thác tốt năng lực làm việc của họ thì bên cạnh những đãi ngộ về tài
chính, doanh nghiệp cần phải có những đãi ngộ phi tài chính thông qua công việc và
môi trường làm việc.
Như vậy có thể thấy, đãi ngộ phi tài chính là chìa khoá để doanh nghiệp
không những thu hút, giữ chân người tài mà còn là cách để họ phát huy hết cái tài
đó cống hiến cho doanh nghiệp. Nhưng trên thực tế hiện nay, nhiều doanh nghiệp
Việt Nam vẫn chưa dành sự quan tâm đúng mức tới hoạt động này, chính vì vậy đãi
SVTH: Nguyễn Thuý Ngọc Lớp K42A1
chính. Việc tìm hiểu về các vấn đề lý luận này sẽ tạo thuận lợi khi nghiên cứu thực
trạng công tác đãi ngộ phi tài chính ở Công ty.
- Nghiên cứu thực trạng công tác đãi ngộ phi tài chính ở Công ty qua tìm
hiểu thực tế Công ty trong thời gian thực tập và qua phiếu điều tra phỏng vấn các
SVTH: Nguyễn Thuý Ngọc Lớp K42A1
Luận văn tốt nghiệp Khoa Quản trị doanh nghiệp
nhà quản trị, cán bộ công nhân viên của Công ty. Trên cơ sở đó thấy được những
mặt đã đạt và những mặt còn hạn chế và thiếu sót của công tác đãi ngộ ở Công ty.
- Đề xuất giải pháp để hoàn thiện công tác đãi ngộ phi tài chính ở Công
ty Cổ phần thương mại Bưu chính viễn thông. Dựa vào các dữ liệu thu thập được
cùng với những vấn đề lý luận liên quan, đánh giá ưu nhược điểm, hạn chế của nó
và tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến kết quả đó. Từ đó, đưa ra những giải pháp cùng
với những kiến nghị đến ban lãnh đạo Công ty nhằm hoàn thiện công tác đãi ngộ
phi tài chính ở Công ty.
1.4 Phạm vi nghiên cứu của đề tài:
Nội dung nghiên cứu của luận văn là tìm hiểu các vấn đề lý luận và thực
tiễn liên quan đến việc công tác đãi ngộ phi tài chính Để việc nghiên cứu có hiệu
quả, đề tài luận văn tốt nghiệp này tập trung nghiên cứu trong phạm vi:
Về không gian: đề tài tiến hành nghiên cứu công tác đãi ngộ phi tài chính ở
Công ty Cổ phần thương mại BCVT thông qua hai hình thức chủ yếu là đãi ngộ
thông qua công việc và đãi ngộ thông qua môi trường làm việc.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài: đề tài khảo sát và đi sâu nghiên cứu, phân
tích thực trạng công tác đãi ngộ phi tài chính đối với toàn thể người lao động làm
việc trong tất cả các phòng ban, bộ phận tại Công ty Cổ phần thương mại Bưu chính
viễn thông.
Về thời gian: để thuận lợi cho việc nghiên cứu thực trạng công tác đãi ngộ
phi tài chính, đề tài tập trung nghiên cứu và phân tích dữ liệu trong khoảng 3 năm
2007, 2008, 2009.
1.5 Kết cấu của luận văn tốt nghiệp
Đề tài được kết cấu 4 chương như sau:
đời sống tinh thần của người lao động rất đa dạng và ngày càng đòi hỏi được nâng
cao như: niềm vui trong công việc, sự hứng thú, say mê làm việc, được đối xử công
bằng, được kính trọng, được giao tiếp với mọi người, với đồng nghiệp…
2.1.4 Mối quan hệ giữa đãi ngộ tài chính và đãi ngộ phi tài chính
Đãi ngộ người lao động bao gồm hai bộ phận không thể tách rời nhau
là đãi ngộ tài chính và đãi ngộ phi tài chính. Đãi ngộ tài chính là điều kiện cần và
đãi ngộ phi tài chính là điều kiện đủ để giữ chân người lao động. Bởi, đối với hầu
hết người lao động, thu nhập là động lực đầu tiên thúc đẩy họ làm việc. Vì thu nhập
thoả mãn không những nhu cầu thiết yếu nhất của họ mà còn của gia đình họ. Tuy
nhiên, ngoài những nhu cầu cơ bản con người luôn tìm kiếm để thoả mãn những
SVTH: Nguyễn Thuý Ngọc Lớp K42A1
Luận văn tốt nghiệp Khoa Quản trị doanh nghiệp
nhu cầu cao hơn. Và đãi ngộ phi tài chính là công cụ để thoả mãn những nhu cầu
cao đó của người lao động. Người lao động sẽ làm việc tốt hơn khi họ được giao
công việc phù hợp với chuyên môn, được làm việc trong môi trường thoải mái… từ
đó thu nhập của người lao động cũng được cải thiện đáng kể. Vì thế, đãi ngộ phi tài
chính là điều kiện để người lao động được hưởng những đãi ngộ tài chính tốt nhất.
2.2 Một số lý thuyết về đãi ngộ phi tài chính
2.2.1 Theo các học thuyết về tạo động lực trong công việc
2.2.1.1 Hệ thống nhu cầu của Maslow
Nhà tâm lý học người Mỹ Abraham Maslow đã nghiên cứu và cho rằng
hành vi của con người bắt nguồn từ nhu cầu của họ. Các nhu cầu này được sắp xếp
theo một thứ tự ưu tiên từ thấp tới cao về tầm quan trọng và chia thành năm bậc như
sau:
1. Những nhu cầu cơ bản
2. Những nhu cầu an toàn
3. Những nhu cầu về xã hội
4. Nhu cầu được tôn trọng
5. Nhu cầu về tự thể hiện
Hình 2.1 Bậc thang nhu cầu của Abram Maslow
năng, tiềm năng của mình để tự khẳng định mình, để làm việc, đạt các thành quả
trong xã hội. Người lao động cần được tạo các cơ hội phát triển những thế mạnh cá
nhân. Đồng thời, người lao động cần được đào tạo và phát triển, cần được khuyến
khích tham gia vào quá trình cải tiến trong doanh nghiệp và được tạo điều kiện để
họ tự phát triển nghề nghiệp.
2.2.1.2 Thuyết X và thuyết Y của Mc.Greagor
Douglas McGreagor đã phát triển một quan điểm triết học về con nguời
với Thuyết X và thuyết Y. Hai thuyết này là hai luận điểm đối lập về việc nhìn nhận
và đánh giá hành vi của con người trong công việc. Từ cách nhìn nhận về con
người, Thuyết X và thuyết Y đưa ra phương thức quản trị nhân lực khác nhau:
Thuyết X Thuyết Y
- Nhà quản trị phải chịu trách
nhiệm tổ chức các doanh nghiệp hoạt
động nhằm đạt được những mục tiêu về
kinh tế trên cơ sở các yếu tố như: tiền,
vật tư, thiết bị, con người.
- Đối với nhân viên, cần chỉ huy
họ, kiểm tra, điều chỉnh hành vi của họ
để đáp ứng nhu cầu của tổ chức.
- Thực hiện nguyên tắc thống
nhất giữa mục tiêu của tổ chức và mục
tiêu của cá nhân.
- Các biện pháp quản trị áp dụng
đối với người lao động phải có tác dụng
mang lại “thu hoạch nội tại”.
- Áp dụng nhưng phương thức
hấp dẫn để có được sự hứa hẹn chắc
SVTH: Nguyễn Thuý Ngọc Lớp K42A1
Luận văn tốt nghiệp Khoa Quản trị doanh nghiệp
- Dùng biện pháp thuyết phục,
Phần
thưởng
Mụ
c tiêu
Luận văn tốt nghiệp Khoa Quản trị doanh nghiệp
Các yếu tố duy trì (phạm vi công việc) Các yếu tố thúc đẩy (nội dung công việc)
Lương và các khoản phúc lợi phụ Công việc có ý nghĩa
Sự giám sát Cảm nhận về sự hoàn thành
Điều kiện làm việc Có cơ hội thăng tiến
Các chính sách quản trị Sự công nhận khi hoàn thành công việc
Nhóm thứ nhất chỉ có tác dụng duy trì trạng thái làm việc bình thường. Mọi
nhân viên đều mong muốn nhận được tiền lương tương xứng với sức lực của họ,
công ty được quản trị một cách hợp lý và điều kiện làm việc của họ được thoải mái.
Khi các yếu tố này được thoả mãn, đôi khi họ coi đó là điều tất nhiên. Nhưng nếu
không có chúng họ sẽ trở nên bất mãn và hiệu suất làm việc giảm sút.
Tập hợp các yếu tố ở nhóm thứ hai là những yếu tố có tác dụng thúc đẩy thật
sự, nếu được giải quyết tốt sẽ tạo ra sự thoải mái từ đó động viên người lao động
làm việc tính cực, chăm chỉ hơn. Khi thiếu vắng các yếu tố thúc đẩy, nhân viên sẽ
biểu lộ sự không hài lòng, lười biếng và thiếu sự thích thú làm việc. Những điều này
gây ra sự bất ổn về mặt tinh thần.
Vì vậy, theo Herzberg thay vì cố gắng cải thiện các yếu tố duy trì, các nhà
quản trị nên gia tăng các yếu tố thúc đẩy để có sự hưởng ứng tích cực của nhân
viên.
2.2.1.5 Học thuyết công bằng của J.S.Adams
Lý thuyết của Adams cho rằng mọi người thường có mong muốn nhận
được những phần thưởng tương xứng với những đóng góp hay công sức mà họ đã
bỏ ra. Nếu một cá nhân nhận thấy bản thân được trả lương dưới mức đáng được
hưởng, anh ta sẽ giảm nỗ lực của bản thân xuống. Nếu anh ta nghĩ rằng đang được
trả lương cao, anh ta sẽ cố gắng làm việc chăm chỉ hơn.
2.2.2 Theo cách tiếp cận của Th.s Vũ Thuỳ Dương và TS. Hoàng Văn Hải
đề này. Dưới đây là một số công trình luận văn nghiên cứu đề tài đãi ngộ phi tài
chính:
Tăng cường hiệu lực quản trị đãi ngộ phi tài chính khối văn phòng của Công
ty Cổ phần may Hưng Yên
SVTH: Vũ Thị Minh Xuân – Luận văn tốt nghiệp – 2008 – Hướng dẫn: Th.s
Trần Kiều Trang – Đại học Thương Mại
Nâng cao chất lượng công tác đãi ngộ phi tài chính tại Công ty TNHH nhà
nước một thành viên giầy Thượng Đình
SVTH: Nguyễn Thuý Ngọc Lớp K42A1
Luận văn tốt nghiệp Khoa Quản trị doanh nghiệp
SVTH: Nguyễn Tiến Trung – Luận văn tốt nghiệp – 2009 – Hướng dẫn: Th.s
Nguyễn Quang Trung- Đại học Thương Mại
Nâng cao chất lượng công tác đãi ngộ phi tài chính tại Công ty Cổ phần
thương mại và phát triển công nghệ ứng dụng Việt Nam
SVTH: Phạm Thị Hoa – Luận văn tốt nghiệp – 2009 – Hướng dẫn: Th.s Bùi
Minh Lý – Đại học Thương Mại
Các công trình nghiên cứu trên đây đã hệ thống hoá được phần lý
thuyết cơ bản về đãi ngộ phi tài chính trên cơ sở đó phân tích thực trạng công tác
đãi ngộ phi tài chính ở công ty, đưa ra được các ưu nhược điểm và nguyên nhân của
vấn đề, từ đó có các giải pháp nhằm giải quyết vấn đề.
Với Công ty Cổ phần thương mại Bưu chính viễn thông, mỗi năm đều có
sinh viên đến thực tập tìm hiểu, đánh giá và định hướng giải pháp các vấn đề nghiên
cứu khác nhau. Tuy nhiên, từ trước đến nay chưa có đề tài nào nghiên cứu khoa
học, chuyên đề, luận văn nào tập trung vào vấn đề đãi ngộ phi tài chính ở Công ty.
2.4 Phân định nội dung vấn đề đãi ngộ phi tài chính trong doanh nghiệp
2.4.1 Các hình thức đãi ngộ phi tài chính trong doanh nghiệp
2.4.1.1 Đãi ngộ phi tài chính thông qua công việc
Công việc, theo quan điểm của những người lao động trong doanh nghiệp, là
những hoạt động cần thiết mà họ được tổ chức giao cho và họ có nghĩa vụ phải
hoàn thành.
hay say hơn.
Phù hợp với trình độ chuyên môn, tay nghề và kinh nghiệm của người lao
động
Công việc phù hợp với trình độ, tay nghề của người lao động sẽ giúp cho
người lao động thấy hứng thú, say mê khi thực hiện công việc. Đó sẽ là động lực để
người lao động hoàn thành tốt công việc được giao.
Có cơ hội thăng tiến
Công việc không chứa đựng cơ hội thăng tiến mà một trong những nguyên
nhân dẫn đến việc nhân viên bỏ việc. Bản thân người lao động khi đi làm đều luôn
mong muốn mình được làm “sếp” nên khi công việc của mình chứa đựng sự thăng
tiến thì người lao động sẽ cảm thấy hài lòng, thoả mãn, họ sẽ có trách nhiệm hơn
với công việc được giao. Hơn nữa sự thăng tiến còn thể hiện sự đánh giá cao của
nhà quản trị đối với người động, sự kỳ vọng vào họ. Từ đó họ không ngần ngại
khẳng định bản thân mình và gắn bó lâu dài với doanh nghiệp.
SVTH: Nguyễn Thuý Ngọc Lớp K42A1
Luận văn tốt nghiệp Khoa Quản trị doanh nghiệp
Công việc chứa đựng thách thức
Công việc luôn lặp đi lặp lại sẽ khiến nhân viên cảm thấy vô vị, nhàm chán.
Đặc biệt đối với những nhân viên trẻ, họ luôn khao khát được thể hiện mình. Bằng
việc giao những công việc mang tính mới mẻ, thú vị, thử thách sẽ khiến nhân viên
hăng say và không ngừng cố gắng trong công việc. Mặt khác, nó cũng thể hiện sự
tin tưởng và đánh giá cao của nhà quản trị với năng lực của nhân viên.
Công việc không làm ảnh hưởng đến sức khoẻ của người lao động
“Sức khoẻ là vàng”, đặc biệt khi đời sống ngày càng được nâng cao thì vấn
đề sức khoẻ luôn mà mối quan tâm lớn nhất đối với tất cả mọi người. Một công việc
đem lại thu nhập cao nhưng kèm theo đó là những nguy hiểm độc hại ảnh hưởng tới
sức khoẻ của bản thân thì họ sẽ không dễ dàng gì chấp nhận công việc đó.
Kết quả công việc phải được xem xét đánh giá theo các tiêu chuẩn rõ ràng,
mang tính thực tiễn
Mục đích thúc đẩy người lao động hoàn thành công việc được giao là sự
Tâm lý con người thường thích “cho và nhận”, từ trẻ nhỏ đến người già. Trong
doanh nghiệp cũng vậy, nhân viên nào mà chẳng thích được “sếp” khen trước tập
thể về thành tích công việc của mình. “Chỉ cần ánh mắt thân thiện, một cái bắt tay
nhiệt tình, những lời khích lệ tự tin của người quản lý, bạn sẽ thấy hiệu quả công
việc mà các nhân viên mang lại nâng cao một cách đáng ngạc nhiên” – Chiristopher
Wood, chủ tịch công ty Estee Lauder Group tại Nhật Bản đã nói. Thật vậy, chính
những lời động viên, sự chia buồn lúc nhân viên gặp khó khăn hay sự khích lệ, biểu
dương, khen thưởng, quan tâm, phê bình, giúp đỡ lúc họ lập thành tích hay phạm sai
lầm trong công việc…từ nhà quản trị đều trở thành động lực mạnh mẽ tác động đến
tinh thần làm việc của họ.
Điều kiện vệ sinh và an toàn lao động
Tất cả chúng ta khi được làm việc trong điều kiện tốt, đảm bảo vệ sinh, an
toàn lao động chắc chắn sẽ đạt được năng suất lao động cao hơn khi làm việc ở một
nơi tồi tàn, không đảm bảo an toàn. Chính vì vậy, một nhà quản trị giỏi phải là
người biết taọi điều kiện làm việc dễ chịu nhất cho người lao động để họ có thể phát
huy hết tài năng cho doanh nghiệp. Đây cũng là một hình thức đãi ngộ phi tài chính
dành cho người lao động.
Các phong trào, hoạt động đoàn thể
Việc tổ chức các phong trào, hoạt động đoàn thể cũng là một hình thức đãi
ngộ phi tài chính đối với người lao động. Một mặt tạo cho người lao động có những
SVTH: Nguyễn Thuý Ngọc Lớp K42A1
Luận văn tốt nghiệp Khoa Quản trị doanh nghiệp
giây phút nghỉ ngơi, thư giãn sau những giờ làm việc căng thẳng, mặt khác là nơi
gắn kết giữa các nhân viên, và giữa nhân viên với doanh nghiệp. Các hoạt động
đoàn thể mà doanh nghiệp có thể tổ chức: các phong trào văn hoá, văn nghệ, thể dục
thể thao, bố trí cho người lao động đi nghỉ mát…
Thời gian và giờ giấc làm việc
Đãi ngộ với người lao động còn được thể hiện thông qua thời gian và giờ
giấc làm việc. Mỗi công việc khác nhau đòi hỏi quỹ thời gian là khác nhau. Hơn thế
nữa, mỗi người đều có khoảng thời gian làm việc hiệu quả. Có người làm việc tốt
- Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp: chính sách đãi ngộ phi tài chính
phải gắn chặt với hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Bởi, hiệu quả kinh doanh
càng thì mới có điều kiện thực thi đầy đủ chính sách đãi ngộ phi tài chính.
- Thị trường lao động: chính sách đãi ngộ nhân sự của doanh nghiệp phải gắn
với đặc điểm của thị trường lao động cụ thể.
Yêu cầu đối với chính sách đãi ngộ phi tài chính trong doanh nghiệp:
- Công bằng: chính sách đãi ngộ phi tài chính phải đảm bảo tính công bằng.
Yêu cầu này phải thể hiện ở mọi khía cạch và là tư tưởng, triết lý xuyên suốt toàn
bộ chính sách đãi ngộ phi tài chính của mọi doanh nghiệp.
- Công khai: chính sách đãi ngộ phi tài chính là động lực quan trọng để thúc
đẩy tinh thần làm việc của người lao động và nó liên quan đến tất cả người lao động
nên phải được công bố công khai và được giải thích để mọi người đều hiểu và thông
suốt.
- Kịp thời: yêu cầu này đòi hỏi phải sửa đổi và đưa ra các chính sách đãi ngộ
phi tài chính thay thế phù hợp và đúng lúc.
- Có lý, có tình: chính sách đãi ngộ phi tài chính ngoài tính hợp lý còn cần
phải mang tính nhân bản, vì con người và cho con người.
- Rõ ràng, dễ hiểu: chính sách đãi ngộ phi tài chính là dành cho người lao
động, vì vậy, chúng phải được mọi thành viên thông hiểu.
2.4.2.2 Triển khai thực hiện chính sách đãi ngộ phi tài chính
Doanh nghiệp xây dựng chính sách đãi ngộ phi tài chính là động lực để kích
thích người lao động làm việc. Nhưng để chính sách này đi vào thực tế, thực sự là
công cụ đãi ngộ hiệu quả thì doanh nghiệp cần:
Xây dựng hệ thống đánh giá thành tích công tác của người lao động: hệ
thống đánh giá thành tích công tác của người lao động phải đảm bảo ba nguyên tắc:
SVTH: Nguyễn Thuý Ngọc Lớp K42A1
Luận văn tốt nghiệp Khoa Quản trị doanh nghiệp
tính khách quan, tính động viên và cần phải kết hợp giữa người đánh giá và người
được đánh giá thông qua việc nhân viên tự đánh giá, đồng nghiệp đánh giá lẫn nhau
và đánh giá của người quản lý. Kết hợp được ba yếu tố này trong quá trình đánh giá
nếu có được bầu không khí thoải mái, gắn bó, thân thiết thì các nhân viên sẽ có thể
coi đó như một gia đình thứ hai, qua đó họ sẽ cống hiến và làm việc hết mình vì gia
đình thân yêu đó. Văn hoá doanh nghiệp có tác động lớn đến việc xây dựng chính
sách đãi ngộ nhân sự của doanh nghiệp. Chính sách đãi ngộ nhân sự nói chung và
đãi ngộ phi tài chính nói riêng phải được xây dựng sao cho phù hợp với văn hoá vốn
có vừa thúc đẩy các yếu tố mới, tích cực góp phần phát triển văn hoá doanh nghiệp.
Tiềm lực tài chính
Nhân tố này ảnh hưởng không nhỏ tới công tác đãi ngộ nhân sự nói chung và
công tác đãi ngộ phi tài chính nói riêng. Rõ ràng, nếu doanh nghiệp không có tiềm
lực về tài chính thì cũng không thể mua sắm trang thiết bị, cải thiện điều kiện làm
việc của nhân viên, không thể quan tâm tới nhân viên của mình về cả mặt vật chất
lẫn tinh thần thì nhân viên khó mà hăng say làm việc, thay vào đó là tâm trạng chán
nản, uể oải trong công việc. Như vậy, công tác đãi ngộ phi tài chính có thể được
thực hiện hay không còn bị chi phối bởi khả năng tài chính của doanh nghiệp.
2.4.3.2 Các nhân tố bên ngoài doanh nghiệp
Hệ thống luật pháp
Chính sách đãi ngộ phi tài chính của doanh nghiệp chịu sự chi phối bởi các
bộ luật và các văn bản có liên quan như: luật lao động liên quan tới quyền lợi và
bảo vệ quyền lợi của người lao động buộc các doanh nghiệp phải làm theo như: chế
độ hưởng trợ cấp độc hại, nghỉ lễ tết, nghỉ thai sản, đảm bảo an toàn lao động…
Tổ chức công đoàn
Đây là tổ chức bảo vệ lợi ích và quyền lợi chính đáng của người lao động,
được người lao động tín nhiệm và tin tưởng. Việc xây dựng chính sách đãi ngộ phi
tài chính đối với người lao động nếu được sự đồng tình ủng hộ của tổ chức công
đoàn thì có nghĩa là đã được sự đồng thuận từ phía người lao động và sẽ có tác dụng
kích thích người lao động để họ làm việc hăng hái và nhiệt tình.
2.4.3.3 Các nhân tố thuộc về bản thân người lao động
Trình độ học vấn, năng lực của người lao động
Trình độ học vấn và năng lực của người lao động có ảnh hưởng rất nhiều đến
công tác đãi ngộ phi tài chính của doanh nghiệp. Một người có trình độ và năng lực
chính ở Công ty.
- Yêu cầu: đảm bảo tính trung thực, khoa học và khách quan.
- Nội dung nghiên cứu: gồm 5 bước, được thực hiện thông qua điều tra chọn
mẫu ngẫu nhiên.
B1: Xác định mẫu nghiên cứu
Đối tượng được xác định để nghiên cứu là toàn bộ cán bộ công nhân
viên của Công ty Cổ phần thương mại Bưu chính viễn thông.
Số lượng phiếu điều tra phát ra là 14 phiếu. Do số lượng lao động của
Công ty quá lớn nên cuộc điều tra sẽ được tiến hành trên một mẫu. Phương pháp
chọn mẫu được lựa chọn là chọn mẫu ngẫu nhiên.
B2: Thiết kế mẫu phiếu điều tra
Mẫu điều tra được thiết kế gồm 2 phần chính là phần thông tin cá nhân
và phần câu hỏi điều tra:
• A. Thông tin cá nhân của người được điều tra, bao gồm: họ tên; tuổi; giới
tính; chức vụ; thời gian đảm nhận công việc; tổng thời gian làm việc tại Công ty.
• B: Câu hỏi điều tra
o Điều tra thông qua công việc.
o Điều tra thông qua môi trường làm việc.
B3: Phát phiếu điều tra
Em đã tiến hành phát trực tiếp và ngẫu nhiên cho các đối tượng điều tra bao
gồm các cán bộ quản lý và các nhân viên ở các phòng ban trong Công ty.
B4: Thu thập phiếu điều tra
Sau khi bảng điều tra được phát cho CBCNV trong Công ty được hoàn thành
sẽ thu hồi lại, trên cơ sở đó tổng hợp lại kết quả thu thập được.
SVTH: Nguyễn Thuý Ngọc Lớp K42A1
Luận văn tốt nghiệp Khoa Quản trị doanh nghiệp
B5: Xử lý và phân tích số liệu:
Từ bảng tổng hợp kết quả thu thập được theo từng câu hỏi, tính tỷ lệ phầm
trăm cho từng đáp án trong mỗi câu hỏi và phân tích kết quả thu được.
B6: Kết luận
+ Nội dung: gồm 10 câu hỏi được trình bày cụ thể ở phụ lục 2.
3.2 Đánh giá tổng quan tình hình và nhân tố ảnh hưởng đến công tác đãi ngộ
phi tài chính ở Công ty Cổ phần thương mại Bưu chính viễn thông.
3.2.1 Giới thiệu khái quát về Công ty Cổ phần thương mại BCVT
3.2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Công ty
Công ty Cổ phần thương mại Bưu chính viễn thông đã trải qua nhiều giai
đoạn phát triển khác nhau nên cũng có nhiều tên gọi gắn với lịch sử hình thành và
phát triển của công ty. Trước khi có tên là Công ty Cổ phần thương mại Bưu chính
viễn thông, công ty là một doanh nghiệp nhà nước có tên là công ty Vật tư bưu điện
I. Tiền thân của công ty Vật tư bưu điện là hai công ty do tổng cục bưu điện thành
lập. Đó là:
Công ty vật tư bưu điện thành lập ngày 21/06/1990
Công ty dịch vụ kỹ thuật bưu chính viễn thông thành lập ngày
06/04/1987
Ngày 04/04/1990, tổng cục bưu điện có quyết định số 428/QĐ – TCCB – LĐ
phê duyệt bản điều lệ tổ chức hoạt động kinh doanh dịch vụ kỹ thuật và xuất nhập
khẩu trực tiếp của công ty dịch vụ kỹ thuật vật tư bưu điện.
Ngày 01/05/1990, công ty dịch vụ kỹ thuật vật tư bưu điện chính thức đi vào
hoạt động.
Ngày 09/09/1990, tổng cục bưu điện có quyết định đổi tên thành công ty vật
tư bưu điện I.
Ngày 05/11/2004 theo quyết định số 45/2004/QĐ – BBCVT của Bộ trưởng
bộ Bưu chính viễn thông, Công ty chính thức được đổi tên thành Công ty Cổ phần
thương mại Bưu chính viễn thông.
SVTH: Nguyễn Thuý Ngọc Lớp K42A1
Luận văn tốt nghiệp Khoa Quản trị doanh nghiệp
• Tên Công Ty:
CÔNG TY CỔ PHẦN THƯƠNG MẠI
BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG
• Tên giao dịch quốc tế:
Luận văn tốt nghiệp Khoa Quản trị doanh nghiệp
luật về sản phẩm và dịch vụ do công ty thực hiện, đảm bảo chất lượng hàng hoá
dịch vụ theo đúng tiêu chuẩn đã đăng ký.
Thực hiện các nghĩa vụ với người lao động theo quyết định của bộ
lao động, đảm bảo cho người lao động thamg gia quản lý công ty, thoả ước lao động
tập thể và các thoả ước khác.
Công bố công khai các báo cáo tài chính hàng năm, thực hiện
nghĩa vụ nộp thuế và các khoản phải nộp ngân sách nhà nước
3.2.1.3 Cơ cấu tổ chức bộ máy của Công ty
Sơ đồ 3.1: Cơ cấu tổ chức của Công ty
Đại hội đồng cổ đông
Là cơ quan quyền lực cao nhất của Công ty, toàn quyền quyết định mọi hoạt
động của Công ty và có nhiệm vụ:
- Thông qua Điều lệ, phương hướng hoạt động kinh doanh và chủ trương
chính sách dài hạn trọng việc phát triển của Công ty.
- Quyết định bộ máy quản lý, cơ cấu tổ chức và hoạt động của Công ty.
- Bầu, bãi nhiệm thành viên Hội đồng Quản trị và thành viên Ban kiểm soát.
SVTH: Nguyễn Thuý Ngọc Lớp K42A1
Luận văn tốt nghiệp Khoa Quản trị doanh nghiệp
- Các nhiệm vụ khác do Điều lệ quy định.
Hội đồng Quản trị
Là cơ quan quản lý Công ty, có toàn quyền nhân danh Công ty để quyết
định mọi vấn đề liên quan tới mục đích quyền lợi của Công ty, trừ những vấn đề
thuộc đại hội đồng cổ đông quyết định.
Hội đồng Quản trị Công ty Cổ phần thương mại Bưu chính viễn thông hiện
có 6 thành viên, gồm:
Ông Nguyễn Kim Kỳ _ Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Tổng Giám
đốc
Ông Tưởng Duy Toản _ Uỷ viên kiêm Phó Tổng Giám đốc
Ông Đặng Đình Thụ _ Uỷ viên kiêm Phó Tổng Giám đốc
Kiểm tra, tổng hợp và phân tích báo cáo quyết toán tài chính tháng, quý,
năm toàn Công ty;
Đáp ứng đầy đủ, kịp thời tiền vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của
Công ty. Quản lý và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn cho hoạt động SXKD của
Công ty phát triển và ổn định;
Lập kế hoạch tài chính – đầu tư và tín dụng ngắn hạn, trung và dài hạn
cho Công ty; thực hiện việc thanh toán, thu hồi công nợ kịp thời; tổ chức tự kiểm tra
định kỳ về tình hình chấp hành các quy định của Nhà nước, của Tổng Công ty và
Công ty về quản lý Tài chính – Tín dụng;
Phân tích các thông tin Kinh tế - Tài chính – Tín dụng, lập báo cáo phân
tích hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty, lập báo cáo công khai tài chính
theo đúng quy định của pháp luật;
* Phòng Tổ chức hành chính
- Chức năng: quản lý công tác tổ chức nhân sự, quản lý lao động, tiền lương
và công tác quản trị hành chính của Công ty.
- Nhiệm vụ:
Tham mưu cho Tổng giám đống về tổ chức bộ máy hoạt động sản xuất
kinh doanh và bố trí nhân sự phù hợp với yêu cầu sản xuất kinh doanh của Công ty;
Kết hợp với các bộ phận khác tiến hành tuyển dụng, đào tạo nâng cao
chất lượng nguồn nhân lực của Công ty;
SVTH: Nguyễn Thuý Ngọc Lớp K42A1