SKKN Phương pháp rèn chữ viết cho học sinh lớp 5 - Pdf 26

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
“ PHƯƠNG PHÁP RÈN CHỮ VIẾT CHO HỌC SINH LỚP 5 ”
1
I.ĐẶT VẤN ĐỀ: “ Nét chữ - nết người”.
Hầu như ở mọi loại vở ô li của học sinh Tiểu học đều có “khẩu hiệu” đó.
Nói khẩu hiệu nhưng nó không suông, không rỗng, phải chăng tác giả muốn gửi
đến thông điệp: Cô- Trò, mỗi chúng ta hãy coi trọng, trau dồi chữ viết của mình, Vì sao
vậy? Bởi “ Nét chữ là nết người.”
Nét chữ thể hiện tính nết con người; trong giao tiếp, chữ viết thể hiện nét văn hoá
ứng xử giữa người với người; rèn được chữ viết đẹp cũng có nghĩa đã rèn luyện thành
công một phần đức tính cần có của con người.
Lịch sử đã cho thấy: Cao Bá Quát hỏng thi vì chữ xấu, Thần Liêu đã khổ luyện với
chữ viết như thế nào.
Thực tế ở các kì thi( lớn, nhỏ), chỉ vì chữ xấu mà ảnh hưởng đến kết quả thi; chữ
xấu nên ảnh hưởng đến cơ hội lựa chọn công việc; vì chữ không đẹp đã tạo nên ấn tượng
thiếu toàn diện về một con người;…
Vẫn biết rằng chúng ta đang sống trong thời đại vi tính. Vi tính có thể đáp ứng mọi
kiểu chữ mà ta mong muốn, nhưng làm sao nó đã có thể thay thế được những bài học đầu
đời về chữ viết? ( chữ Việt- chữ mẹ đẻ) mà mỗi học sinh tiểu học đang từng ngày, từng
giờ được chúng ta bày dạy, uốn nắn, chấm chữa.
Thật khó diễn tả niềm vui của mỗi người thầy khi có học trò ( cá biệt)- học đã hết
bậc tiểu học mới viết đầy đặn những con chữ( ở lớp tôi).
Là một giáo viên dạy lớp 5, song song với việc chú trọng truyền thụ kiến thức văn,
toán… cho học sinh thì tôi luôn coi trọng đúng mực việc rèn chữ viết, cách trình bày một
văn bản học sinh cần thể hiện.
Vâng! Tất cả đã khiến tôi băn khoăn trước một thực trạng: học sinh lớp 5- học gần
hết bậc Tiểu học( bậc học cơ sở, nền tảng) mà phần lớn chữ viết chưa đúng, chưa
đẹp( qua nhiều năm, ở nhiều lớp).
Vậy, làm như thế nào để học sinh có được chữ viết đúng chính tả, đúng cở chữ,
đẹp? ( lấy kiểu chữ truyền thống làm chuẩn).

- Thiếu sự kết hợp đồng thời các biện pháp dạy học.
- Việc chấm, chữa chưa thực sự đầy đủ và cụ thể, hoặc chữa chưa đúng kiểu chữ
(h -> H).
- Nóng vội trong lúc kèm cặp.
3
2, Thực trạng cụ thể:
Từ những nguyên nhân trên dẫn đến rất nhiều tồn tại cụ thể về chữ viết của học
sinh, nó được rút ra như sau:
- Viết chữ in lẫn chữ thường; chữ in hoa lẫn chữ viết hoa.
VD: bạn Hoa là học sinh lớp 5 Đ.
- Viết hoa tuỳ tiện, hoặc không viết chữ cần viết( Đầu dòng, đầu câu, danh từ
riêng…).
- Khoảng cách giữa các chữ, con chữ chưa hợp lí( dày quá, thưa quá).
- Viết chữ phiên âm nước ngoài sai.
- Chữ nghiêng quá hoặc ngửa quá.
- Chữ không đúng kích cỡ.
- Chữ hai dòng rưỡi ngoẹo nét ( )
- Chữ thiếu nét các con chữ rời rạc.
- Chữ đặt sai vị trí dấu thanh.
VD:
- Các con chữ trong một chữ và các nét trong một con chữ viết dạc ra.
VD:
- Trong một chữ mà con chữ thì ngửa con chữ thì nghiêng.
VD:
- Trong một bài viết, một chữ mà có nhiều cỡ chữ khác nhau.
VD:
- Viết lẫn lộn x/ s; d/ gi; r/s; k/q; g/gh; ng/ ngh…
- Chữa lỗi sai không đúng cách: tẩy xoá, chữa đè lên, tô đậm nhoè nhoẹt.
- Cách trình bày một bài chính tả sai.
Tất cả mọi lỗi trên tập hợp trong đa số văn bản, tạo nên bức “ thư pháp” đa chiều,

- Chữ 1,5 li: t
- Chữ 1,25 li : r,s,
- Nhóm chữ 2 li : q,p,d,đ.
- Nhóm chữ viết thường 2,5 li : h, b, g,, y, l, k
- Nhóm chữ hoa 2,5 li: L,M,N
5
Nhóm chữ viết hoa 2,5 li có 2 con chữ : Kh, Ch, Th, Nh….
( hai con chữ trong một âm viết bằng nhau)
- Nhóm chữ viết thường có 2 con chữ : ch, th, nh, ph…
( nhóm chữ âm có 2 con chữ thì kích thước môi con chữ bằng chính nó đứng độc
lập)
+ Về các kiểu sai:
- Chữ thiếu nét, dạc nét; bụng chữ to quá hoặc lép quá; chữ nghiêng quá hoặc
ngửa quá; chữ viết, chữ in lẫn chữ thường; chữ rời nét; khoảng cách giữa các con chữ dày
quá hoặc sưa quá : tôi hướng dẫn từng dạng này ở bảng lớp trong khi viết; tất cả các con
chữ phải đủ nét, đưa liền nhau, khoảng cách đều không sát quá; không dạc quá; bụng các
con chữ ( h,b,l,g,y…) đưa một li rưỡi đều vừa phải; với chữ nghiêng quá hoặc ngửa quá
thì lấy hàng thẳng đậm (ở ô li) làm chuẩn, làm điểm tựa để đưa thẳng nét chữ.
- Chữ viết hoa tuỳ tiện, viết hoa chữ in hoa viết hoặc không viết những chữ
quy định : khi đọc cho học sinh viết, tôi nhắc chữ cần viết hoa đông thời bắt phải nhìn
vào bảng chữ để viết đúng, đẹp kiểu chữ hoa truyền thống, không được viết chữ in hoa.
- Chữ đặt sai vị trí dấu thanh: tôi nêu chữ học sinh hay dặt sai ở bảng, cho học
sinh nhìn kĩ và hướng dẫn dấu thanh phải đặt trên nguyên âm một chữ .
- Viết lẫn lộn: s/x; d/gi ; tr/ ch; ? / ~ :
- Khi dạy kiểu bài chính tả so sánh tôi đi kỉ ở phần “phân biệt và nêu thêm
nhiều ví dụ khác” .
Khi viết đến chữ nào có âm đó tôi đọc rõ hoặc đánh vần từng chữ, nhắc tên những
en thường mắc lỗi chú ý rồi giáo viên viết chữ đó lên bảng.
- Viết lẫn lộn : g / gh ; ng / ngh ; k /c / q :
Tôi viết cụ thể ở bảng chữ đó và nêu quy tắc chính tả đối với những chữ này ( khi

- Dạy thêm buổi để bồi dưỡng các môn học khác trong đó có môn chính tả.
- Rèn chữ viết đẹp mà còn đúng thời gian quy định .
- nhắc nhở viết đẹp , trình bà cẩn thận ở bất kỳ giờ học nào , ở đâu, (ở bảng lớp, ở
vở).
- Thời gian đầu cho bạn yếu nhìn sách hoặc nhìn bạn khác viết .
- Ra đề thi thường qui định 1-2 điểm trình bày và chữ viết
- Đầu tư thời gian cho việc ra đề thêm và chấm chữa bài cho những em viết yếu (
Chỉ viết một đoạn vài câu và viết chữ hay mắc lỗi ; về nhà hoặc ra chơi , đầu giờ viết
thêm ; đầu giờ học ra chơi giáo viên kiểm tra tạo không khí thoải mái , gần gũi nên học
sinh rất tự nguyện và hứng thú ).
7
- Thường xuyên kể về các tấm gương luyện chữ viết và vượt lên số phận để học
tốt ( Cao Bá Quát, Thần Siêu, Nguyễ Ngọc Kí, Lê Minh phú…); luôn khen ngợi ý thức
trau dồi chữ viết .
- So sánh, nêu gương những bạn viết đẹp trong lớp .
- Khảo sát , phân loại chữ theo từng kỳ , loại dần những đối tượng và mức độ
kèm cặp.
- Phát động phong trào viết chữ đẹp trong lớp , có phần thưởng cụ thể cho từng đối
tượng (bút, vở …)
3, Đối với các điều kiện khác :
- Điều chỉnh bàn ghế phù hợp ( nếu có thể )
- Gặp gỡ phụ huynh trao đổi tình hình học tập của con em rồi nhờ phụ huynh kèm
thêm bằng phương pháp của cô giáo (đánh vào nhận thức của chữ viết ).
- Trao đổi với hội phụ huynh.
III. KẾT QUẢ :
1, Kết quả chung:
Sau những ngày khổ luyện giữa cô và trò, đến khoảng tháng 6 của năm học tôi đã
thấy nhẹ lòng về tiết chính tả . Có thể ngồi một chỗ đọc cho học sinh viết mà hoàn toàn
yên tâm , không cần nhiều đến các công đoạn thao tác như đầu năm , tiết chính tả trôi qua
dảm bảo thời gian , nhẹ nhàng , phấn khởi.

- Kết hợp hài hoà nhiều biện pháp .
V. KẾT LUẬN :
Hè đến! Ve đã gọi ran như báo hiệu với các cô cậu học trò rằng mình đã thêm
một lớp , biết thêm một điều hay , trưởng thành thêm một chút .
Vâng , các em đã lớn thật rồi !
Giã từ bảng đen, bàn ghế thân thương của bậc tiểu học để bước sang mọt bước
ngoặt lớn hơn . Bước vào bâc học mới , vậy hành trang của các em là gì ? Là bầu kiến
thức quý báu , là tình thương mến mà cô giáo- người mẹ hiền đã dành cho các em , trong
đó có chữ viết , những nét chữ đầu đời qua bàn tay ân cần uốn nắn , sự tận tình , bảo ban
của cô giáo ; tất cả hẳn rằng theo mãi theo mãi các em .
Người mẹ hiền nào chẳng mong mỏi kỳ vọng ở con mình sự khôn lớn giỏi giang.
9
Các em hãy mang vào bậc học mới niềm phấn khởi và sự say mê nhất nhé, và
đừng quên những nét chữ yêu dấu ở trường tiểu học hôm nay.
Với “phương pháp rèn chữ viết cho học sinh lớp 5 ” ở trên chắc hẳn còn có hạn
chế , sai sót , tôi rất mong nhận được sự quan tâm góp ý của hôị đồng xét duyệt các cấp
để bản sáng kiến này được hoàn thiện hơn .
Tôi xin cảm ơn !
10


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status