KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ
BỘ MÔN QUẢN TRỊ
TIỂU LUẬN
HỌC PHẦN: NGUỒN NHÂN LỰC
Đề tài:
“Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng nguồn
nhân lực trong thời kỳ CNH-HĐH đất nước”.
-1-
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 3
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 5
1.1. Các khái niệm về nguồn nhân lực 5
1.2. Sự cần thiết khách quan của việc xây dựng con người Việt Nam trong quá trình đẩy
mạnh công nghiệp, hóa hiện đại hóa 6
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NGUỒN NHÂN LỰC TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG
NGHIỆP HÓA – HIỆN ĐẠI HÓA Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 7
2.1. Số lượng lao động 7
2.2. Cơ cấu nguồn lao động có nhiều bất cập 9
2.3. Nguyên nhân gây ra những bất cập 17
CHƯƠNG 3: NHỮNG GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN
LỰC TRONG THỜI KỲ CÔNG NGHIỆP HÓA – HIỆN ĐẠI HÓA ĐẤT NƯỚC 22
4.1. Những giải pháp chung 22
4.2. Những giải pháp chủ yếu nhằm xây dựng con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu đẩy
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa 25
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
MỞ ĐẦU
-2-
Trong thời đại ngày nay, thời đại mà khoa học đã thực sự trở thành lực lượng
sản xuất trực tiếp, với sự phát triển mạnh mẽ của nhiều ngành khoa học và công nghệ
Xuất phát từ những nhận thức trên, em đã chọn đề tài “Thực trạng và giải
pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong thời kỳ CNH-HĐH đất nước” để
hoàn thành bài tiểu luận này.
CHƯƠNG 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN
-4-
1.1. Các khái niệm về nguồn nhân lực
- Nguồn nhân lực với tư cách là nơi cung cấp cho xã hội, nó bao gồm toàn bộ
dân cư có cơ thể phát triển bình thường, không kể bị khuyết và dị tật bẩm sinh.
- Nguồn nhân lực có thể với tư cách là một nguồn lực cho sự phát triển kinh tế –
xã hội, là khả năng lao động của xã hội được hiểu theo nghĩa hẹp hơn, bao gồm nhóm
dân cư trong độ tuổi lao động có khả năng lao động.
- Nguồn nhân lực còn được hiểu với tư cách là tổng hợp cá nhân những con
người cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể chất và tinh
thần được huy động vào quá trình lao động. Với cách hiểu này, nguồn nhân lực bao
gồm những người bắt đầu bước vào tuổi lao động trở lên có tham gia vào nền sản xuất
xã hội.
- Là toàn bộ những người đủ 15 tuổi trở lên có việc làm và những người trong
độ tuổi lao động, có khả năng lao động nhưng đang thất nghiệp, đang đi học, đang làm
nội trợ trong gia đình mình hoặc chưa có nhu cầu làm việc và những người thuộc tình
trạng khác (những người nghỉ việc hoặc hưu trước tuổi theo quy định của bộ luật lao
động ).
- Nguồn nhân lực là tiềm năng của lao động trong thời kỳ xác định của một
quốc gia, suy rộng ra có thể xác định trên một địa phương, một ngành hay một vùng.
Đây là nguồn lực quan trọng nhất để phát triển kinh tế xã hội.
Nguồn nhân lực được xác định bằng số lượng và chất lượng của bộ phận dân số
có thể tham gia vào hoạt động kinh tế xã hội. Số lượng nguồn nhân lực được thể hiện
bằng các chỉ tiêu về quy mô và tốc độ phát triển. Chất lượng nguồn nhân lực được thể
hiện bằng các chỉ tiêu về tình trạng phát triển thể lực, trình độ kiến thức, tay nghề, tác
phong nghề nghiệp, cơ cấu nguồn nhân lực về tuổi, giới tính, thiên hướng ngành nghề,
Nhóm tuổi 1994 1999 2004 2009
0 - 9 17381,4 16592,5 15780,5 15320,0
10 - 14 8542,5 8853,3 8270,1 8112,5
Dân số trong tuổi lao động 38462,0 44470,2 50656,3 55606,0
60-64 1814,4 1704,9 1678,3 1868,1
65 trở lên 3559,4 4168,0 4537,2 4752,7
Dân số cả nước 70777,9 76787,1 82004,2 87218,1
Tỷ lệ % so với dân số 54,34 57,91 61,77 63,76
Nhóm tuổi 2014 2019 2024
0 - 9 15424,8 15056,7 14270,9
10 - 14 7506,4 7680,6 7632,1
Dân số trong tuổi lao động 59253,1 61264,5 62947,2
60-64 2756,8 3914,3 4733,5
65 trở lên 5060,6 6105,0 8077,9
Dân số cả nước 92216,5 96706,2 100491,4
-7-
Tỷ lệ % so với dân số 64,25 63,75 62,64
(Nguồn: Tổng cục Thống kê)
Như vậy, nhìn vào bảng trên ta có thể thấy giai đoạn 2001-2005 , hay cụ thể
hơn vào năm 2004, dân số nước ta là 82004,5 nghìn người, trong đó dân số ở độ tuổi
lao động là 50656,3 nghìn người, chiếm 61,77% so với dân số. Đây là một áp lực lớn
cho xã hội trong việc giải quyết việc làm.
Bước sang năm 2005, theo dự báo của bảng trên sẽ có khoảng 8853,3 nghìn
người bước vào độ tuổi lao động và đây là con số đủ khả năng cung cấp nhu cầu lao
động của xã hội.
Nhìn vào bảng trên ta cũng thấy dân số trong độ tuổi lao động liên tục tăng qua
các năm. Cụ thể , năm 1994 chiếm 53,34% so với dân số, năm 1999 chiếm 57,91% và
năm 2004 sẽ chiếm khoảng 61,77%. Con số này cho chúng ta biết tỷ lệ tăng trưởng
dân số tuy đã hạ xuống nhưng vẫn ở mức cao, áp lực công việc nặng nề, nếu không có
những phương pháp giải quyết thích hợp sẽ dẫn tới tỷ lệ thất nghiệp cao.
văn hoá vẫn thuộc loại thấp, thể hiện qua bảng sau:
Bảng 2: Cơ cấu lao động từ 15 tuổi trở lên tham gia hoạt động kinh tế phân theo
trình độ văn hoá (%)
1996 1997 1998
Tổng Trong đó
nữ
Tổng
Trong đó
nữ
Tổng Trong đó nữ
Chưa biết chữ 5,8 62,3 5,1 61,6 3,8 62,4
Chưa tốt nghiệp cấp I 20,9 56,4 20,3 55,5 18,5 56,1
Đã tốt nghiệp cấp I 27,8 49,7 28,1 49,2 29,4 45,3
-9-
Đã tốt nghiệp cấp II 32,1 48,3 32,4 48,1 32,3 48,3
Đã tốt nghiệp cấpIII 13,5 44,1 14,1 44,0 16,0 44,2
Nguồn: Thực trạng lao động - Việc làm ở Việt Nam, nxb Thống kê 1996-1998
Theo số liệu của bảng trên, tỷ lệ người chưa biết chữ đã giảm, là kết quả của
chương trình xoá mù chữ do Chính phủ thực hiện trong những năm qua. Số lao động
chưa tốt nghiệp cấp I trong hai năm 1997-1998 đẫ giảm từ 20,3% xuống 18,5% nhưng
tỷ lệ này vẫn còn cao và tốc độ chậm, trong khi đó cơ cấu lao động theo trình độ cấp I,
II, III chuyển biến còn rất chậm. Thực tế là tỷ lệ lao động tốt nghiệp cấp I năm 1996 là
27,8% nhưng đến năm 1998 cũng mới chỉ là 29,4%; lao động tốt nghiệp cấp III năm
1996 là 13,5% đến năm 1998 là 16%. Trong khi đó, tỷ lệ lao động tốt nghiệp cấp III
chiếm một tỷ lệ không cao trong toàn lao động, do đó cơ hội tìm việc làm là rất khó
khăn.
Thứ hai, vẫn tồn tại một cách quá cao tình trạng thừa lao động phổ thông, thiếu
lao động kỹ thuật. Thực hiện CNH-HĐH là chuyển đổi căn bản toàn diện các hoạt
động sản xuất, kinh doanh dịch vụ và quản lý kinh tế xã hội từ sử dụng lao động thủ
công là chính sang sử dụng một cách phổ biến lao động cùng với công nghệ cao,
Bảng 3: Cơ cấu lực lượng lao động kỹ thuật ở Việt Nam giai đoạn 1979-1999
1979 1989 1997 1999
Tổng số 100 100 100 100
Công nhân kỹ thuật 68,6 44,9 40,8 30,3
Trung học chuyên nghiệp 21,7 35,2 35,4 36,8
Cao đẳng , đại học 9,7 19,9 23,8 32,9
Nguồn: Thời báo kinh tế, số 13 ngày 31/1/2000
Nhìn vào biểu trên ta thấy, nếu như năm 1979, cơ cấu lực lượng lao động kỹ
thuật của nước ta là tương đối phù hợp với yêu cầu thực hiện CNH-HĐH đất nước (tỷ
lệ phổ biến của cơ cấu lực lượng lao động kỹ thuật của các nước đã thành công trong
-11-
CNH-HĐH là 1 đại học, cao đẳng/ 4 trung học chuyên nghiệp/10 công nhân kỹ thuật
và lúc đó tỷ lệ tương ứng của ta là 1/2, 2/7, 1). Nhưng sau 10 năm (đến năm 1989) tỷ
lệ đó chuyển dịch theo hướng lệch đi (1/1, 8/2 ,2), bộc lộ rõ tình trạng “thừa thầy, thiếu
thợ”, đến năm 1997 là 1/1,5/1,7 và đến năm 1999 tỷ lệ này càng chệch hướng thêm
nữa (1/1,2/0,92), nó gần như “lộn ngược” với các nước khác. Cũng từ biểu trên ta thấy
số lao động có trình độ đại học, cao đẳng trở lên từ năm 1979 đến năm 1989 tăng rất
nhanh (3,4 lần), trong thời gian đó số công nhân kỹ thuật lại giảm rất nhanh (2,26 lần).
Vì thế, chúng ta đang còn ở trong tình trạng “thừa thầy, thiếu thợ” rất nghiêm trọng.
Theo báo cáo của bộ giáo dục và đào tạo, trong 10 năm (1986-1996), số học sinh học
nghề giảm 35%, số giao viên dạy nghề giảm 31%, số trường dạy nghề giảm 41%,
trong khi đó có 70-80% số sinh viên tốt nghiệp đại học cao đẳng ra trường không có
việc làm, riêng nghành y hiện nay có trên 3000 bác sỹ không có việc làm.
Thứ tư, lực lượng lao động là chủ yếu trong cơ cấu lao động trong ngành. Sự
nghiệp CNH đã được tiến hành vài thập kỷ song cho đến nay nền kinh tế nước ta vẫn
còn mang nặng dấu ấn một nền kinh tế thuần nông, thể hiện rõ trong cơ cấu nguồn lao
động theo ngành. Năm 1993, lao động nông nghiệp chiếm tới 71%, trong khi đó lao
động công nghiệp chỉ chiếm 12% và dịch vụ 17% trong tổng lực lượng lao động xã
hội. Năm 1998, cơ cấu lao động theo ngành đã có những chuyển biến tích cực, nhưng
so với yêu cầu còn rất chậm: lao động nông nghiệp giảm còn 66% và lao động công
Khu vực nhà nước 3415,7 3135,7 2975,2 2960,4 2928,3 3053,1
Tỷ trọng (%) 11,3 10,1 9,4 9,0 8,7 8,8
Tăng, giảm (nghìn) -280 -160,5 -14,8 -32,1 124,8
Nguồn: Niên giám thống kê
Bảng 5: Cơ cấu lao động theo ngành kinh tế
-13-
Đơn vị: %
1994 1995 1996 1997
(1) (2) (1) (2) (1) (2) (1) (2)
Tổng số 33,664 8,70 34,950 8,83 35,792 8,77 33,994 8,83
Khu vực I
Nông nghiệp và Lâm nghiệp
Thuỷ sản
71,68
69,99
1,69
1,24
1,23
1,68
69,74
68,00
1,74
1,21
1,20
1,48
69,22
67,48
1,74
1,04
1,03
35,15
29,78
12,93
0,59
9,19
0,43
2,72
23,37
46,48
19,09
39,46
30,18
12,52
0,57
8,90
0,41
2,64
24,73
52,6
19,38
38,56
34,65
Khu vực III
Thương nghiệp và sửa chữa
Khách sạn, nhà hàng
Vận tải, kho bãi, thông tin
Tài chính và tín dụng
Hoạt động và KHCN
Kinh doanh tài sản và tư vấn
QLNN, ANQP, BHXH
2,81
0,81
29,07
10,51
6,83
24,96
37,66
69,79
51,72
52,00
73,01
58,52
17,85
0,63
1,54
2,39
0,35
0,11
0,21
1,14
2,78
0,82
28,16
9,61
7,27
24,49
39,66
81,63
44,21
53,10
68,15
4,00
0,27
0,28
1,65
33,83
56,32
2,71
0,72
0,28
1,66
33,72
54,91
2,78
0,26
0,27
1,61
34,72
64,66
3,68
Nguồn: Tính toán từ niên giám thống kê
(1): Tổng số lao động: Triệu người, cơ cấu lao động là % trong tổng số.
(2): Tỷ lệ lao động trong khu vực nhà nước trong tổng số lao động của mỗi ngành
kinh tế.
Bảng 4 cho ta thấy lao động trong khu vực nhà nước chỉ chiếm 10% trong tổng
số lao động đang làm việc. Năm 1990, tỷ trọng đó là 11,3%, năm 1994 còn 10,1% và
năm 1995 còn 8,8% và duy trì ở mức đó cho đến nay (nhưng trong tương lai sẽ còn
giảm). Theo số liệu thống kê thì từ năm 1991 đến năm 1994, khu vực nhà nước đã đưa
ra gần nửa triệu lao động và chính khu vực ngoài quốc doanh đã tiếp nhận phần lớn số
lao động này.
nhưng không có gia tăng trong các năm 1995-1997. Kinh tế nhà nước với các ngành
công nghiệp, dịch vụ có mức năng suất cao và tăng nhanh qua các năm, nhưng ở khu
vực I, khu vực lao động của ngoài quốc doanh thì lại có năng suất rất thấp và sự gia
tăng không đáng kể. Nguyên nhân chính là vốn đầu tư cho một lao động ở khu vực II,
III cao hơn so với khu vực I và ở khu vực I hầu như không tăng qua các năm 1995-
1997 về mức vốn đầu tư cho một lao động.
2.3. Nguyên nhân gây ra những bất cập
Thứ nhất, do có sự suy giảm đáng kể đào tạo nghề dài hạn, mất cân đối với đào
tạo nghề ngắn hạn. Điều này có nguồn gốc từ những nỗ lực chưa đủ mức của chính
ngành giáo dục và đào tạo.
Bảng 7: Số học sinh của các trường nghề
và vốn đầu tư qua các niên học 1986-1997
Năm Số học sinh đi học(nghìn người) Đầu tư
-16-
Trung học CN Dạy nghề Tỷ đồng % GDP
Năm có nhiều học sinh nhất
1986
1987
1988
1989
1990
1991
1992
1993
1994
1995
1996
1997
147 (1979/1980)
126,6
7150
1,0
1,0
1,4
1,7
2,0
2,1
2,1
2,1
Nguồn: Niên giám thống kê
Trong giai đoạn 1990-1998, tổng đầu tư từ ngân sách cho giáo dục gia tăng liên
tục, tỷ lệ đầu tư cho từng cấp giáo dục riêng lẻ kể cả đào tạo nghề giảm. Năm 1994,
chi phí cho đào tạo nghề là 11% tổng ngân sách nhà nước dành cho giáo dục (mức chi
phí này ở các nước khác là 25%). Hơn nữa, phần chi cho giáo dục từ ngân sách nhà
nước chiếm phần lớn trong chi phí cho đào tạo nghề. Sự suy giảm các chương trình
đào tạo nghề dài hạn thể hiện rất khác nhau tong từng loại hình và chuyên ngành đào
tạo. Nhìn chung, năm 1992-1993 là năm có số học sinh đi học thấp nhất. Sự suy giảm
mạnh nhất diễn ra ở các nhóm ngành nông-lâm-thuỷ sản và sư phạm đối với loại hình
trung học chuyên nghiệp; và ở nhóm ngành xây dựng, cơ khí đối với loại hình đào tạo
-17-
nghề. Đối chiếu thực trạng này với tình hình mở rộngviệc làm trong nửa đầu thập niên
90 cho thấy, đào tạo nghề dài hạn đã suy giảm trong khi cơ hội việc làm gia tăng, số
học sinh giảm mạnh nhất trong chuyên ngành dịch vụ, nơi có tốc độ gia tăng việc làm
nhanh nhất. Thực tế này đang đặt ra nhiều vấn đề nổi cộm đối với hệ thống đào tạo
nghề. Theo Bộ Giáo dục và Đào tạo, có nhiều nguyên nhân, song chủ yếu do sự thích
ứng chậm của hệ thống đào tạo nghề đối với nền kinh tế nhiều thành phần, cả về chất
lượng đào tạo lẫn cơ cấu ngành đào tạo; sự nghèo nàn của đội ngũ giáo viên và trang
thiết bị cũng làm suy giảm đáng kể năng lực của các trường nghề. Phần lớn các trường
nghè hiện nay chỉ đáp ứng được dưới 50% như cầu về hạ tầng “trường sở”, trang thiết
bị, phòng thí nghiệm, sách giáo khoa, xưởng thực hành.
không có thời gian để nghiên cứu, bổ sung kiến thức thường xuyên và tình trạng “chạy
sô” khá phổ biến. Nhưng theo một đánh giá của Bộ Giáo dục và Đào tạo thì đội ngũ
giáo viên đã có chất lượng tốt hơn trước đây. Chỉ số của sự đánh giá chất lượng cao
hơn này gồm có: thâm niên giảng dạy trung bình cao hơn, và số có bằng đại học và sau
đại học nhiều hơn trước đây. Song thực chất, chỉ số này chưa đủ để phản ánh toàn diện
chất lượng giáo viên. Số năm thâm niên trung bình cao có thể cảnh báo một xu hướng
già hoá, lớp trẻ ít quan tâm đến việc trở thành giáo viên ở các trường đào tạo nghề.
Đồng thời các chỉ số về chuyên môn cụ thể cho các môn học ngành nghề hiện nay
đang thấp hơn nhiều so với các bộ môn cơ bản. Như vậy, điểm yếu vẫn đang tập trung
ở các trường kỹ thuật ngành nghề.
Thứ sáu, nhu cầu đào tạo nghề phần lớn còn mang tính tự phát, thiếu qui hoạch
đồng bộ với nhu cầu của nền kinh tế. Các chỉ tiêu đào tạo của bộ chủ quản còn quá lệ
thuộc vào kinh phí, chưa theo nhu cầu thực tế của nền kinh tế, có nơi, có lúc còn mang
nặng tư tư tưởng “xin - cho”, cấp phát đơn thuần. Do áp lực từ phía người lao động mà
gần đây ĐTN ngắn hạn nổi lên như một hình thức mới để bù đắp cho sự suy giảm
ĐTN dài hạn và sự thiếu hụt trầm trọng công nhân kỹ thuật. Số học sinh theo học các
khoá ngắn hạn tăng 8 lần trong 10 năm từ 1986-1996. Sự thu hẹp các khoá đào tạo
nghề dài hạn còn chứa đựng xu thế “sao nhãng” các nghề đòi hỏi đào tạo công phu, chi
phí đào tạo cao. Qua khảo sát 421.500 người được đào tạo nghề gần đây, chỉ có 0,5 %
thuộc ngành cơ khí, 2,4% thuộc ngành điện.
-19-
Thêm vào đó sự phân bố các trung tâm đào tạo nghề rất không đồng đều theo
địa lý cũng như theo nhu cầu sử dụng. Phần lớn các trung tâm tập trung ở thành thị,
trong khi lại rất vắng bóng ở các vùng nông nghiệp, nông thôn, nơi đang cần có những
người nông dân được đào tạo bài bản để hội nhập nền nông nghiệp nước nhà với thế
giới. Hơn nữa, không có sự bổ sung kịp thời những lao động có đào tạo cho nông
nghiệp thì quá trình CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn khó mà đạt kết quả như mong
muốn.
Tính tự phát và thiếu qui hoạch đồng bộ một thời gian dài đã gây ra tình trạng
mất cân đối nghiêm trọng về nguồn lực, trong khi kinh nghiệm của các nước trên thế
mãn kiểm nghiệm 10%. Trong khi ngay các nước thu nhập thấp khác có mức thu hồi
trung bình là 10,6%. Điều này chúng tỏ hiệu quả đầu tư giáo dục ở nước ta còn quá
thấp.
CHƯƠNG 3:
NHỮNG GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN
NHÂN LỰC TRONG THỜI KỲ CNH – HĐH ĐẤT NƯỚC
3.1. Những giải pháp chung
- Tiếp tục thực hiện công cuộc đổi mới sâu rộng hơn, huy động sức mạnh tổng
hợp của mọi thành phần kinh tế, tranh thủ mọi nguồn vốn đầu tư cho các ngành kinh tế
mũi nhọn. Đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá trong đó ưu tiên cho
công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông thôn và vùng kinh tế biển làm cho kinh tế của
tỉnh phát triển nhanh, vững chắc.
- Chỉ đạo thực hiện tốt các chương trình hỗ trợ trực tiếp cho người dân như:
chăm sóc bảo vệ sức khoẻ nhân dân, chăm sóc sức khoẻ sinh sản và dịch vụ kế hoạch
hoá gia đình, nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài… tạo điều kiện
cho người dân nói chung và nguồn nhân lực, lực lượng lao động của tỉnh khoẻ về thể
chất, có trình độ chuyên môn kỹ thuật có nhiều công việc tự tạo được việc làm và tìm
được việc làm trong nước và xuất khẩu lao động.
- Phát triển nguồn nhân lực về số và chất lượng phải gắn với việc sử dụng
nguồn nhân lực để phát huy hiệu quả, phát triển nguồn nhân lực để phục vụ cho yêu
-21-
cầu phát triển kinh tế xã hội, thực hiện công nghiệp hoá - hiện đại hoá của tỉnh và phục
vụ cho chương trình xuất khẩu lao động.
3.1.1. Một số quan điểm chỉ đạo phát triển nguồn nhân lực.
- Chất lượng nguồn nhân lực giữ vai trò quyết định sự nghiệp công nghiệp hóa
hiện đại hóa ở nước ta.
- Giáo dục đào tạo giữ vai trò quyết định đến chất lượng nguồn nhân lực. Giáo
dục đào tạo có nhiệm vụ nâng cao dân chí, đào tạo nhân lực bồi dưỡng nhân tài.
- Thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục và tạo điều kiện phát triển tài
năng.
Taylo thì việc mở rộng đào tạo nghề thung học đồng nghĩa với việc tiết kiệm nguồn
lực trong nước và giảm chi phí cơ họi cho học sinh. Việc mở rộng đào tạo nghề nên
được xem như một quá trình luôn có sự điều chỉnh và sự điều chỉnh này cũng cần tính
tới khả năng, việc mở rộng thái quá đào tạo nghề trung học cũng có thể dẫn tới một
thực tế ngoài mong đợi, khi nền kinh tế đi vào con đường hội nhập với nền kinh tế
toàn cầu và thực hiện mô hình tổ chức linh hoạt, đòi hỏi phải có những công nhân đa
chức năng.
Thứ ba, để tiết kiệm nguồn lực và thời gian, cần sắp xếp lại và nâng cấp các
trường đào tạo nghề sẵn có, khuyến khích luồng học sinh vào để khắc phục quy mô
nhỏ, vốn là nguyên nhân quan trọng dẫn đến chi phí đơn vị cao trong đào tạo nghề
hiện nay. Đồng thời tiến hành các thay đổi cần thiết trong các chương trình học và
phân ngành đào tạo sao cho có thể phản ánh được các thay đổi trong cơ cấu ngành
nghề trong hệ thống làm việc.Cần chuyển khỏi đào tạo nghề chuyên môn hẹp và đi
theo hướng đào tạo rộng hơn trong đào tạo nghề. Cần tăng cường kiểm soát chất lượng
và tạo cơ hội cho học sinh được chuyển đổi giữa các lựa chọn trung học phổ thông và
trung học nghề. Sau khi cac strường nghề hiện thời được nâng cấp và đạt được quy mô
hợp lý, mới xem xét mở rộng trường mới.
Thứ tư, có chính sách cụ thể quan tâm thực sự tới sự phát triển bền vững của
đào tạo nghề. Khác với giáo dục đại học, đào tạo nghề không dễ có một vị thế cao
-23-
trong xã hội. Vị thế xã hội đáng mong ước của đào tạo nghề bao quát hai khía cạnh:
Một là, sự kính trọng và uy tín của cấp giáo dục này trong nhận thức của người dân.
Những thái độ và giá trị của người dân dành cho đào tạo nghề là rất quan trọng vì
chúng cho phép tái sản xuất quá trình đào tạo, nói cách khác cho phép quá trình đào
tạo được liên tục. Hai là, các giá trị của đào tạo nghề cần được thể hiện trong hệ thống
việc làm, chế độ đãi ngộ. Điều đó có nghĩa là đầu tư cá nhân vào đào tạo nghề (dưới
hình thức tiền của lẫn thời gian) phải được phản ánh rõ trong việc làm và thu nhập.
Thứ năm, xây dựng một hệ thống đào tạo nghề ưu tiên phát triển nông nghiệpvà
nông thôn, tự tạo việc làm và kỹ năng kinh doanh nhỏ. Với yêu cầu sử dụng lao động
cũng như cuộc cải cách nông nghiệp trong những năm 80, hệ thống đào tạo nghề
phát triển các doanh nghiệp với kỹ thuật và công nghệ cao để tạo ra mũi nhọn tăng
trưởng, đồng thời phải khuyến khích các ngành, các lĩnh vực đầu tư ít vốn, sử dụng
nhiều lao động, nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Thứ ba, thực hiện tốt việc kết hợp giữa sắp xếp lại sản xuất, cổ phần hoá các
doanh nghiệp Nhà nước với duy trì đảm bảo việc làm cho người lao động, chống sa
thải công nhân hàng loạt, thông qua chính sách trợ giúp của Nhà nước về thuế, vốn,
công nghệ, lập quỹ hỗ trợ doanh nghiệp để phát triển sản xuất, mở rộng ngành nghề,
nhất là doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nữ.
Thứ tư, đẩy mạnh xuất khẩu lao động trên cơ sở mở rộng thị trường, phấn đấu
đạo tạo nghề để đưa lao động có nghề đi xuất khẩu lao động, đảm bảo mỗi năm đưa đi
được khoảng 20-25 vạn lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài.
Thứ năm, tổ chức tốt việc quản lý hiện tượng di dân tự phát vào thành phố tìm
kiếm việc làm tiếp tục hỗ trợ di chuyển lao động và dân cư để xây dựng các vùng
kinhtế mới.
Thứ sáu, tiếp tục hoàn thiện Luật Đầu tư nước ngoài và chính sách khuyến
khích đầu tư trong nước vì kinh nghiệm cho thấy rằng đây không những là nguồn vốn
quan trọng để đẩy nhanh tiến trình CNH-HĐH đất nước mà còn là nhân tố hàng đầ góp
phần giải quyết hiệu quả tình trạng thiếu việc làm ở Việt Nam hiện nay
-25-