MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 3
2. Mục tiêu của đề tài 4
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
4. Nội dung nghiên cứu 4
5. Phương pháp nghiên cứu 4
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài luận văn 4
CHƯƠNG 1 6
TỔNG QUAN LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐẦU TƯ 6
TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI 6
1.1. Tổng quan lý luận về đầu tư và đầu tư nước ngoài 6
1.1.1. Đầu tư và các khái niệm liên quan 6
1.1.2. Các hình thức đầu tư nước ngoài 6
1.1.3. Vai trò của đầu tư nước ngoài 8
1.1.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến thu hút vốn đầu tư nước ngoài 10
1.1.5. Ảnh hưởng của nguồn vốn nước ngoài tới nền kinh tế Việt Nam 12
1.2. Tổng quan thực tiễn về thu hút đầu tư nước ngoài 17
1.2.1. Kinh nghiệm trên thế giới 17
1.2.2. Kinh nghiệm ở Việt Nam 23
1.2.3. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 27
1.3. Quan điểm của tác giả về thu hút đầu tư nước ngoài 29
CHƯƠNG 2 32
THỰC TRẠNG THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI CỦA TỈNH PHÚ THỌ
GIAI ĐOẠN 2008 - 2013 32
2.1. Tổng quan về tỉnh Phú Thọ 32
2.1.1. Đặc điểm tự nhiên 32
2.1.2. Điều kiện kinh tế xã hội 34
2.1.3. Đặc điểm về môi trường đầu tư vào tỉnh Phú Thọ 36
2.1.4. Các tiềm năng, thế mạnh KT - XH của tỉnh Phú Thọ 38
2.2. Thực trạng thu hút vốn đầu tư nước ngoài của Tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2008 –
KẾT LUẬN 63
TÀI LIỆU THAM KHẢO 64
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Một nền kinh tế muốn phát triển, tăng trưởng nhanh và bền vững trước hết
phải đảm bảo đủ nhu cầu về vốn đầu tư. Đồng thời muốn có vốn đầu tư lớn và dài
hạn đòi hỏi phải gia tăng tiết kiệm trong nước cũng như tăng cường thu hút vốn đầu
tư nước ngoài. Tăng trưởng kinh tế cao sẽ tạo điều kiện để tăng tỷ lệ tiết kiệm và từ
đó tăng khả năng cung ứng vốn để đầu tư. Đây chính là mối quan hệ qua lại và là
nền tảng để phát triển kinh tế xã hội, mở rộng sản xuất kinh doanh, tăng thu nhập
quốc dân và cải thiện đời sống người dân.
Trong quá trình hội nhập nền kinh tế thế giới, vốn đầu tư cho phát triển là
một trong những yếu tố quyết định đến sự thành công hay thất bại của mỗi quốc gia.
Đối với Việt Nam, mục tiêu đặt ra là thực hiện thành công quá trình Công nghiệp
hóa - Hiện đại hóa đất nước, phấn đấu đến năm 2020, Việt Nam cơ bản trở thành
một nước công nghiệp. Để thực hiện thành công mục tiêu này chúng ta cần phải có
một nguồn vốn lớn để phục vụ cho nhu cầu của nền kinh tế. Đó là một trong những
nguồn lực vô cùng quan trọng, vốn là chìa khóa cho mọi hoạt động sản xuất kinh
doanh, là tiền đề cho sự tăng trưởng kinh tế. Mức tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào
quy mô và hiệu quả đầu tư. Nguồn vốn này có thể được huy động từ nhiều kênh
khác nhau, trong đó có thu hút vốn đầu tư nước ngoài.
Phú Thọ là một tỉnh trung du miền núi, cửa ngõ phía Tây Bắc của thủ đô
Hà Nội. Với phương trâm khai thác có hiệu quả các tiềm năng và lợi thế so sánh của
tỉnh, trong thời gian qua tỉnh Phú Thọ đã ban hành nhiều chính sách ưu đãi hấp dẫn,
mở rộng cửa mời gọi các nhà đầu tư trong và ngoài nước cùng đầu tư phát triển các
ngành công nghiệp có lợi thế về nguyên liệu tại chỗ, có khả năng thu hồi vốn nhanh
và đạt hiệu quả cao. Tuy nhiên do điều kiện kinh tế gặp nhiều khó khăn, thiếu kinh
nghiệm trong việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài, dẫn đến việc thu hút đầu tư nước
6.1. Ý nghĩa khoa học
Đề tài luận văn hệ thống hóa cơ sở lý luận khoa học và thực tiễn nhằm xây
dựng căn cứ khoa học cho các giải pháp tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài
cho tỉnh Phú Thọ.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận văn là cơ sở cho các đơn vị, doanh nghiệp
trên địa bàn tỉnh Phú Thọ tham khảo áp dụng trong công tác thu hút vốn đầu tư
nước ngoài
7. Cấu trúc của luận văn tốt nghiệp
Cấu trúc của luận văn gồm phần mở đầu, 3 chương và kết luận.
Chương 1: Tổng quan lý luận và thực tiễn về đầu tư và đầu tư nước
ngoài
Chương 2: Thực trạng thu hút vốn đầu tư nước ngoài của Tỉnh Phú
Thọ giai đoạn 2008 - 2013
Chương 3: Các giải pháp tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài
của Tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2015 - 2020
một lĩnh vực sản xuất kinh doanh hay dịch vụ nào đó và tham gia quản lý hoạt động
đầu tư. Cũng có một hình thức khác được xem là đầu tư trực tiếp khi nhà đầu tư
nước ngoài mua lại toàn bộ hoặc từng phần một doanh nghiệp của nước sở tại để
kinh doanh hoặc hợp tác kinh doanh.
Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài (theo luật đầu tư nước ngoài của
Việt Nam)
- Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài: Là doanh nghiệp do chủ đầu tư
nước ngoài bỏ 100% vốn tại nước sở tại, và có quyền điều hành toàn bộ hoạt động
của doanh nghiệp theo quy định, pháp luật của nước sở tại.
- Doanh nghiệp liên doanh: Là doanh nghiệp được thành lập do các chủ
đầu tư nước ngoài góp vốn chung với doanh nghiệp nước sở tại trên cơ sở hợp đồng
lien doanh. Các bên tham gia điều hành doanh nghiệp, chia lợi nhuận và chịu rủi ro
theo tỉ lệ góp vốn của mỗi bên vào vốn điều lệ. Phần góp vốn của bên nước ngoài
không được ít hơn 30% vốn pháp định. Hình thức hợp đồng, hợp tác kinh doanh:
đây là một văn bản được kí kết giữa một chủ đầu tư nước ngoài và một chủ đầu tư
trong nước để tiến hành một hay nhiều hoạt động kinh doanh ở nước chủ nhà trên
cở sở quy định về trách nhiệm để thực hiện hợp đồng và xác định quyền lợi của
mỗi bên, nhưng không hình thành một pháp nhân mới.
Ngoài các hình thức kể trên ở các nước và ở Việt Nam còn có các hình
thức khác như : hợp đồng xây dựng – kinh doanh – chuyển giao (BOT), hợp đồng
xây dựng – chuyển giao – kinh doanh (BTO), hợp đồng xây dựng – chuyển giao
(BT), hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC) nhằm khuyến khích thu hút đầu tư trực
tiếp nước ngoài.
Hợp đồng hợp tác kinh doanh (Contractual business co-operation – BCC)
là hình thức đầu tư được lý giữa các nhà đầu tư nhằm hợp tác kinh doanh phân chia
lợi nhuận, phân chia sản phẩm mà không thành lập pháp nhân. Nhà đầu tư được ký
kết hợp đồng BCC để hợp tác sản xuất phân chia lợi nhuận, phân chia sản phẩm và
các hình thức hợp tác kinh doanh khác. Đối tượng, nội dung hợp tác, thời hạn kinh
doanh, quyền nghĩa vụ và trách nhiệm của mỗi bên, quan hệ hợp tác giữa các bên và
các tổ chức quan lý do các bên thỏa thuận và ghi trong hợp đồng. Hợp tác BCC
1.1.3.1. Với nước đi đầu tư
- Giúp mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, công nghệ và thiết bị, tăng
cường bành trướng sức mạnh kinh tế và vai trò ảnh hưởng trên thế giới.
- Có khả năng kiểm soát hoạt động sử dụng vốn đầu tư và có thể đưa ra
những quyết định có lợi nhất cho họ; đồng thời hoạt động đầu tư này còn giúp các
nhà đầu tư có thể phân tán rủi ro tình hình kinh tế, chính trị trong nước bất ổn.
- Giúp các công ty giảm chi phí sản xuất, giảm giá thành sản phẩm do khai
thác được nguồn lao động và nguyên liệu với giá rẻ và gần thị trường tiêu thụ giúp
nhà đầu tư giảm được chi phí vận chuyển, chi phí bảo quản lưu trữ hàng hóa. Từ đó
tăng khả năng cạnh tranh của họ trên thị trường thế giới.
- Tránh được hàng rào bảo hộ mậu dịch của các nước do nhà đầu tư có cơ
sở kinh doanh, sản xuất nằm ngay “trong lòng” chính các nước thực thi chính sách
bảo hộ mậu dịch.
- Giúp thay đổi cơ cấu nền kinh tế trong nước theo hướng hiệu quả hơn,
thích nghi với sự phân công lao động quốc tế mới: các công ty trong nước chỉ cần
tập trung vào sản xuất các sản phẩm cao cấp, các thiết bị, các khâu kỹ thuật đòi hỏi
cao…, còn những mặt hàng cần nhiều lao động, kỹ thuật vừa và thấp để các chi
nhánh của mình ở nước ngoài sản xuất.
- Vì cơ chế quản lý hoạt động đầu tư ở mỗi nước khác nhau, đầu tư trực
tiếp nước ngoài giúp cho họ có thể thực hiện “chuyển giá” (nâng giá tài sản và công
nghệ góp vào liên doanh làm tăng tỉ lệ góp vốn vì thế mà thu nhập tăng; tính giá
nguyên liệu, phụ tùng nhập khẩu từ công ty mẹ vào nước nhận đầu tư cao hơn giá
thực tế; tính giá bán cho các công ty trong cùng một tập đoàn hệ thống thấp hơn giá
thực tế để tránh thuế cao) để tránh mức thuế cao nhằm tối ưu hóa lợi nhuận.
- Thông qua hoạt động đầu tư trực tiếp, các nhà đầu tư nước ngoài tham dự
vào quá trình giám sát và đóng góp vào việc thực thi các chính sách mở cửa của nền
kinh tế theo các cam kết thương mại và đầu tư song phương và đa phương của nước
chủ nhà.
1.1.3.2. Với nước nhận đầu tư
- Làm tăng lượng tiền và tài sản trong nền kinh tế nước tiếp nhận do đó tạo
đổi Chính phủ cũng có thể cản trở đầu tư, nếu nó dẫn đến một hệ thống chính sách
và biện pháp khuyến khích không ổn định. Đặc biệt rất dễ có một tác động bất lợi
đối với đầu tư, nếu sự thay đổi Chính phủ bao gồm cả việc thay đổi các luật cơ bản
như: Luật đầu tư, quyền sở hữu tài sản, Luật thuế và nhất là nếu sự thay đổi chính
trị đó làm tăng các rủi ro tài sản bị tịch thu bổ sung vào công quỹ.
1.1.4.2. Chính sách – pháp luật
Các nhà đầu tư nước ngoài rất cần môi trường pháp lý vững chắc có hiệu
lực, bao gồm một hệ thống đầy đủ các chính sách, quy định cần thiết. đảm bảo sự
nhất quán, không mâu thuẫn chồng chéo với nhau và có hiệu lực trong thực hiện.
Các nhà đầu tư nước ngoài luôn tôn trọng các quy định về chính sách pháp luật của
nước nhận đầu tư như quy định về lĩnh vực đầu tư, mức sở hữu của nước ngoài,
miễn giảm thuế đầu tư, quy định các tỷ lệ xuất khẩu, tư nhân hóa, cạnh tranh và bảo
hộ quyền sở hữu trí tuệ, các chính sách về thương mại, tiền tệ, thuế, thị trường hối
đoái, về lao động. Các chính sách đó ảnh hưởng như sau:
- Chính sách thương mại có ảnh hưởng rất lớn đến quyết định lựa chọn địa
điểm đầu tư vì FDI gắn với sản xuất và tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ.
- Chính sách tư nhân hóa liên quan đến việc cổ phần hóa và bán lại công ty.
- Chính sách tiền tệ và chính sách thuế có ảnh hưởng quan trọng đến sự ổn
định của nền kinh tế. Các chính sách này có ảnh hưởng đến tốc độ lạm phát, khả
năng cân bằng ngân sách của Nhà nước, lãi suất trên thị trường. Các chủ đầu tư đều
muốn đầu tư vào thị trường có tỷ lệ lạm phát thấp và có các loại thuế thấp.
- Chính sách tỷ giá hối đoái ảnh hưởng đến giá các loại tài sản ở các nước
nhân đầu tư, giá trị các khoản lợi nhuận các chủ đầu tư thu được và năng lực cạnh
tranh của các hàng hóa xuất khẩu và các chi nhánh nước ngoài.
Nhìn chung các nhà đầu tư nước ngoài thích đầu tư vào những nước có
hành lang pháp lý, cơ chế chính sách đầy đủ, đồng bộ, thông thoáng, minh bạch và
có thể dự đoán được. Điều này đảm bảo sự an toàn của vốn đầu tư.
1.1.4.3. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
Bao gồm các yếu tố về khoảng cách, địa điểm, khí hậu, tài nguyên thiên
nhiên, dân số… Đây là những yếu tố tác động quan trọng đến tính sinh lãi hoặc rủi
71,2% so với năm 2011. Trong năm 2012 có 550 lượt dự án đăng ký tăng vốn đầu
tư với tổng vốn đăng ký tăng thêm là 7,7 tỷ USD, tăng gấp 2,3 lần so với năm 2011.
Tính chung cả cấp mới và tăng vốn, trong năm 2012, các nhà đầu tư nước ngoài đã
đăng ký đầu tư vào Việt Nam 16,3 tỷ USD, tăng 4,7% so với năm 2011.
* Theo lĩnh vực đầu tư:
Lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo là lĩnh vực thu hút được nhiều sự
quan tâm của nhà đầu tư nước ngoài với 549 dự án đầu tư đăng ký mới, tổng số vốn
cấp mới và tăng thêm là 11,7 tỷ USD, chiếm 71,6% tổng vốn đầu tư đăng ký trong
năm 2012. Lĩnh vực kinh doanh bất động sản đứng thứ 2 với 13 dự án đầu tư đăng
ký mới, tổng vốn đầu tư cấp mới và tăng thêm là 1,9 tỷ USD, chiếm 12,1%. Đứng
thứ 3 là lĩnh vực bán buôn bán lẻ, sửa chữa, với 220 dự án đăng ký mới, tổng vốn
đầu tư cấp mới và tăng thêm đạt 772,8 triệu USD, chiếm 4,7%.
* Theo đối tác đầu tư:
Trong năm 2012, đã có 59 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư tại
Việt Nam. Trong đó, Nhật Bản dẫn đầu với tổng vốn đầu tư đăng ký cấp mới và
tăng thêm là 5,59 tỷ USD, chiếm 34,2% tổng vốn đầu tư vào Việt Nam; Đài Loan
đứng vị trí thứ 2 với tổng vốn đầu tư đăng ký cấp mới và tăng thêm là 2,6 tỷ USD,
chiếm 16,3% tổng vốn đầu tư; Singapore đứng thứ 3 với tổng vốn đầu tư đăng ký
cấp mới và tăng thêm là 1,9 tỷ USD, chiếm 11,9% tổng vốn đầu tư. Tiếp theo là
Hàn Quốc, Samoa, BritishVirginIslands, Hồng Kông.
* Theo địa bàn đầu tư:
Bình Dương là địa phương thu hút nhiều vốn ĐTNN nhất với 2,79 tỷ USD
vốn đăng ký mới và tăng thêm chiếm 17,1% tổng vốn đầu tư. Tiếp theo là Hà Tĩnh
với 5 dự án, tổng vốn đầu tư 2,14 tỷ USD. Hà Nội đứng thứ 3 với 1,3 tỷ USD vốn
đăng ký. Tiếp theo là các địa phương TP Hồ Chí Minh (1,3 tỷ USD), Hải Phòng,
Bắc Ninh và Đồng Nai.
Tính lũy kế đến ngày 31/12/2012, Việt Nam có 14.522 dự án còn hiệu lực
với tổng vốn đăng ký 210,5 tỷ USD, trong đó lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế
tạo chiếm tỷ trọng cao nhất với 50,3% tổng vốn đầu tư, tiếp theo là các lĩnh vực
kinh doanh bất động sản (23,6%), dịch vụ lưu trú ăn uống (5%). Tính đến nay đã có
ngạch, kể cả dầu thô. Từ năm 2003, xuất khẩu của khu vực này bắt đầu vượt khu
vực trong nước và dần trở 10 thành nhân tố chính thúc đẩy xuất khẩu, chiếm khoảng
64% tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2012.
Bên cạnh đó, ĐTNN góp phần làm thay đổi cơ cấu mặt hàng xuất khẩu
theo hướng giảm tỷ trọng sản phẩm khai khoáng, mặt hàng sơ cấp, tăng dần tỷ trọng
hàng chế tạo (1).
ĐTNN tác động tích cực tới việc mở rộng thị trường xuất khẩu nhất là sang
Hoa Kỳ, EU, làm thay đổi đáng kể cơ cấu xuất khẩu, đưa Hoa Kỳ trở thành thị
trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam.
Ngoài ra, ĐTNN còn góp phần ổn định thị trường trong nước, hạn chế nhập
siêu thông qua việc cung cấp cho thị trường nội địa các sản phẩm chất lượng cao do
doanh nghiệp (DN) trong nước sản xuất thay vì phải nhập khẩu như trước đây.
Đóng góp vào nguồn thu ngân sách
Đóng góp của ĐTNN vào ngân sách ngày càng tăng, từ 1,8 tỷ USD (1994-
2000) lên 14,2 tỷ USD (2001 – 2010). Năm 2012, nộp ngân sách của khu vực
ĐTNN (không kể dầu thô) là 3,7 tỷ USD, chiếm 11,9% tổng thu ngân sách (18,7%
tổng thu nội địa, trừ dầu thô).
Thứ hai, ĐTNN thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công
nghiệp hóa - điện đại hóa
Hiện nay, 58,4% vốn ĐTNN tập trung vào lĩnh vực công nghiệp – xây
dựng với trình độ công nghệ cao hơn mặt bằng chung của cả nước. Tốc độ tăng
trưởng công nghiệp - xây dựng của khu vực ĐTNN đạt bình quân gần 18%/năm,
cao hơn tốc độ tăng trưởng toàn ngành. Đến nay, khu vực ĐTNN đã tạo ra gần 45%
giá trị sản xuất công nghiệp, góp phần hình thành một số ngành công nghiệp chủ lực
của nền kinh tế như viễn thông, khai thác, chế biến dầu khí, điện tử, công nghệ
thông tin, thép, xi măng
ĐTNN đã góp phần nhất định vào việc chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, đa
dạng hóa sản phẩm, nâng cao giá trị hàng hóa nông sản xuất khẩu và tiếp thu một số
công nghệ tiên tiến, giống cây, giống con có năng suất, chất lượng cao đạt tiêu
chuẩn quốc tế, tạo ra một số phương thức mới, có hiệu quả cao, nhất là các dự án
Tác động lan tỏa công nghệ của khu vực ĐTNN được thực hiện thông qua
mối liên kết sản xuất giữa DN ĐTNN với DN trong nước, qua đó tạo điều kiện để
DN trong nước tiếp cận hoạt động chuyển giao công nghệ.
Nhìn chung, khu vực ĐTNN có tác động lan tỏa gián tiếp tới khu vực DN
sản xuất trong nước cùng ngành và DN dịch vụ trong nước khác ngành. Bên cạnh
đó, thông qua mối quan hệ với DN ĐTNN, DN trong nước ứng dụng công nghệ sản
xuất tương tự để sản xuất sản phẩm/dịch vụ thay thế và sản phẩm/dịch vụ khác để
tránh cạnh tranh. Đồng thời có tác động tạo ra các ngành sản xuất, dịch vụ khác
trong nước để hỗ trợ cho hoạt động của các DN ĐTNN.
Thứ năm, ĐTNN có tác động nâng cao năng lực cạnh tranh ở cả ba cấp
độ quốc gia, DN và sản phẩm
Nhiều sản phẩm xuất khẩu Việt Nam đủ sức cạnh tranh và có chỗ đứng
vững chắc trên các thị trường Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản. Kết quả phân tích các chỉ tiêu
về vốn, công nghệ, trình độ quản lý, khả năng tiếp cận thị trường (đầu vào và tiêu
thụ sản phẩm) và năng lực tham gia mạng sản xuất toàn cầu cho thấy năng lực cạnh
tranh của khu vực ĐTNN cao hơn so với khu vực trong nước.
Đồng thời, khu vực ĐTNN đã và đang có tác động thúc đẩy cạnh tranh của
khu vực trong nước nói riêng và của nền kinh tế nói chung thông qua thúc đẩy năng
suất, tăng trưởng xuất khẩu, cải thiện cán cân thanh toán quốc tế, nâng cao trình độ
công nghệ, trình độ lao động và chuyển dịch cơ cấu lao động.
Thứ sáu, ĐTNN góp phần nâng cao năng lực quản lý kinh tế, quản trị
DN, tạo thêm áp lực đối với việc cải thiện môi trường kinh doanh
Thực tiễn ĐTNN đã cho nhiều bài học, kinh nghiệm bổ ích về công tác quản
lý kinh tế và DN, góp phần thay đổi tư duy quản lý, thúc đẩy quá trình hoàn thiện luật
pháp, chính sách theo hướng bình đẳng, công khai, minh bạch, phù hợp với thông lệ
quốc tế; đào tạo được đội ngũ cán bộ quản lý phù hợp với xu thế hội nhập.
Thứ bảy, ĐTNN đã góp phần quan trọng vào hội nhập quốc tế
Hoạt động thu hút ĐTNN đã góp phần phá thế bao vây cấm vận, mở rộng
quan hệ kinh tế đối ngoại, tạo thuận lợi để Việt Nam gia nhập ASEAN, ký Hiệp
định khung với EU, Hiệp định Thương mại với Hoa Kỳ, Hiệp định khuyến khích và
Singapore là nước thu hút FDI thành công nhất trong khu vực các nước
ASEAN. Điểm quan trọng trong chính sách thu hút đầu tư của Singapore là Nhà
nước căn cứ vào mục tiêu chiến lược cụ thể của từng thời kỳ mà xác định những
thành phần kinh tế động lực để thu hút đầu tư. Đây là một chính sách với rất
nhiềulợi thế mà quốc gia này đã biết triệt để khai thác. Nhờ có sự mềm dẻo này mà
Chínhphủ Singapore điều chỉnh chính sách sát hợp và rất cụ thể cho từng lĩnh vực
ưu tiên cho từng giai đoạn cụ thể.
Thời kỳ đầu thực hiện công nghiệp hóa thông qua chính sách thu hút đầu
tư, Singapore đã cho phép các doanh nghiệp nước ngoài được đầu tư không giới hạn
về vốn vào các lĩnh vực Nhà nước khuyến khích đầu tư, giảm thuế đánh vào các
doanh nghiệp không định cư tại Singapore. Tạo điều kiện để các nhà đầu tư có thể
cư trú và nhập cảnh dễ dàng, được hồi hương vốn và chuyển lợi nhuận ra nước
ngoài.
Singapore cũng đã đầu tư kinh phí xây dựng cơ sở hạ tầng, tìm kiếm đất
cho các nhà đầu tư và đặc biệt ưu tiên chú trọng phát triển giáo dục và đào tạo
nguồn nhân lực để tạo sự hấp dẫn và thu hút các nhà đầu tư. Nhà nước cùng các
công ty đa quốc gia lập chương trình đào tạo chuyên gia, gửi người đi nước ngoài
học các chuyên ngành kỹ thuật cao phục vụ trực tiếp cho các lĩnh vực sản xuất kinh
doanh của công ty mình và cung cấp nguồn nhân lực cho các công ty khác.
Bên cạnh việc hoạch định các chính sách thật thông thoáng để thu hút và
khuyến khích đầu tư vào các lĩnh vực rất cụ thể phục vụ các mục tiêu chiến lược về
kinh tế xã hội. Singapore còn hình thành từ rất sớm nhiều loại hình đầu tư rất đa
dạng và có sức hấp dẫn cao. Nhà nước cho phép các công ty nước ngoài tham gia
đầu tư kinh doanh cả các lĩnh vực rất nhạy cảm như kinh doanh ngoại tệ nhằm phát
triển ngành dịch vụ tài chính hỗ trợ vốn cho phát triển các ngành kinh tế. Đặc biệt,
Nhà nước cho phép tất cả mọi công dân được mua lại cổ phần của Nhà nước trong
các doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả. Đây là một giải pháp vừa kích thích hoạt
động thu hút đầu tư, vừa giúp Nhà nước thu hồi vốn đầu tư tập trung vào các lĩnh
vực cần ưu tiên. Singapore luôn dành cho các nhà đầu tư tham gia vào các lĩnh vực
sản xuất hàng xuất khẩu, hàng thay thế hàng nhập khẩu, các ngành công nghiệp mũi
- Duy trì tốc độ phát triển cao và bền vững
Theo trưởng ban cố vấn kinh tế hãng Eastern Service ngày 13/10/2010 nói:
“Trong khi kinh tế nhiều nước trên thế giới vẫn đang ì ạch vượt dốc để ra khỏi đáy
vực, nhưng kinh tế Ấn Độ có bước phát triển ngoạn mục, tốc độ tăng trưởng cao
vững chắc. Đây là nguyên nhân chủ yếu các nhà đầu tư nước ngoài đổ vốn vào Ấn
Độ. Ấn Độ là nước có sức hấp dẫn FDI lớn nhất.” Do vậy, để gây ấn tượng và thu
hút nhà đầu tư nước ngoài VN cần duy trì tốc độ phát triển kinh tế ổn định và ở mức
cao. Đòi hỏi, các ngành kinh tế có sự phối hợp phát triển và quan trọng hơn hết là
tận dụng hiệu quả nguồn vốn FDI để phát triển kinh tế trong nước.
- Chính sách đầu tư thông thoáng
Triển vọng phát triển kinh tế sáng sủa, cộng với chính sách nới lỏng cho
các nhà đầu tư nước ngoài mà Chính phủ vừa ban hàng cuối năm 2009, Ấn Độ đã
thu hút được các nhà đầu tư đổ tiền vào nước này. Bên cạnh đó, Ấn Độ luôn theo
sát sự tác động của chính sách đầu tư từ đó có sự điều chỉnh, bổ sung kịp thời và
phù hợp với tình hình mới.
Chính phủ Ấn Độ đang được xem xét dỡ bỏ những quy định hạn chế và bó
buộc đối với những nhà thầu xây dựng và nhà đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực bất
động sản ở Ấn Độ trong thời gian tới. Theo Báo Financial Times ngày 9-8, cho biết,
lĩnh vực đầu tư vào chứng khoán cũng đang được xem xét để xóa bỏ những hạn chế
hiện tại. Chính phủ Ấn Độ có thể nới lỏng luật cho phép các nhà đầu tư nhỏ, các cá
nhân nước ngoài được đầu tư vào thị trường cổ phiếu nước này.
- Đơn giản hóa thủ tục
Đơn giản hóa thủ tục tạo điều kiện thuận lợi cao nhất có thể cho nhà đầu tư.
Cho đến nay, Ấn Độ là nước duy nhất tiến hành các thủ tục phê chuẩn vốn đầu tư tự
động không thông qua giấy phép do Chính phủ trực tiếp phê chuẩn, ngoại trừ một
số dự án đặc biệt. Đơn xin đầu tư được gửi lên Ban thư ký hỗ trợ Công nghiệp
(SIA) hoặc thông qua các cơ sở ngoại giáo Ấn Độ. Chính phủ Ấn Độ cũng đạt hộp
thư để tiếp nhận đơn xin đầu tư thông qua mạng Internet, đồng thời qua mạng
Internet cung cấp cho các nhà ĐTNN những hiểu biết về chính sách và thủ tục đầu
tư tại Ấn Độ.
phát triển đào tạo nguồn nhân lực, Nhà nước Thái Lan còn đặc biệt quan tâm hình
thành một số chính sách đáng lưu ý:
- Miễn thuế từ 3 - 5 năm cho các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào Thái
Lan. Những doanh nghiệp đầu tư nước ngoài vào các lĩnh vực Nhà nước khuyến
khích đầu tư, vùng sâu, vùng xa, còn được miễn giảm nhiều hơn và còn nhận
được sự hậu thuẫn và hỗ trợ của Nhà nước thông qua nhiều chính sách khác.
- Miễn thuế nhập khẩu đối với máy móc thiết bị và nguyên vật liệu chính
phục vụ sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp FDI.
- Giảm thuế cho tất cả các dự án FDI đầu tư vào khu vực ngoài thủ đô
Bangkok. Đồng thời chú trọng hỗ trợ việc đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng cho các dự
án đầu tư lớn.
- Hình thành các khu chế xuất với các loại chính sách đặc thù nhằm thu hút
vốn tập trung hướng vào phục vụ xuất khẩu trong và ngoài nước. Doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước ngoài được quyền bán, chuyển nhượng, bảo tồn vốn khi có những
rủi ro, những nguyên nhân khách quan bất khả kháng, được chuyển lợi nhuận về
nước,
1.2.2. Kinh nghiệm ở Việt Nam
1.2.2.1. Kinh nghiệm thu hút FDI của Hà Nội
Là thủ đô của cả nước với nhiều thuận lợi và thế mạnh, Hà Nội đã quá
thành công trong việc thu hút FDI trong những năm qua. Tính đến hết năm 2010 Hà
Nội đang đứng thứ hai cả nước về kết quả thu hút FDI (chỉ sau thành phố Hồ Chí
Minh). Hà Nội đã thu hút 757 dự án đầu tư (chiếm 11,11% tổng dự án đầu tư cả
nước) với tổng vốn đầu tư là 10,123,771,781 USD (chiếm 16,74%), vốn pháp định
là 4,259,297,026 (chiếm 12,25%). Quá trình thu hút FDI của Hà Nội để lại một số
bài học kinh nghiệm cho các địa phương như:
* Nâng cao chất lượng quy hoạch tổng thể: Quy hoạch đầu tư nước ngoài
là một bộ phận hữu cơ trong quy hoạch đầu tư chung của thành phố Hà Nội. Định
hướng và giải pháp thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài phải gắn chặt với quy hoạch
tổng thể các ngành, các vùng lãnh thổ và đặt trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc
tế, khai thác những tiềm năng và lợi thế so sánh của Hà Nội, nâng cao sức cạnh
khăn vướng mắc của nhà đầu tư để cùng họ tháo gỡ.
* Đặc biệt, một thành công trong công tác thu hút FDI vào Hà Nội có thể
nói đến là: Hà Nội phát huy lợi thế so sánh của mình và có hướng thu hút FDI vào
những ngành, lĩnh vực mà có thể khai thác tốt những lợi thế đó. Kết quả thu hút FDI
vào đất đai của Hà Nội là một ví dụ điển hình. Đất đai được UBND thành phố Hà
Nội xem là trọng tâm thu hút FDI vào thành phố. Các dự án gần đây với quy mô
lớn, có thể kể đến như: Khách sạn năm sao của tập đoàn Charmvit (Hàn Quốc) tại
khu đô thị Đông Nam (đường Trần Duy Hưng, Cầu Giấy), diện tích 1,98ha, vốn đầu
tư nước dự án là 80 triệu USD với quy mô 564 phòng; siêu thị Big C…
1.4.2.2. Kinh nghiệm thu hút FDI của Hải Dương
Thực hiện đường lối của Đảng và Nhà nước về đổi mới, mở cửa nền kinh
tế, Đại hội Đảng bộ tỉnh Hải Dương lần thứ XIII đã đề ra Nghị quyết thực hiện các
chương trình hoạt động của tỉnh, trong đó có chương trình thu hút và sử dụng có
hiệu quả các nguồn vốn đầu tư để phát triển kinh tế, UBND tỉnh Hải Dương tháng
04/2002 đã phê duyệt đề án tạo môi trường thuận lợi, thu hút mọi nguồn vốn đầu tư
trong và ngoài nước vào tỉnh Hải Dương. Các giải pháp thu hút FDI của tỉnh:
*Phát triển cơ sở hạ tầng
- Tỉnh tập trung tăng tỷ trọng đầu tư cho phát triển cơ sở hạ tầng, tranh
thủ mọi nguồn vốn đầu tư của trung ương, nước ngoài và của doanh nghiệp để
nâng cấp hệ thống giao thông, điện, cấp thoát nước, bưu chính viễn thông, khu
dân cư, khách sạn.
- Trong nhưng năm qua tỉnh đã dành các nguồn vốn của các tổ chức tài
chính quốc tế, nguồn vốn ODA vào các lĩnh vực xây dựng đường giao thông, nhà
máy và hệ thống cấp thoát nước, phát triển hệ thống thủy lợi…
- Đa dạng hóa các hình thức đầu tư như xây dựng - chuyển giao (BT), xây
dựng - kinh doanh - chuyển giao (BOT).
* Phát triển các khu công nghiệp
Để khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào các khu công nghiệp và làng
nghề, tỉnh đã có một số chính sách ưu đãi như miễn tiền thuê đất trong 10 năm, và
giảm 50% tiền thuê đất trong 10 năm tiếp theo. Đồng thời được hỗ trợ từ ngân sách