SKKN Dạy hội thoại môn Tiếng Việt lớp 4 - Pdf 26

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
“DẠY HỘI THOẠI MÔN TIẾNG VIỆT LỚP 4”
PHẦN I: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
I. Lí do chọn đề tài:
Trong cuốn Ngữ dụng học (GS - TS Đỗ Hữu Châu): Lời nói không chỉ bao gồm
sản phẩm của sự nói năng (văn bản) mà còn cả bao gồm các cơ chế ( sinh lí, tâm lí),
những quy tắc điều khiển sự sản sinh ra các sản phẩm đó.
Sử dụng ngôn ngữ để giao tiếp là hoạt động bình thường của mọi người. Trong giao
tiếp, hội thoại chiếm tỉ lệ thời gian rất lớn, nếu thống kê, có lẽ hội thoại chiếm đến 70 -
80% thời gian con người sử dụng ngôn ngữ trong một ngày. Nhiều việc đạt kết quả hay
thất bại phụ thuộc vào kinh nghiệm tham gia hội thoại của từng người. Ngôn ngữ được sử
dụng chủ yếu trong hội thoại. Giáo sư Đỗ Hữu Châu khẳng định: “Hội thoại là hình thức
giao tiếp thường xuyên, phổ biến của ngôn ngữ, nó cũng là hình thức cơ sở của mọi hoạt
động ngôn ngữ khác…”
(Đỗ Hữu Châu. Đại cương ngôn ngữ học - tập2, NXB Giáo dục-H.2003, tr201).
Trong văn chương, hội thoại cũng chiếm vị trí quan trọng. Các nhân vật trò chuện,
trao đổi với nhau tạo nên nhiều cuộc hội thoại khác nhau trong dòng diễn biến của cốt
truyện. Các cuộc hội thoại góp phần bộc lộ tính cách nhân vật, bộc lộ mâu thuẫn, thúc
đẩy sự phát triển của tình tiết truyện, của các tính cách nhận vật.
Hội thoại có vị trí quan trọng như thế trong đời sống và trong văn học nhưng một thời
gian dài nó không được quan tâm nghiện cứu, không được đưa vào giảng dạy trong nhà
trường; mhười ta cứ nghĩ rằng, trẻ dùng được tiếng mẹ đẻ thì đương nhiên đã biết nói và
nghe, đã biết hội thoại. Đây là một quan niệm phiến diện. Việc đưa hội thoại vào nhà
trường đã tạo ra những thay đổi quan trọng trong nội dung cũng như trong phương pháp
dạy tiếng mẹ đẻ và dạy ngoại ngữ. Việc chú ý đến dạy hội thoại trong nhà trường giúp
học sinh giao tiếp ngày càng linh hoạt sinh động.
Chương trình môn tiếng Việt ở tiểu học năm 2000 đặt mục tiêu “ hình thành và
phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng tiếng Việt (đọc, nói, nghe, viết ) để học tập giao
tiếp trong môi trường hoạt động của lứa tuổi”.
Xuất phát từ mục tiêu trên mà nội dung dạy tiếng Việt ở tiểu học đã chú trọng đến

tiếp nhằm trao đổi các nội dung miêu tả và liên các nhân theo đích được đặt ra”.
( Đỗ Hữu Châu - Bùi Minh Toán. Đại cương ngôn ngữ học, tập 1. NXB Giáo dục -
Hà Nội ).
“ Hội thoại là cuộc giao tiếp bằng lời (ở dạng nói hay dạng viết ) tối thiểu giữa hai
nhân vật về một vấn đề nhằm đạt đích đã đặt ra”.
( Nguyễn Trí. Một số vấn đề dạy hội thoại cho học sinh tiểu học. NXB Giáo dục
2008 )
Ví dụ: Đoạn truyện sau trong câu chuyện “ Chuỗi ngọc Lam” ( tiếng Việt 5, tập 1)
là một cuộc hội thoại:
Chiều hôm ấy có một em gái nhỏ đứng áp trán vào tủ kính cửa hàng của Pi-e, nhìn
từng đồ vật như muốn kiếm thứ gì. Bỗng em ngửng đầu lên:
- Cháu có thể xem chuối ngọc lam này không ạ?
Pi-e lấy chuỗi ngọc, đưa cho cô bé. Cô bé thốt lên:
- Đẹp quá! Xin chú gói lại cho cháu!
Pi-e ngạc nhiên:
- Ai sai cháu đi mua?
- Cháu mua tặng chị cháu nhân lễ Nô - en. Chị đã nuôi cháu từ khi mẹ cháu mất.
- Cháu có bao nhiêu tiền?
Cô bé mở khăn tay, đổ lên bàn một nắm xu:
- Cháu đã đập con lợn đất đấy!
Pi-e trầm ngâm nhìn cô bé. Rồi vừa lúi húi gỡ mảnh giấy ghi giá tiền, anh vừa hỏi:
- Cháu tên gì?
- Cháu là Gioan
Anh đưa Gioan chuỗi ngọc gói trong bao lụa đỏ:
- Đừng đánh rơi nhé!
Cô bé mỉm cười rạng rỡ, chạy vụt đi. Cô đâu biết chuỗi ngọc này Pi-e dành để tặng
vợ chưa cưới của mình, nhưng rồi một tai nạn giao thông đã cướp mất người anh yêu
quý.
Cuộc hội thoại này có những đặc điểm chính:
* Nhân vật tham gia hội thoại: Gioan (cô bé mồ côi, người mua hàng ) và Pi-e ( chủ

hội thoại được điều khiển và không được điều khiển.
3.3.Phân loại theo hình thức của của cuộc hội thoại:
Gồm: cuộc hội thoại chính thức hay không chính thức, trang trọng hay bình thường,
dân dã…
II. Bản chất của hội thoại:
Hội thoại vừa là một hiện tượng giao tiếp bằng ngôn ngữ vừa là một hiện tượng xã
hội.
III. Các nhân tố giao tiếp và hội thoại:
1. Ngữ cảnh:
1.1. Nhân vật hội thoại: Là những người tham gia hội thoại.
Mối quan hệ giữa các nhân vật tham gia hội thoại có thể được biểu hiện qua sơ đồ
sau:
1.2. Hiện thực bên ngoài hội thoại:
Gồm nhiều yếu tố tác động lẫn nhau, có thể sơ đồ hoá như sau:

2. Ngôn ngữ:
Hội thoại là quá trình sử dụng ngôn ngữ làm công cụ giao lưu giữa người với
người. Để có thể sử dụng ngôn ngữ đạt hiệu quả cao trong hội thoại, người tham gia hội
thoại cần chú ý đến những vấn đề như: đặc điểm của ngôn ngữ nói, ngữ vực và ngôn ngữ
cá nhân.
2.1. Đặc điểm của ngôn ngữ nói:
Ngôn ngữ có hai dạng là ngôn ngữ viết và ngôn ngữ nói. Hai dạng của ngôn ngữ có
nhiều đặc điểm chung (cùng dung chung kho từ vựng, hệ thống các quy tắc ngữ pháp và
phong cách, cùng chịu sự chi phối của các đặc điểm về truyền thống và văn hoá dân
tộc…), nhưng mỗi dạng ngôn ngữ lại có những đặc điểm riêng khác nhau. Ngôn ngữ nói
có những đặc thù:
 Có thể sử dụng tất cả các lớp từ trong vốn từ cảu một ngôn ngữ.
 Thường sử dụng các cấu trúc ngư pháp đơn giản, giản lược… kể cả các cách diễn
đạt không theo quy tắc ngữ pháp chuẩn mực, nói tắt…
 Chú trọng sử dụng ngữ điệu đê diễn đạt một số nội dung thong tin và nội dung liên

• Mô hình điển hình của một cuộc thoại gồm 3 loại đoạn thoại: đoạn thoại mở đầu,
các đoạn thoại phát triển nội dung hội thoại ( tham thoại) và đoạn thoại kết thúc.
Tuy nhiên, những cuộc thoại không điển hìnhcó thể thiếu một loại đoạn thoại nào
đó.
2. Đoạn thoại:
Được xây dựng trên cơ sở xác lập các cặp thoại liện kết chặt chẽ với nhau về nội
dung (chủ đề) về tính duy nhất của đích.
Đoạn thoại ngắn nhất chỉ gồm một cặp thoại, đoạn thoại lớn nhất không thể hạn định số
cặp thoại.
3. Cặp thoại:
Một cặp thoại tối thiểu chỉ gồm một lời trao (lời dẫn nhập) và một lời đáp
(lời hồi đáp) (Cặp thoại điển hình )
Ví dụ:
Dắt xe ra cửa, tôi lễ phép thưa:
-Thưa ba, con xin phép đi học nhóm.
Ba tôi mỉm cười:
- Ờ, nhớ về sớm nghe con!
(Chị em tôi - Theo Liên Hương, TV4 tập 1- trang 59 )
Tuy nhiên, còn nhiều cặp thoại không điển hình.
Ví dụ:
- Bé Gioan nói: Cháu có thể xem chuỗi ngọc lam này được không ạ?
Pi-e lấy chuỗi ngọc đưa cho cô bé.
V. Các quy tắc hội thoại, thương lượng hội thoại:
1. Các quy tắc hội thoại:
1.1. Các quy tắc điều hành luân phiên lượt lời
1.2. Quy tắc chi phối cấu trúc hội thoại
1.3. Quy tắc điều hành nội dung hội thoại
1.4. Những quy tắc chi phối quan hệ lien cá nhân trong hội thoại - phép lịch sự
2. Thương lượng hội thoại:
2.1. Thương lượng hội thoại là quá trình các đối tượng tham gia qua trao đổi, bàn

cường độ, độ dài, đỉnh giọng…
 Các yếu tố kèm lời có vai trò biểu nghĩa rất rõ, đặc biệt là biểu nghĩa ngữ dụng.
 VD: Trong câu chuyện Người ăn xin, yếu tố kèm lời là yếu tố “ông nói bằng giọng
khản đặc”
2. Yếu tố phi lời:
 Là những yếu tố không thuộc lời nói nhưng diễn ra song song với lời nói, thường
được dung trong hội thoại mặt đối mặt. Như: cử chỉ, vẻ mặt, ánh mắt, tư thế cơ thể,
sự thay đổi khoảng cách không gian, sự tiếp xúc của cơ thể…
 Các yếu tố phi lời có thể cho người đối thoại nhiều thông tin quan trọng như giới
tính, tuổi tác, thành phần xã hội ….
CHƯƠNG II: CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
I.Dạy hội thoại ở tiểu học để dạy giao tiếp bằng tiếng Việt:
Chương trình môn Tiếng Việt ở tiểu học đầu thế kỉ XXI (chương trình năm 2001 và
năm 2006) đều nhấn mạnh dạy tiếng Việt để giao tiếp và trong giao tiếp.
Dạy tiếng Việt để giao tiếp liên quan đến việc xác định mục tiêu môn học. Chương
trình đã đặt lên hàng đầu mục tiêu “ hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử
dụng tiếng Việt (đọc, viết, nghe, nói) để học tập giao tiếp trong môi trường hoạt động của
lứa tuổi”. Học và luyện tập các kĩ năng sử dụng tiếng Việt trở thành nội dung cốt lõi của
môn Tiếng Việt. Dạy tiếng Việt trong giao tiếp liên quan đến phương pháp dạy học đặc
thù của môn học. Mọi hoạt động học tập, luyện kĩ năng và kiến thức tiếng Việt phải được
diễn ra trong môi trường giao tiếp.
II. Nội dung dạy hội thoại ở tiểu học:
1. Dạy hội thoại:
1.1.Dạy hội thoại là dạy hoat động nói năng:
Hoạt động trước tiên là dạy kĩ năng nghe và nói, trong đó chú trọng rèn cho học
sinh năng lực nghe hiểu, năng lực nói liền mạch theo đề tài, chủ đề nhất định và đạt được
đích giao tiếp. Quá trình rèn luyện năng lực nghe hiểu và nói liền mạch là quá trình tiếp
nhận và sản sinh lời nói.
Hoạt động nói năng là một loại hoạt động giao tiếp. Dạy hoạt động nói năng là rèn
luyện các kĩ năng giao tiếp, rèn luyện các kĩ năng nói trong các tình huống giao tiếp cụ

* Nghe và kể lại câu chuyện có nội dung đơn giản, phù hợp với lứa tuổi. Nhận xét
về nhân vật.
* Nghe - thuật lại bản tin. Nhận xét về một vài chi tiết trong bản tin.
* Nghe - viết chính tả một đoạn văn, đoạn thơ, bài thơ.
* Nghe - ghi lại một số thông tin của văn bản đã nghe.
b) Nói:
- Kể lại câu chuyện đã nghe, đã đọc; thuật lại sự việc đã chứng kiến hoặc tham gia.
Kể chuyện bằng lời của nhân vật.
- Bày tỏ ý kiến khi trao đổi, thảo luận về vấn đề gẫn gũi. Đặt câu hỏi, trả lời câu hỏi
làm rõ vấn đề trong thảo luận, trao đổi.
- Giới thiệu về con người, lịch sử, văn hoá của địa phương.
2.2. Chuẩn kiến thức và kĩ năng:
Chủ đề Mức độ cần đạt
Nói:
Sử dụng nghi
thức lời nói
Biết xưng hô, lựa chọn từ ngữ và cách diễn đạt lịch sự
khi giao tiếp ở nàh, ở nơi công cộng.
Đặt và trả lời
câu hỏi
Biết đặt và trả lời câu hỏi trong trao đổi, thảo luận về
bài học hoặc một số vấn đề gẫn gũi.
Thuật việc, kể
chuyện
Biết kể lại một câu chuyện đã nghe, đã đọc hay sự việc
đã chứng kiến, tham gia. Biết thay đổi ngôi kể khi kể
chuyện.
Phát biểu,
thuyết trình
-Biết cách phát biểu ý kiến trong trao đổi, thảo luận về

sáng tạo.
- Phát huy được khả năng giao tiếp cho học sinh.
+ Hạn chế:
- Chỉ nhận diện được theo khuôn mẫu.
- Do vốn kinh nghiệm, ngôn ngữ của các em còn hạn chế nên khi chuyển lời dẫn
gián tiếp thành lời dẫn trực tiếp (tập viết lời trao và lời đáp) còn khá lúng túng.
Đến những bài sau đó: Luyện tập trao đổi ý kiến với người thân
Đề bài: Em và người than trong gia đình cùng đọc một truyện nói về người có nghị
lực, có ý chí vươn lên. Em trao đổi với người than về tính cách đáng khâm phục của nhân
vật đó.
Hãy cùng bạn đóng vai người than để thực hiện cụoc trao đổi trên.
(Tuần 11, Tiếng Việt 4, tập 1 - trang 109)
Để thực hiện bài tập này, học sinh có nhiệm vụ cần tạo ra các đoạn đối thoại phù
hợp nội dung của đề bài. Học sinh sẽ gặp một số khó khăn:
- Các em phải hình dung hoặc nhớ lại các nhân vật trong các câu chuyện ở sách
giáo khoa hoặc trong sách báo khác; hình dung ra hoàn cảnh sống, nghị lực, sự thành đạt
của nhân vật không đầy đủ vì vốn sống và ngôn ngữ của học sinh còn hạn chế .
- Các em chưa được hướng dẫn cách chuyển thể câu chuyện thành đoạn thoại.
Qua khảo sát và quan sát thực tế giảng dạy, tôi thấy, học sinh rất hào hứng trong
các tiết học có nội dung hội thoại, nhất là khi các em được trực tiếp tham gia đóng vai,
nhưng để hiểu được bài học thông qua đóng vai các em phải có vốn ngôn ngữ, vốn hiểu
biết nhất định; nhưng đây lại là hạn chế của học sinh.
CHƯƠNG III: DẠY HỘI THOẠI CHO HỌC SINH
I.Tổ chức dạy hội thoại:
Một bài tập dạy hội thoại có thể thực hiện theo một trong hai hướng: Hướng phân
tích và hướng thực hành.
1.Dạy hội thoại theo hướng phân tích:
 Là cách dạy đưa ra những nhận xét, đánh giá các yếu tố tạo thành tình huống giả
định nêu ra trong đề bài. Sự phân tích này làm rõ đích giao tiếp, nhân vật giao tiếp,
đề tài giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp. Từ đó đưa ra dự kiến các lời hội thoại phù hợp

Do đó, giúp các em thêm tự tin và mạnh dạn; đồng thời hứng thú học tập hội thoại. Cả
giáo viên và học sinh cùng bình luận, đánh giá cuộc hội thoại như nó đã diễn ra trong
thực tiễn và học được chứng kiến.
Khi dạy bài hội thoại, nếu chỉ có hoạt động thực hành hội thoại thì không đủ, vì bên
cạnh việc rèn luyện kĩ năng hội thoại còn cần nâng dần hiểu biết có tính lí luận nhiều nội
dung liên quan đến kĩ năng hội thoại. Vì vậy cần kết hợp phương thức dạy hội thoại theo
hướng thực hành với sử dụng biện pháp phân tích hội thoại khi cần thiết.
II. Phương pháp đặc trưng dạy các bài tập hội thoại cho học sinh: Đóng vai
II.1.Mỗi bài tập dạy hội thoại tiểu học nhằm thực hiện một tình huống giao tiếp giả
định. Dạy hội thoại theo hướng phân tích, phương pháp sử dụng chủ yếu là phương pháp
hỏi đáp ( giữa thầy và trò, giữa trò và trò) để phân tích tình huống giao tiếp giả định, phân
tích cuộc hội thoại dự báo sẽ diễn ra. Còn dạy hội thoại theo hướng thực hành chủ yếu là
tập trung tạo ra cuộc hội thoại phù hợp yêu cầu đề bài bằng phương pháp đóng vai. Học
sinh sẽ tham gia đóng các nhân vật hội thoại và thực hiện cuộc giao tiếp như đề bài quy
định.
Ví dụ: Bài “ Luyện tập trao đổi ý kiến với người thân” TV4, tập 1 (trang 95)
Đề bài: Em có nguyện vọng học them một môn năng khiếu (hoạ, nhạc, võ thuật…).
Trước khi nói với bố mẹ, em muốn trao đổi với anh (chị) để anh (chị) hiểu và ủng hộ
nguyện vọng của em.
Hãy cùng bạn đóng vai em và anh (chị) để thực hiện cuộc trao đổi.
1.Nhân vật: em và anh (chị) của em.
2. Cảnh trí: Ở nhà, bàn ghê uống nước hoặc bàn học của em. Trên bàn có một số
vật dụng: ấm, chén, bình nước…
3.Thời gian: Buổi chiều tối
4.Gợi ý lời đối thoại:
- Em mở đầu câu chuyện nói về nguyện vọng của mình.
- Anh (chị) lắng nghe, đưa ra một số khó khăn, thắc mắc cho em: mất thời gian, ảnh
hưởng đến học văn hoá ở trường, không làm giúp một số việc của gia đình, em không có
năng khiếu về môn đó, sức khoẻ của em không cho phép học võ,
- Em đưa ra những lí lẽ thuyết phục anh (chị) ủng hộ nguyện vọng của mình.

thúc, ví dụ: nghe thông qua lời kể, lời ghi âm, …); hội thoại là sản phẩm của nhiều người
( tối thiểu là hai người).
Nhà trường có dạy tiếp nhận và sản sinh hội thoại không?
• Nhà trường khi dạy đọc và nghe các văn bản tự sự, khi dạy phân tích các
ngữ liệu tự sự trong các phân môn của môn Tiếng Việt đều ít nhiều đề cập
đến tiếp nhận hội thoại.
• Nhà trường thực sự đưa việc dạy tiếng vào quá trình giao tiếp, thông qua
học mà học sinh được hướng dẫn để tìm hiểu cách xác định đề tài, chủ đề,
đích của hội thoại, phân biệt vai trò các đối tượng tham gia hội thoại, luyện
tập cách mở đầu, kết thúc, cách phát triển cuộc thoại, luyện tập các kĩ năng
trao lời và đáp lời… Tức là các em được hướng dẫn để sản sinh hội thoại.
Thông qua việc học hội thoại trong nhà trường, học sinh mới thực sự học cách sử
dụng tiếng nói phong phú, đa dạng gắn với cuộc sống sôi động hàng ngày, hoạ tiếng nói
trong giao tiếp và để giao tiếp.
Theo PGS.TS Nguyễn Trí trong cuốn “ Một số vấn đề dạy hội thoại cho học sinh
tiểu học” thì dạy hội thoại có thể được tiến hành theo quy trình ba bước chính như sau:
1.Bước 1: Phân tích tình huống hội thoại nêu ra trong đề bài.
Ở bước này, cần làm rõ các nội dung:
 Đề tài hội thoại.
 Nhân vật tham gia hội thoại.
 Hoàn cảnh xã hội.
 Môi trường xảy ra hội thoại.
 Đích của hội thoại.
 Vấn đề cần giải quyết qua hội thoại.
2.Bước 2: Phác hoạ diễn biến chính cuộc thoại bằng lời
Giáo viên cho học sinh dựa trên kết quả phân tích tình huống hội thoại, mỗi em nêu
ra cách giải quyết vấn đề đặt ra trong bài tập. Các em dùng trí tưởng tượng kết hợp với
các hiểu biết của bản thân liên quan đến đề tài để nêu ra khái quát các diễn biến chính
trong một cuộc thoại. Dựa vào diễn biến chínhvà nội dung chủ yếu mà khi thực hành hội
thoại học sinh sẽ tự tìm ra lời hội thoại cụ thể.

Hai đề bài này có cấu trúc giống các bài khác cùng loại. Tuy nhiên nó có sự khác
biệt ở đề tài các cuộc thoại này không còn là những vấn đề đời thường như; chúc tết, họp
lớp, họp tổ, … mà là những vấn đề có ý nghĩa xã hội hơn: muốn học them môn năng
khiếu, bàn về một nhân vật văn học.
Với bài tập này, học sinh đóng vai nhân vật em thì phải chủ động thực hiện nhiệm
vụ nêu ra đề tài cuộc thoại và các lời thoại có tính chủ hướng cho cuộc thảo luận, tranh
luận.
+ Ưu điểm:
- Học sinh có cơ hội để trình bày ý kiến của mình.
- Phát huy được khả năng giao tiếp ( thuyết trình, trao đổi, … ) cho học sinh.
+ Hạn chế:
- HS còn rụt rè, lúng túng không biết nên làm gì để có vị thế giao tiếp mạnh, vai trò
chủ hướng.
- Học sinh không có kĩ năng đưa ra các lời thoại chủ hướng.
- Khả năng sáng tạo của học sinh chưa rõ ràng.
b) Một số biện pháp giúp học sinh đưa ra đề tài cuộc thoại hoặc các lời thoại chủ
hướng:
- Dùng biện pháp đặt câu hỏi.
Ví dụ với đề bài 2 ở trên, muốn trao đổi về nghị lực của nhân vật Rô-bin-xơn trong
cuốn truyện Rô-bin-xơn ở đảo hoang, học sinh có thể hỏi bố (mẹ) hay anh (chị) như sau:
+ Anh ơi, anh đọc Rô-bon-xơn ở đảo hoang chưa?
+ Chị có thích nhân vật Rô-bin-xơn trong truyện Rô-bin-xơn ở đảo hoang không?
+ Chị có biết ai đã sống một mình cả ngàn ngày, không gặp một người nào, không
trò chuyện một câu nào, chỉ lụi hụi làm việc?
- Dùng biện pháp trình bày cảm xúc cá nhân.
- Dùng biện pháp kích thích trí tò mò.

CHƯƠNG IV: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM
I. Mục đích thực nghiệm:
Để xem xét khả năng tiếp nhận và sản sinh hội thoại của học sinh trong các tiết học

- Nhận xét, đánh
giá.
- 2 HS
2’
II. Bài mới:
1.Giới thiệu bài:
- Trong tiết TLV tuần 9, các con
đã luyện tập trao đổi ý kiến với
người thân về nguyện vọng học
thêm một môn năng khiếu.
Trong tiết học hôm nay, các con
sẽ về một đề tài gắn với chủ
điểm “Có chí thì nên”.
4’
2.HD HS phân tích đề bài:
• Nhắc HS chú ý:
+ Đây là cuộc trao đổi giữa em
với người thân trong gia đình, do
đó phải đóng vai với bạn ngồi
cạnh khi trao đổi trong lớp học.
+ Em và người thân phải cùng
đọc một truyện mới trao đổi với
nhau được.
+ Khi trao đổi, hai người phải
thể hiện thái độ khâm phục nhân
vật trong câu chuyện.
- Gọi HS đọc đề
bài
- Ghi bảng đề
bài

- Gọi 1 HS giỏi làm mẫu, trả lời
các câu hỏi theo gợi ý trong
SGK.
- YC HS đọc 3
gợi ý
- 3 HS đọc
nối tiếp
- 5 - 6 HS
- 1 HS giỏi
làm mẫu
- 1 HS giỏi
làm mẫu
10’
4.HS thực hành trao đổi theo
cặp
- YC HS chọn bạn đóng vai
người thân cùng tham gia trao
đổi, thống nhất dàn ý (viết ra
nháp).
- Cho HS thực hành trao đổi, lần
lượt đổi vai cho nhau, góp ý, bổ
xung cho nhau.
- GV giúp đỡ từng nhóm
- HS thực
hành theo cặp
Thời
Gian
Nội dung Hoạt động của
giáo viên
Hoạt động

(2) %
Số
lượng
(3) %
Số
lượng
(4) %
50 38 76 8 16 4 8 0 0


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status