SKKN Sử dụng yếu tố văn học trong việc nâng cao hiệu quả dạy học môn Lịch Sử 9 - Phần lịch sử Việt Nam - Pdf 26

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
“SỬ DỤNG YẾU TỐ VĂN HỌC TRONG VIỆC NÂNG CAO HIỆU
QUẢ DẠY HỌC MÔN LỊCH SỬ 9- PHẦN LỊCH SỬ VIỆT NAM "
1
I. Đặt vấn đề.
1. Cơ sở lí luận.
1.1. Quan điểm của Đảng ta.
Đại hội toàn quốc lần thứ VI của Đảng tháng 12 năm 1986 đã mở ra một bước
ngoặt cho nước ta bằng đường lối đổi mới một cách toàn diện trên tất cả các mặt. Bắt đầu
từ đây, vấn đề giáo dục, khoa học và công nghệ được đặt đúng vị trí và được quan tâm
một cách thích đáng. Tiếp đó, Đại hội Đảng lần thứ VI, VII, VIII, IX, X lần lượt củng cố
và hoàn thiện thêm đường lối đổi mới trong đó coi giáo dục là quốc sách hàng đầu và đề
cao “Chiến lược con người”. Để thực hiện được chiến lược này, rõ ràng không thể xem
nhẹ việc giáo dục lòng yêu quê hương đất nước, tinh thần dân tộc và đặc biệt là thái độ
của lớp trẻ đối với lịch sử, đối với cội nguồn, để xây dựng một nước Việt Nam độc lập,
dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh mà trước hết là thực hiện sự
nghiệp “Công nghiệp hóa, Hiện đại hóa đất nước”.
Như Bác Hồ cũng đã từng nói :
“ Dân ta phải biết sử ta
Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”.
1.2. Đặc điểm bộ môn.
Dạy học lịch sử là một quá trình giáo viên cung cấp cho học sinh những kiến thức
cơ bản của lịch sử nhân loại nói chung cũng như những kiến thức của lịch sử dân tộc
nhằm phục vụ cho việc giáo dục học sinh phát triển toàn diện. lịch sử nó vốn tồn tại
khách quan và đã diễn ra trong quá khứ cho nên muốn học sinh tiếp thu được vấn đề đòi
hỏi giáo viên phải lựa chọn các phương pháp dạy học khác nhau sao cho đạt kết quả cao.
Với phương pháp dạy học mới lấy học sinh làm trung tâm, học sinh chủ động lĩnh
hội tri thức càng đòi hỏi người thầy giáo phải khai thác triệt để các phương pháp dạy học
tích cực để thu hút sự chú ý của học sinh.
Đặc thù của bộ môn Lịch sử là dài, nhiều sự kiện với những mốc Lịch sử khác nhau

2 Môn lịch sử rất khô khan và dài dòng
3 Học lịch sử rất thú vị vì nó giúp em tìm hiểu
được lịch sử loài người và lịch sử dân tộc
4 Học lịch sử chỉ cần học những gì thầy cô cho ghi
là được, không cần phải tìm tòi thêm
Kết qủa thu được như sau:
Câu 1: 48 học sinh trả lời đúng, 27 học sinh trả lời sai
Câu 2: 46 học sinh trả lời đúng, 29 học sinh trả lời sai
3
Câu 3: 61 học sinh trả lời đúng, 14 học sinh trả lời sai
Câu 4: 42 học sinh trả lời đúng, 33 học sinh trả lời sai.
Qua kết quả thu được từ bài tập trắc nghiệm chúng ta có thể kết luận: Đa số học
sinh vẫn coi Lịch sử là môn phụ, khô khan, dài dòng và chỉ cân học những gì mà thầy cô
cho ghi là được.
Trong những năm gần đây kết quả các kì thi đại học, cao đẳng cho thấy đa số học
sinh không nắm được những kiến thức của Lịch sử dân tộc, tỉ lệ điểm môn lịch sử đạt
trên điểm trung bình rất thấp, điều đó làm cho chúng ta không khỏi băn khoăn và càng
thấy sự cấp bách của việc thay đổi phương pháp dạy học. từ những thực trang trên và
nhiều năm giảng dạy bộ môn lịch sử 9 tôi muốn chia sẻ với đồng nghiệp những kinh
nghiệm “Sử dụng yếu tố văn học trong việc nâng cao hiệu quả dạy học môn Lịch sử 9-
Phần lịch sử Việt Nam”.
3. Lịch sử đề tài:
Trước đây cũng đã có một vài giáo viên đã đề cập đến vấn đề này nhưng mới dừng
lại ở mức độ giới thiệu hoặc lấy một vài dẫn chứng nhưng còn sơ sài, chưa cụ thể.
II. ĐỐI TƯỢNG, GIỚI HẠN NGHIÊN CỨU.
1. Đối tượng nghiên cứu: Học sinh lớp 9a, 9b trường Trung Học Cơ Sở Phan
Bội Châu- Xã Eatrang- Huyện M’đrắk- Tỉnh Đắk Lắk.
2. Giới hạn nghiên cứu: Đề tài được thực hiện trong 2 năm là: Năm học 2009-
2010 và 2010- 2011. Nội dung đề tài chỉ giới hạn trong chương trình lịch sử lớp 9- phần
Lịch sử Việt Nam.

Phần lịch sử Việt Nam”
Văn học và sử học có mối quan hệ mật thiết với nhau. Trước đây người ta cho rằng
“ Văn, Sử, Triết bất phân” bởi lúc đó Văn học, Sử học, Triết học chưa trở thành những
môn khoa học độc lập. Còn ngày nay chúng đã trở thành các môn khoa học độc lập
nhưng giữa chúng vẫn có mối quan hệ mật thiết với nhau. Văn học bổ trợ cho Sử học
ngược lại Sử học bổ trợ cho Văn học. Nếu chúng ta biết vận dụng yếu tố Văn học trong
dạy học Lịch sử thì hiệu quả dạy học sẽ được nâng lên.
2. Mẫu minh họa:
Bài 14: Việt Nam sau chiến tranh Thế giới thứ nhất.
Ở mục I. Chương trình khai thác lần thứ hai của thực dân Pháp. Khi giảng đến phần
Thực dân Pháp tăng cường đầu tư vào nông nghiệp và khai mỏ giáo viên có thể minh họa
bằng câu thơ:
“ Em đi ra Hòn Gai cuốc mỏ
Anh đi vào đất đỏ làm phu
Đổi thân được mấy đồng xu
5
Thịt xương vùi gốc cao su mấy tầng”
Hoặc:
“ Cao su đi dễ khó về
Khi đi trai tráng, khi về bụng beo”
Hay:
“ Cao su đi dễ khó về
Khi đi mất vợ, khi về mất con”
Hoặc:
Chúng bóc lột dân ta đến xương tủy, khiến cho dân ta nghèo nàn, thiếu thốn, nước
ta xơ xác, tiêu điều. Chúng cướp không ruộng đất, hầm mỏ, nguyên liệu.
Chúng giữ độc quyền in giấy bạc, xuất cảng và nhập cảng.
Chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lí, làm cho dân ta nhất là dân cày và dân buôn
trở nên bần cùng.
Chúng không cho các nhà tư sản ngóc đầu lên. Chúng bóc lột công nhân vô cùng

8. Có đại biểu thường trực của người bản xứ do người bản xứ bầu ra tại Nghị viện
Pháp để giúp cho Nghị viện biết được nguyện vọng của người bản xứ.
( Trích: Bản yêu sách của nhân dân An Nam)
Hoặc: Khi đọc luận cương của Lê-nin:
“…Luận cương đến Bác Hồ và người đã khóc
Lệ Bác Hồ rơi trên chữ Lê Nin
Bốn bức tường im nghe Bác lật từng trang sách gấp
Tưởng bên ngoài đất nước đợi mong tin
Bác reo lên một mình như nói cùng đất nước
“Cơm áo là đây, hạnh phúc đây rồi”
Hình của Đảng lồng trong hình của nước
Phút khóc đầu tiên là phút Bác Hồ cười…”
Tại mục II. Nguyễn Ái Quốc ở Liên Xô ( 1923-1924).
Tuyết Mát cơ va sáng ấy lạnh trăm lần
Trông tuyết trắng như đọng nghìn nước mắt
Lê Nin mất rồi nhưng Bác chẳng dừng chân
Luận cương của Lê Nin theo người về quê Việt
7
Biên giới còn xa nhưng Bác đã đến rồi
Kìa bóng Bác đang hôn lên hòn đá
Lắng nghe trong màu hồng hình đất nước phôi thai
(Trích: Người đi tìm hình của nước- Chế Lan Viên)
Hoặc:
Tháng giêng, Mạc Tư Khoa tuyết trắng
Một người đi quên rét buốt xương
Anh tìm ai? Lê-nin vĩ đại
Tinh hoa trên đất chất kim cương”
( Trích: Theo chân Bác- Tố Hữu)
Trên đây là dẫn chứng nhằm cung cấp thêm tư liệu cho học sinh “Bản yêu sách của
nhân dân An Nam” của Nguyễn Ái Quốc gửi đến hội nghị Véc-xai. Qua các dẫn chứng

Quyết làm cho nước non này,
Cờ treo độc lập, nền xây bình quyền:
Làm cho con cháu Rồng, Tiên,
Dân ta giữ lấy lợi quyền của ta.
Có mười chính sách bày ra,
Một là ích nước, hai là lợi dân.
Bao nhiêu thuế ruộng, thuế thân,
Đều đem bỏ hết cho dân khỏi phiền.
Hội hè, tín ngưỡng, báo chương,
Họp hành, đi lại, có quyền tự do.
Nông dân có ruộng, có bò
Đủ ăn, đủ mặc, khỏi lo cơ hàn.
Công nhân làm lụng gian nan,
Tiền lương phải đủ, mỗi ban tám giờ.
Gặp khi tai nạn bất ngờ,
Thuốc thang chính phủ bấy giờ giúp cho.
9
Thương nhân buôn nhỏ, bán to
Môn bài thuế ấy bỏ cho phỉ nguyền.
Nào là những kẻ chức viên,
Cải lương đãi ngộ cho yên tấm lòng.
Binh lính giữ nước có công,
Được dân trọng đãi, hết lòng kính yêu.
Thanh niên có trường học nhiều,
Chính phủ trợ cấp trò nghèo, bần nho.
Đàn bà cũng được tự do,
Bất phân nam nữ, đều cho bình quyền.
Người tàn tật, kẻ lão niên,
Đều do chính phủ cất tiền ăn cho.
Trẻ em, bố mẹ khỏi lo,

Người đọc tuyên ngôn rồi chợt hỏi:
Đồng bào nghe tôi nói rõ không?
Ôi! Câu hỏi hơn một lời kêu gọi.
Rất đơn sơ mà ấm bao lòng
Cả muôn triệu một lời đáp : Có !
Như Trường Sơn say gió Biển Đông…”
Bài thơ này giúp học sinh dễ nắm không gian và thời gian Bác Hồ đọc bản Tuyên
ngôn độc lập, giáo dục cho học sinh tình cảm thân thương, gần gũi dành cho Hồ Chủ
Tịch.
Bài 25: Những năm đầu của cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp
( 1946- 1950).
Giáo viên dẫn:
Hỡi đồng bào toàn quốc!
Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân
nhượng thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa.
11
Hỡi đồng bào!
Chúng ta phải đứng lên!
Bất kì đàn ông, đàn bà, bất kì người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái,
dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đáng thực dân Pháp để cứu Tổ quốc.
Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm. Không có gươm thì dùng cuốc
xuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước.
Hỡi anh em binh sĩ, tự vệ, dân quân!
Giờ cứu nước đã đến. ta phải hi sinh đến giọt máu cuối cùng, để giữ gìn đất nước.
Dù phải gian lao kháng chiến, nhưng với một lòng kiên quyết hi sinh, thắng lợi nhất định
về dân tộc ta.
Việt Nam độc lập và thống nhất muôn năm! Kháng chiến thắng lợi muôn năm!
( Trích: Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến- Hồ Chí Minh)
Lời kêu gọi của Chủ Tịch Hồ Chí Minh rất ngắn gọn và súc tích. Lời kêu gọi đã nói
rõ được âm mưu của thực dân Pháp và tinh thần đấu tranh vì độc lập của nhân dân Việt

Bác ơi ! Bác chưa ngủ ?
Bác có lạnh lắm không ?
Chú cứ việc ngủ ngon
Ngày mai đi đánh giặc
Vâng lời anh nhắm mắt
Nhưng bụng vẫn bồn chồn…
(Trích: Đêm nay Bác không ngủ- Minh Huệ)
Bài 27: Cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp xâm lược kết thúc (1953-
1954).
Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ từ lúc mở đầu ngày 13/3/1954 đến khi kết thúc
ngày 7/5/1954 giáo viên giảng thêm:
“ Năm mươi sáu ngày đêm
Khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt
Máu trộn bùn non
Gan không núng, chí không sờn…”
13
Hoặc:
“ Kháng chiến ba ngàn ngày
Không đêm nào vui bằng đêm nay
Đêm lịch sử Điện Biên sáng rực
Trên đất nước, như huân chương trên ngực
Dân tộc ta dân tộc anh hùng”
Hay:
“ Chín năm làm một Điện Biên
Nên vành hoa đỏ, nên thiên sử vàng…”
(Trích: Hoan hô chiến sĩ Điện Biên- Tố Hữu)
Qua các bài thơ này giúp học sinh dễ dàng ghi nhớ thời gian diễn ra chiến dịch
Điện Biên Phủ (56 ngày đêm), chín năm kháng chiến chống Pháp (từ 1946 đến 1954) và
làm cho học sinh hiểu rõ sự hi sinh, gian khổ và đã làm nên một Điện Biên Phủ chấn
động địa cầu.

biết kích thích sự tìm tòi và giúp các em chiếm lĩnh được tri thức.
Đổi mới phương pháp dạy học, lấy học sinh làm trung tâm không có nghĩa là chúng
ta phó mặc cho các em tự chiếm lĩnh tri thức. Ngược lại giáo viên đóng một vai trò vô
cùng quan trọng trong việc lựa chọn phương pháp dạy học sao cho phù hợp . Đề tài này
cũng chỉ dừng lại ở việc vận dụng, khai thác các yếu tố văn học nhằm bổ trợ cho quá
trình dạy học Lịch sử. Rất mong các đồng nghiệp đóng góp thêm tư liệu để đề tài được
hoàn chỉnh hơn.
3. Một số đề xuất.
3.1. Đối với cấp phòng:
Thứ nhất: Thường xuyên tổ chức các buổi tập huấn trao đổi kinh nghiệm cho giáo
viên để giáo viên có cơ hội chia sẻ kinh nghiệm, tháo gỡ những khó khăn trong quá trình
dạy học.
Thứ hai: Cho lưu hành các sáng kiến kinh nghiệm đạt giải trong các cuộc thi viết
sáng kiến kinh nghiệm để giáo viên học hỏi, vận dụng vào dạy học.
3.2. Đối với cấp trường: Thường xuyên tổ chức báo cáo các chuyên đề Lịch sử để
rút kinh nghiệm. Bên cạnh đó cần đầu tư trang bị, xây dựng phòng học bộ môn để phục
vụ cho công tác dạy học.
Trên đây là sáng kiến kinh nghiệm “Sử dụng yếu tố văn học trong việc nâng cao
hiệu quả dạy học môn Lịch sử 9- Phần lịch sử Việt Nam”. Mặc dù đẫ có nhiều cố gắng
nhưng chắc chắn sẽ không tránh khỏi những sai sót. rất mong sự đóng góp ý kiến của các
đồng nghiệp.
Xin cảm ơn !
15
16


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status