SKKN Nâng cao hiệu quả giáo dục lòng tin cho học sinh trong dạy học môn GDCD THPT - Pdf 26

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
"NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIÁO DỤC LÒNG TIN CHO HỌC SINH
TRONG DẠY HỌC MÔN GDCD THPT"
1
A- ĐẶT VẤN ĐỀ
I- Lời nói đầu:
Mục tiêu đào tạo của nhà trường phổ thông chúng ta là hình thành và phát triển toàn diện
nhân cách tốt đẹp cho thế hệ trẻ đó sẽ là những công dân tương lai những người lao động
mới phát triển hài hoà trên tất cả các mặt đức dục, trí dục, mỹ dục, lao động,những người
sẽ xây dựng đất nước ngày càng phồn vinh, sẽ nâng cao đời sống vật chất,tinh thần của
nhân dân ngày càng tươi đẹp và hạnh phúc.
Để hình thành và phát triển những con người như vậy, nhà trường trung học phổ thông
phải có chương trình, nội dung giáo dục,giáo dưỡng phù hợp với đất nước con người Việt
Nam,phù hợp với thời đại.Yêu cầu khách quan đó được quán triệt trong tất cả các chương
trình và nội dung học tập của toàn bộ các môn trong nhà trường nói chung, trong đó có
môn giáo dục công dân(GDCD). Cùng với các môn khoa học khác, môn GDCD góp phần
đào tạo thế hệ trẻ thành những người lao động mới, vừa có tri thức khoa học vừa có đạo
đức, có năng lực hoạt động thực tiễn, vừa có phẩm chất chính trị, tư tưởng, vừa có ý thức
trách nhiệm đối với gia đình và đối với chính bản thân mình. Hơn nữa,.môn GDCD
không chỉ cung cấp cho những công dân tương lai những tri thức vừa khái quát hoá,mà
còn thông qua môn học giúp cho người học hình thành và phát triển phương pháp suy
nghĩ và hành động phù hợp với những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể trong từng giai đoạn
phát triển của lịch sử xã hội loài người.
Với vị trí đó, yêu cầu của môn GDCD là học sinh phải có niềm tin vào tri thức khoa học,
vào cuộc sống, định hướng đúng về chính trị , tư tưởng, đạo đức trong các hoạt động xã
hội, trong cuộc sống hiện tại và sau này. Để đạt được yêu cầu đó đòi hỏi trong giảng dạy
môn GDCD giáo viên phải giáo dục lòng tin cho học sinh đối với tri thức môn học.Với lí
do đó tôi mạnh dạn chọn đề tài “ Nâng cao hiệu quả giáo dục lòng tin cho học sinh trong
dạy học môn GDCD”
II- Thực trạng giáo dục lòng tin cho học sinh trong dạy học môn GDCD

GDCD.
Mặt khác, thực tế hiện nay cho thấy, yêu cầu sử dụng phương pháp mới và các thiết bị
dạy học chưa được thực hiện đồng bộ và còn phụ thuộc vào đối tượng học sinh. Giáo
viên lên lớp giảng bài mới chỉ thực hiện được mục tiêu về kiến thức của bài học, còn mục
tiêu về tư tưởng thái độ chưa được chú trọng. Có giáo viên còn bỏ qua mục tiêu này, do
vậy khi giáo viên chuẩn bị bài giảng và khi giảng bài trên lớp sẽ không đề cập đến việc tạo
dựng lòng tin cho học sinh vào tri thức môn học
2- Kết quả thực trạng:
Vì không thấy được tầm quan trong của môn GDCD nên nhiều giáo viên không đầu tư
cho giáo án,không thật sự tâm huyết trong bài giảng của mình.Do đó dẫn đến một thực tế
là: Các giờ dạy môn GDCD giáo viên không khắc sâu được kiến thức cơ bản và không
3
giáo dục được lòng tin cho học sinh vào những tri thức môn học.Từ chỗ không hiểu bài,
học sinh sẽ không có lòng tin vào tri thức môn học,dẫn đến học sinh không thích học môn
GDCD.Các giờ học tẻ nhạt,nhàm chán học sinh không chú ý học thậm chí có học sinh
còn không ghi bài mang môn khác ra học.Điều này cũng có nghĩa môn học không đáp ứng
được mục tiêu nhiệm vụ đề ra.
Từ thực tế dạy học ở trường trong nhiều năm qua,tôi đã chọn đối tượng thực nghiệm và
đối chứng là học sinh 6 lớp 11: 11B4,11B5,11B6,11B7,11B8,11B9 có số lượng học sinh
như nhau,trình độ nhận thức tương đương nhau,tinh thần thái độ học tập của học sinh 6
lớp đều rất tốt .Tôi tiến hành dạy với 2 cách dạy khác nhau.
Lớp 11B4,11B5,11B6 là 3 lớp thực nghiệm,tôi đã sử dụng phương pháp giáo dục lòng
cho học sinh.Còn 3 lớp: 11B7,11B8,11B9 là các lớp đối chứng trong bài dạy tôi không
sử dụng các phương pháp giáo dục lòng tin.Sau khi dạy xong bài học không sử dụng các
phương pháp giáo dục lòng tin cho học sinh,tôi đã nêu câu hỏi khảo sát thái độ học sinh “
Em có thích học môn GDCD không” Kết quả tôi đã thu được như sau:
Đối tượng điều
tra
Thích học
Bình

a- Phương pháp triết lý hoá:
Để hoàn thành nhiệm vụ đặc biệt này, triết lý hóa là một trong những phương pháp có thể
vận dụng có hiệu quả.
Bản chất của phương pháp triết lý hoá là sự khái quát ở mức độ cao. Một ví dụ của
phương pháp này để khẳng định sự vận động thường xuyên của mọi sự vật, hiện tượng là
câu nói nổi tiếng của nhà triết học cổ đại Hê-ra-clit: “ Không ai có thể tắm hai lần trên
cùng một dòng sông”. Trong kho tàng tục ngữ, ca dao của ta có những triết lý rất sâu sắc.
Về ý nghĩa của lao động đối với đời sống con người có câu “Giàu đâu đến kẻ ngủ trưa,
sang đâu đến kẻ say sưa tối ngày”. Phê phán tệ cờ bạc có câu: “Cờ bạc là bác thằng bần,
của nhà bán hết tra chân vào cùm”.
Giáo viên có thể tự tìm ra những triết lý để giáo dục lòng tin cho học sinh đối với tri thức
môn học. Chẳng hạn, để học sinh tin vào tính khách quan của vật chất, có thể nêu cho các
em triết lý: “Vật chất không tồn tại khách quan thì không có chính con người để họ hàng
ngày cầu khấn thần linh”. Câu triết lý này giáo viên phải giải thích học sinh mới hiểu
được và khi hiểu rồi thì học sinh sẽ thích thú, sẽ không quên nguyên lý duy vật biện
chứng “Vật chất tồn tại khách quan”
b- Phương pháp đấu tranh chống phản diện:
Để giáo dục lòng tin còn có phương pháp đặc trưng khác – phương pháp đấu tranh chống
phản diện. Đó là sự đấu tranh, phê phán quan điểm, tư tưởng trái ngược với quan điểm, tư
tưởng cần giáo dục cho học sinh. Phê phán cái phản diện để bảo vệ vững chắc cái chính
diện. Ngược lại, không phê phán cái lạc hậu, bảo thủ thì cũng khó củng cố được cái đúng,
cái tiến bộ. Thực chất của phương pháp này là vạch ra những tiêu cực, hạn chế, sai trái
của cái đối lập với những tư tưởng, quan điểm cần khác sâu cho học sinh. Chú ý, trong
nhiều bài giảng, sự phê phán mà giáo viên thực hiện không sâu sắc, chỉ nêu lên kết luận
cuối cùng của sự phê phán là duy tâm, phản khoa học, sự phê phán thật sự làm sâu sắc
nhận thức nội dung bài học, tạo nên sự tin tưởng của học sinh vào tính chân lý của tri
thức môn học cụ thể phải vạch ra sự bất hợp lý của quan điểm so với đời sống hiện thực
mà học sinh có thể tiếp thu được. Xin nêu ví dụ cụ thể bài “Quan niệm về đạo đức” sách
giáo khoa GDCD lớp 10 viết: Đạo đức góp phần hoàn thiện nhân cách con người.Đạo
đức giúp cá nhân có ý thức và năng lực sống thiện,sống có ích,tăng thêm tình yêu đối với

Liên hệ thực tế, cùng với ý nghĩa giáo dục đã nêu ra trên đây, còn có tác dụng nâng cao
trình độ học sinh về nhiều mặt. Nó giúp cho học sinh biết vận dụng các tri thức đã tiếp
thu được để lý giải các hiện tượng xã hội, các phẩm chất nhân cách và ngược lại, biết vận
dụng các sự kiện của đời sống thực tế để hiểu lý luận một cách sâu sắc. Như vậy, phương
pháp này làm cho lý luận được nhận thức sâu sắc hơn về mặt thực tế và thực tế được
nhận thức sâu sắc hơn về mặt lý luận. Tuy nhiên trong thực tế dạy học, nhiều trường hợp
phương pháp này không đem lại kết quả cao cho bài giảng. Đó là những sự liên hệ máy
móc, gượng ép không thật sự gắn bó lôgíc với bài học.
Sự liên hệ có tác dụng giáo dục rõ rệt, có tác dụng nâng cao hiệu quả giáo dục của môn
học là đưa những vấn đề lý luận tưởng như rất xa vời, rất cách biệt với thực tại trở về với
6
đời sống sinh động của nhân dân, hoặc vạch ra cơ sở lý luận sâu xa của những hiện tượng
quen thuộc hàng ngày.
II- Các biện pháp để tổ chức thực hiện:
Vận dụng linh hoạt các phương pháp giáo dục lòng tin trong thực tế dạy học:
Giáo dục lòng tin cho học sinh có ý nghĩa rất lớn đối với việc giáo dục tư duy và
vận dụng tri thức môn học vào cuộc sống của học sinh.Tuy nhiên để vận dụng tốt phương
pháp này đòi hỏi giáo viên phải có tay nghề vững vàng và phải có thời gian đầu tư từ
khâu thiết kế bài giảng. Để giáo dục lòng tin cho học sinh giáo viên phải chuẩn bị từ giáo
án. Trong giáo án của mình giáo viên phải thể hiện được mục tiêu về thái độ, tư tưởng
cần giáo dục cho học sinh.
Bên cạnh đó giáo viên phải chuẩn bị được những nội dung và câu hỏi để khắc sâu
kiến thức cơ bản và tạo được lòng tin cho học sinh vào những tri thức khoa học của bài
học.
Tuỳ vào nội dung của từng bài học mà giáo viên có thể vận dụng các phương pháp giáo
dục lòng tin sao cho phù hợp và đạt hiệu quả . Xin nêu ra một ví dụ cụ thể trong chương
trình giáo dục công dân lớp 10 phần” Công dân với việc hình thành thế giới quan và
phương pháp luận khoa học” có thể sử dụng phương pháp triết lý hoá,phương pháp liên
hệ thực tế, phần “ Công dân với đạo đức có thể sử dụng phương pháp đấu tranh chống
phản diện và phương pháp liên hệ thực tế.

gần 10 năm qua trong nhà trường đã giúp các em không ngừng trưởng thành trong nhận
thức hành động Song với lượng kiến thức đó các em vẫn chỉ là học sinh phổ thông chứ
chưa thể trở thành sinh viên.Vậy muốn thay đổi thì cần phải có điều kiện gì?
Học sinh trả lời:Phải trải qua kì thi đại học (phải đỗ đại học).
Giáo viên chỉ rõ: Nếu không thi đỗ đại học thì các em không thể trở thành sinh
viên đại học được.Như vậy sự tích luỹ về lượng (kiến thức.kĩ năng ) của các em vẫn
chưa đủ để cho chất (học sinh) thay đổi.Muốn làm cho chất cơ bản của sự vật hiện tượng
thay đổi (trở thành sinh viên) đòi hỏi lượng của sự vật hiện tượng (kiến thức,kĩ năng )
phải biến đổi (tích luỹ) đến một giới hạn nhất định.Giới hạn mà trong đó sự biến đổi về
lượng chưa làm thay đổi về chất của sự vật và hiện tượng được gọi là “độ”.Khái niệm
“độ” phản ánh sự thống nhất giữa chất và lượng . Vậy sự biến đổi (tích luỹ) đạt đến giới
hạn của độ điều gì sẽ xảy ra? Khi đó sự vật hiện tượng sẽ không còn là nó nữa mà bị thay
thế bởi sự vật hiện tượng mới.Điểm giới hạn mà tại đó sự biến đổi của lượng làm thay đổi
chất của sự vật và hiện tượng được gọi là “điểm nút”.Khi các em vượt qua kì thi đại học
các em sẽ trở thành sinh viên (chất biến đổi). Kì thi đại học được gọi “điểm nút”.
Điều đó khẳng định rằng: Khi sự vật biến đổi về lượng đạt đến một giới hạn nhất
định,Phá vỡ sự thống nhất của chất và lượng,chất cơ bản của sự vật sẽ thay đổi,chất mới
ra đời thay thế chất cũ,sự vật mới ra đời thay thế sự vật cũ.
Giáo viên tiếp tục đặt câu hỏi:Khi các em trở thành sinh viên (chất mới) thì lượng sẽ thay
đổi như thế nào?
8
Học sinh trả lời, giáo viên bổ sung : Chất mới (sinh viên) ra đời lại bao hàm một
lượng mới để tạo thành sự thống nhất giữa chất và lượng đó là sự thay đổi về số lượng
kiến thức,về ngoại ngữ,về khả năng tư duy và khả năng ứng dụng
Giáo viên đưa ra một ví dụ nữa để liên hệ thực tế .Trong hình học: một hình chữ
nhật ( chất) có chiều dài 30cm, chiều rộng 15cm, lượng của nó tồn tại ở quy mô:
Chu vi = (30+15) x 2 = 90 (cm)
Nhưng nếu tăng chiều rộng từ 15 -> 30 cm thì hình chữ nhật sẽ trở thành hình
vuông ( chất mới) . Lúc này lượng mới sẽ là chu vi của hình vuông.
Chu vi = 30 x 4 = 120 (cm)

trong quá trình học tập và rèn luyện của bản thân. Từ nội dung bài học hôm nay, em rút
ra được điều gì cho bản thân ?
- Kết quả thực nghiệm được trình bày trong bảng sau:
Nhìn vào kết quả trên ta thấy kết quả học tập của HS lớp thực nghiệm
( 11 B4, 11B5, 11B6) cao hơn lớp đối chứng ( 11B7, 11B8, 11B9).
Lớp
Giỏi Khá
Trung
bình
Yếu
SL % SL % SL % SL %
11 B4, 11B5,
11B6( TN)
48 36 57 42 30 22 0 0
11B7, 11B8, 11B9
(ĐC)
12 9 30 22 75 56 18 13
Cụ thể là: Loại giỏi ở lớp đối chứng chỉ có 12 học sinh , còn lại đa số các em không rút ra
được bài học cho bản thân. Trong khi đó, lớp thực nghiệm lại nêu được ví dụ và rút ra
được bài học, tỉ lệ HS đạt mức khá, giỏi tăng, tỉ lệ yếu kém giảm. Lớp 11 B4, 11B5,
11B6 là 3 lớp thực nghiệm ( TN ) tôi đã sử dụng phương pháp giáo dục lòng tin trong bài
dạy.
Qua điều tra khảo sát thái độ của học sinh được hỏi sau khi học xong các bài dạy có sử
dụng phương pháp giáo dục lòng tin : Em có thích học môn GDCD không? Tôi đã thu
được kết quả như sau:
Đối tượng điều Thích học Bình thường Không Không tỏ
10
tra thích học thái độ
11B7,11B8,11B9
(135 học sinh)

chiếu Projecter, các phòng chức năng, đồ dùng dạy học, băng đĩa, các tư liệu tham khảo.
Để tạo điều kiện cho giáo viên có thể thực hiện đổi mới phương pháp để bài dạy môn
GDCD đạt hiệu quả hơn.
2. Đối với các trường phổ thông.
11
- Không ngừng yêu cầu giáo viên tự học, tự bồi dưỡng để nâng cao ăng lực chuyên môn,
kiên trì , tích cực đổi mới phương pháp trong giảng dạy nhằm phát huy tốt năng lực học
của trò và dạy của thầy.
- Tạo điều kiện thuận lợi cho giáo viên sử dụng các phương tiện dạy học trong quá trình
giảng dạy .
12


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status