Giải pháp phát triển xuất khẩu mặt hàng cà phê của công ty cổ phần INTIMEX Việt Nam sang thị trường EU trong giai đoạn hiện nay - Pdf 26


“Giải pháp phát triển xuất khẩu mặt
hàng cà phê của công ty cổ phần
INTIMEX Việt Nam sang thị trường
EU trong giai đoạn hiện nay”
1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
1.1Tính cấp thiết của đề tài
Mỗi nước dù lớn hay nhỏ đều tham gia vào sự phân công lao động quốc tế. Ngày
nay không có một dân tộc nào có thể phát triển đất nước mình chỉ bằng tự lực cánh sinh.
Đặc biệt là đối với một dân tộc đang phát triển như Việt Nam thì việc nhận thức đầy đủ
đặc trưng quan trọng này và ứng dụng vào tình hình thực tế đất nước có tầm quan trọng
hơn bao giờ hết. Tại Đại Hội VIII, Đảng ta nhấn mạnh “kiên trì chiến lược hướng về
xuất khẩu đồng thời thay thế nhập khẩu những sản phẩm trong nước có hiệu quả, phát
huy lợi thế so sánh của đất nước cũng như của từng vùng, từng lĩnh vực trong từng thời
kì, không ngừng nâng cao sức mạnh cạnh tranh trên thị trường trong nước, thị trường
khu vực và thị trường thế giới”. Các dân tộc trên thế giới đều nỗ lực xây dựng các cơ
chế chính sách nhằm tạo điều kiện cho xuất khẩu phát triển. Bởi lẽ, xuất khẩu là phương
tiện và là nhân tố chính để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Xuất khẩu mang về ngoại tệ
cho đất nước, một yếu tố vô cùng quan trọng trong thương mại quốc tế. Đồng thời, xuất
khẩu phát triển cũng có tác động rất lớn thúc đẩy sản xuất trong nước phát triển, tăng
thu nhập quốc dân và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân
Cuộc khủng hoảng tài chính thế giới 2008-2009 đã ảnh hưởng không nhỏ tới nền
kinh tế của Việt Nam, nó gây ra khó khăn cho các doanh nghiệp trong nước, đặc biệt là
các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu. Vì thế cần phải có giải pháp phát triển
xuất nhập khẩu cho các doanh nghiệp trong nước nhằm làm tăng kim ngạch xuất khẩu
đảm bảo cho sự cân bằng của cán cân thanh toán trong nền kinh tế. Thêm vào đó, xu
hướng hội nhập sâu và rộng của thế giới hiện nay khiến Việt Nam không thể đứng ngoài
cuộc, buộc nước ta phải có những chính sách để phát triển xuất khẩu các mặt hàng trong
nước, qua đó đưa Việt Nam lên một vị thế mới trên trường quốc tế.

ty sang thị trường EU
Thực trạng của những chính sách nhà nước về khuyến khích xuất khẩu cà phê đối với
các doanh nghiệp trong nước
Các vấn đề về xây dựng thương hiệu và cơ hội hợp tác của doanh nghiệp với thị trường
EU
3

Từ những thực trạng như vậy đưa ra những giải pháp khắc phục, những kiến nghị nhằm
phát triển xuất khẩu cho mặt hàng
1.3 Các mục tiêu nghiên cứu
1.3.1 Về lý luận
Hệ thống lại các vấn đề lý luận liên quan đến phát triển xuất khẩu cà phê sang thị trường
EU. Tập trung vào các nội dung phát triển xuất khẩu gồm đặc điểm mặt hàng cà phê
xuất khẩu, bản chất phát triển xuất khẩu, nội dung phát triển xuất khẩu, các nhân tố ảnh
hưởng, tiêu chí và hệ thống chỉ tiêu đánh giá phát triển xuất khẩu. Đồng thời tìm hiểu
các đặc điểm của thị trường EU để có được những đánh giá tổng hợp các vấn đề gắn
liền với thị trường nghiên cứu, lấy đó làm cơ sở nghiên cứu thực trạng phát triển xuất
khẩu cà phê sang thị trường EU
1.3.2 Về thực tiễn
Dựa trên cơ sở các lý thuyết phát trển xuất khẩu sẽ tiến hành đi vào chỉ rõ các vấn đề
liên quan đến phát triển xuất khẩu cà phê sang thị trường EU
Nghiên cứu thực trạng của việc xuất khẩu mặt hàng cà phê của công ty cổ phần
INTIMEX Việt Nam sang thị trường EU
Nêu ra những hạn chế và nguyên nhân tồn tại của những hạn chế trong quá trình xuất
khẩu mặt hàng cà phê sang thị trường EU. Từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm,
thành công và tồn tại để tiến hành đề xuất các giải pháp thiết thực gắn với yêu cầu thực
tiễn, giúp cho công tác hoạch định chiến lược vĩ mô cũng như các doanh nghiệp tìm
hướng đi cho xuất khẩu cà phê và hướng đến mục tiêu phát triển xuất khẩu bền vững
1.4 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung nghiên cứu: Tiếp cận vấn đề phát triển xuất khẩu mặt hàng cà phê sang

châu Á trong đó Việt Nam và Indo là hai nước xuất khẩu cà phê lớn nhất thế giới
- Cà phê Chè ưa khí hậu mát mẻ có khả năng chịu rét, thường được trồng ở độ cao trên
dưới 200m. Cà phê Chè(Arabica) có nhiều tán lá, hình cứng hoặc hình lưỡi mác. Quả
của loại cà phê chè có hình quả trứng hoặc hình tròn, có màu đỏ tươi, một số giống khi
chín có màu vàng. Loại cà phê này chủ yếu trồng ở Brazin và Colombia với mùi thơm
được nhiều nước ưa chuộng.
Đặc điểm
5

- Cà phê có tính thời vụ cao, đây chính là đặc điểm ảnh hưởng lớn nhất tới kinh doanh
cà phê(ngay cả những nước sản xuất và kinh doanh cà phê lớn như Braxin, Colombia
cũng chịu tác động bởi đặc điểm này).
- Cà phê là cây công nghiệp dài ngày, có thời gian từ lúc đầu tư tới lúc khai thác từ 3 tới
5 năm. Chính đặc điểm này ảnh hưởng rất lớn tới những nhà sản xuất, đặc biệt đại đa số
là những người nông dân ở những nước sản xuất cà phê có nguồn tài chính hạn chế thì
vốn đầu tư ban đầu cho sản xuất cà phê của họ chủ yếu là vay từ các ngân hàng. Mặt
khác do thời gian từ lúc khai thác đưa vào kinh doanh dài nên khi thị trường cà phê có
biến động theo chiều có lợi thì những người trồng cà phê khó có thể nắm bắt cơ hội
ngay được
- Sản xuất cà phê chịu ảnh hưởng nhiều bởi điều kiện thời tiết, tự nhiên.
- Kinh doanh cà phê có tính rủi ro cao, đặc biệt là các hình thức kinh doanh về hợp đồng
tương lai, giá trừ lùi…
b. Phát triển xuất khẩu mặt hàng cà phê
Các khái niệm:
Xuất khẩu là việc cung cấp hàng hoá hoặc dịch vụ cho nước ngoài trên cơ sở
dùng tiền tệ làm phương tiện thanh toán. Cơ sở của hoạt động xuất khẩu là hoạt động
mua bán và trao đổi hàng hoá(bao gồm cả hàng hoá hữu hình và hàng hoá vô hình)
trong nước. Khi sản xuất phát triển và trao đổi hàng hoá giữa các quốc gia có lợi, hoạt
động này mở rộng phạm vi ra ngoài biên giới của các quốc gia hoặc thị trường nội địa
và khu chế xuất ở trong nước (giáo trình kinh tế quốc tế - ĐH thương mại)

Phát triển xuất khẩu mặt hàng cà phê là việc tăng kim ngạch xuất khẩu và tốc độ
xuất khẩu mặt hàng cà phê ra thị trường thế giới, cùng với nó là việc thay đổi cơ cấu
xuất khẩu theo hướng tăng dần tỷ trọng của các sản phẩm có giá trị gia tăng cao, giảm
dần tỷ trọng xuất khẩu mặt hàng cà phê có giá trị gia tăng thấp, hiệu quả mang lại trên
vốn đầu tư là lớn.
Cơ sở để phát triển xuất khẩu cà phê:
Để phát triển xuất khẩu cần xem xét một cách tổng hợp ba vấn đề: Phát triển thị
trường, phát triển nguồn hàng và tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động xuất khẩu cà
phê
7

Phát triển thị trường cà phê: Hiện nay có khoảng hơn 50 quốc gia có trồng cây cà
phê nhưng chỉ một số ít có đủ sản lượng lớn để xuất khẩu. Chính vì vậy có thể thấy tiềm
năng về thị trường cà phê là rất lớn. Tuy nhiên không phải nhu cầu sử dụng cà phê đều
giống nhau ở tất cả các nước. Mỗi một quốc gia, vùng lãnh thổ khác nhau có nhu cầu sở
thích về một loại cà phê khác nhau. thậm chí trong một quốc gia cũng có sự khác biệt
này. Chính vì vậy việc nghiên cứu thị trường và xây dựng chiến lược phát triển thị
trường cho mặt hàng cà phê là cần thiết. Và cũng như các mặt hàng khác thị trường cà
phê có sự cạnh tranh gay gắt giữa các nhà xuất khẩu từ các quốc gia trên thế giới. Chính
vì vậy để có thể cạnh tranh và tồn tại buộc mỗi quốc gia phải nghiên cứu, phát triển
thương mại và mở rộng thị trường theo cả chiều rộng lẫn chiều sâu
Phát triển nguồn hàng cà phê xuất khẩu: Khi đã xác định được nhu cầu của thị
trường thì việc tiếp theo là phải xây dựng và phát triển nguồn hàng cà phê xuất khẩu. Có
được nguồn cung cấp ổn định và đáp ứng những tiêu chuẩn, yêu cầu thị trường sẽ là cơ
hội để các nhà nhập khẩu thâm nhập sâu vào các thị trường tiềm năng để từ đó mở rộng
thị trường. Phát triển nguồn hàng nghĩa là đảm bảo các yếu tố về sản lượng cà phê, chất
lượng cà phê, giá cả và phương tiện phục vụ xuất khẩu. Hơn thế nữa còn phải không
ngừng nâng cao chất lượng cà phê cũng như các giá trị gia tăng trong sản phẩm xuất
khẩu để đảm bảo đáp ứng và thoả mãn nhu cầu trên thị trường
Tạo môi trường cho hoạt động xuất khẩu: Môi trường cho hoạt động xuất khẩu bao

xuất khẩu là với chi phí xuất khẩu nhất định có thể thu được lợi nhuận lớn nhất. Chính
mục đích đó nảy sinh vấn đề phải xem lựa chọn cách nào để đạt được kết quả lớn nhất.
Từ cách nhìn nhận trên ta thấy các chỉ tiêu lượng hàng hoá xuất khẩu, tổng trị giá hàng
hoá xuất khẩu chỉ là những chỉ tiêu thể hiện kết quả của hoạt động xuất khẩu chứ không
thể coi là hiệu quả kinh tế của hoạt động xuất khẩu được, nó chưa thể hiện kết quả đó
được tạo ra với chi phí nào:
Trong hoạt động xuất khẩu, kết quả đầu ra thể hiện bằng số ngoại tệ thu được do xuất
khẩu đem lại và chi phí đầu vào là toàn bộ chi phí doanh nghiệp đã bỏ ra nhưng có liên
quan đến hoạt động xuất khẩu bao gồm chi phí mua hoặc chi phí sản xuất gia công hàng
xuất khẩu, chi phí vận chuyển, bốc dỡ, bảo quản, chi phí sơ chế, tái chế hàng xuất khẩu
9
Hiệu quả kinh tế
=
Kết quả đầu ra
Chi phí đầu vào

và những chi phí trực tiếp hoặc gián tiếp khác gắn với hợp đồng xuất khẩu. Từ những
nhận xét trên ta có công thức tính hiệu quả xuất khẩu như sau:

- Về hài hoà với các mục tiêu về xã hội, mục tiêu về môi trường:
Việc kết hợp hài hoà các mục tiêu sẽ tạo ra một môi trường kinh doanh ổn định,
xã hội phát triển bền vững không làm ảnh hưởng đến môi trường và đáp ứng được các
mục tiêu xã hội khác như giải quyết công ăn việc làm cho người lao động, góp phần
phân công lao động một cách hợp lý
d. Vài nét khái quát về thị trường EU
Thị trường chung EU là một không gian lớn với diện tích 4.422.773 km
2
,

dân số

theo tập đoàn và không theo tập đoàn. Kênh phân phối theo tập đoàn có nghĩa là các nhà
sản xuất và nhà nhập khẩu của tập đoàn chỉ cung cấp hàng hoá cho hệ thống cửa hàng
và siêu thị của tập đoàn mà không cung cấp hàng cho hệ thống bán lẻ của hệ thống
khác. Kênh phân phối không theo tập đoàn thì ngược lại, các nhà sản xuất và nhập khẩu
của tập đoàn này ngoài việc cung cấp hàng hoá cho hệ thống bán lẻ của tập đoàn mình
còn cung cấp hàng hoá cho hệ thống bán lẻ của tập đoàn khác và các công ty bán lẻ độc
lập.
Cà phê Việt Nam tham gia thị truờng EU thường theo kênh phân phối không
theo tập đoàn. Vì các doanh nghiệp Việt Nam thường là doanh nghiệp nhỏ và vừa chưa
có đủ tiềm lực để điều chỉnh cả hệ thống các doanh nghiệp nhập khẩu cà phê của EU.
- Các biện pháp bảo vệ người tiêu dùng của EU:
Một đặc điểm nổi bật trên thị trường EU là quyền lợi của người tiêu dùng rất
được bảo vệ khác hẳn với thị trường các nước đang phát triển. Để đảm bảo quyền lợi
cho người tiêu dùng EU tiến hành kiểm tra các sản phẩm ngay từ nơi sản xuất và có hệ
thống báo động giữa các thành viên, đồng thời bãi bỏ việc kiểm tra các sản phẩm ở biên
giới.
Đối với nhóm mặt hàng nông sản khi nhập khẩu vào thị trường EU, phải đảm
bảo an toàn vệ sinh cao, chất lượng phải đảm bảo chất lượng chung của EU. Đặcbiệt
những sản phẩm này có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng. Đối với cà phê EU chỉ nhập cà phê
vối, cà phê chè Việt Nam xuất khẩu vào thị trường này rất ít do công nghệ chế biến của
ta chưa đảm bảo, chất lượng thua kém rất nhiều cà phê của Brazin, Colombia,…Ngoài
11

ra cà phê của ta xuất khẩu vào EU chủ yếu là cà phê nhân, cà phê thành phẩm, cà phê
hòa tan rất ít, vì ta chưa đáp ứng được các quy định của EU về tỉ lệ trong cà phê hoà tan.
- Chính sách thương mại chung của EU:
+ Chính sách thương mại nội khối
Chính sách thương mại nội khối tập trung vào việc xây dựng và vận hành thị
trường chung Châu Âu nhằm xoá bỏ việc kiểm soát biên giới, lãnh thổ quốc gia, biên
giới hải quan để tự do lưu thông hàng hoá, sức lao động, dịch vụ và vốn, điều hoà các

hàng, chuyển dịch cơ cấu phù hợp…
Giải pháp đối với công ty: Làm tốt công tác nghiên cứu thị trường, nâng cao chất
lượng đội ngũ cán bộ, cải tiến cơ sở vật chất kĩ thuật, huy động và sử dụng vốn một
cách có hiệu quả…
Kiến nghị nhà nước: Chính sách pháp luật, chính sách phát triển xuất khẩu cho
mặt hàng cà phê của nhà nước đối với các doanh nghiệp xuất khẩu cà phê trong nước
13

CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ CÁC KẾT QUẢ PHÂN TÍCH
THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN XUẤT KHẨU MẶT HÀNG CÀ PHÊ CỦA CÔNG
TY CỔ PHẦN INTIMEX VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG EU
2.1 Phương pháp hệ nghiên cứu của các vấn đề
2.1.1 Phương pháp thu thập dữ liệu
Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp: Dữ liệu sơ cấp là các dữ liệu chưa qua xử lý,
được thu thập lần đầu và thu thập trực tiếp từ các đơn vị nghiên cứu thông qua các cuộc
điều tra thống kê. Trong đề tài nghiên cứu đã thu thập dữ liệu sơ cấp dựa vào phương
pháp thiết kế bảng câu hỏi.
Thu thập dữ liệu sơ cấp thông qua các phiếu điều tra phỏng vấn các Trưởng
phòng của công ty (phòng kinh doanh, phòng kinh tế tổng hợp, phòng nhân sự, phòng
kế toán) để tìm hiểu thông tin tổng quát và tìm hiểu sâu tình hình sản xuất kinh doanh
của công ty nhằm phát hiện ra những vấn đề nghiên cứu.
Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp: (số liệu đã qua xử lý ) Dữ liệu thứ cấp rất phong
phú và đa dạng được thu thập thông qua sách báo, đề tài nghiên cứu khoa học, thông
qua các phòng ban của công ty, thống kê của các cơ quan quản lý nhà nước, sổ sách và
các tài liệu của công ty như: báo cáo tài chính, báo cáo xuất khẩu lũy kế 12 tháng của
công ty nộp lên Bộ Công Thương.
2.1.2 Phương pháp phân tích dữ liệu
- Phương pháp so sánh: Từ những số liệu đã thu thập được, tiến hành tính doanh thu, tỷ
trọng,… so sánh kết quả với nhau. Từ đó thấy được tình hình phát triển xuất khẩu mặt
hàng Cà phê của công ty thông qua các chỉ tiêu quy mô, chất lượng, hiệu quả qua các

nước. Công ty xây dụng và tổ chức các kế hoạch ngắn hạn và dài hạn về sản xuất kinh
doanh xuất nhập khẩu gia công lắp ráp, kinh doanh thương mại, dịch vụ thương mại,
kinh doanh khách sạn du lich, liên doanh đầu tư trong nước và ngoài nước theo pháp
luật hiện hành.
Xây dựng các phương án kinh doanh và sản xuất dịch vụ, lập kế hoạch và mục
tiêu chiến lược phát triển của công ty
Nhìn chung công ty thực hiện nhiệm vụ chủ yếu trên hai lĩnh vực:
-Lĩnh vực kinh doanh xuất nhập khẩu
15

-Lĩnh vực kinh doanh thương mại
Điểm lại chặng đường đã qua, ngay từ những ngày đầu mới thành lập đến nay
bằng nghị lực và ý chí vươn lên INTIMEX đã nhanh chóng vượt lên sự trở ngại của cơ
chế sơ cứng thời bao cấp, mạnh dạn đi lên phù hợp với cơ chế của nhà nước và xu
hướng phát triển của thị trường. Các mặt hàng kinh doanh của công ty rất đa dạng và
phong phú bao gồm hầu như tất cả các mặt hàng mà nền kinh tế đòi hỏi. Các mặt hàng
nhập khẩu: máy móc thiết bị như cần cẩu, máy công nghiệp, phụ tùng ôtô xe máy, xe lu,
máy xúc máy nghiền thép, sắt thép, phân bón chất dẻo, sợi, điện thoại, rượu bia Hàng
hoá xuất khẩu: cà phê, hạt tiêu, hạt điều, lạc, chè, cao su, thủ công mỹ nghệ, hải sản,
may mặc, dày dép, rau quả
Nhưng nhìn chung cơ cấu hàng hoá xuất khẩu còn lạc hậu, tỉ trọng hàng thô và
sơ chế tuy có xu hướng giảm nhưng vẫn còn chiếm tỷ trọng cao. Trong đó hoạt động
kinh doanh xuất nhập khẩu chiếm vị trí quan trọng, hàng đầu với tỷ trọng hơn 80%
doanh thu và xuất khẩu chủ yếu. Do đó đòi hỏi công ty phải nâng cao chất lượng sản
phẩm hơn nữa để tăng giá trị hàng xuất khẩu, cạnh tranh được với các nước và thu được
kim ngạch xuất khẩu nhiều hơn.
2.2.2 Thực trạng phát triển xuất khẩu cà phê của Công ty Cổ phần INTIMEX Việt
Nam vào thị trường EU
EU là thị trường nhập khẩu Cà phê từ nhiều nước trên thế giới như Brazin,
Colombia, Indonesia, Việt Nam. Hàng năm EU nhập khẩu khoảng 24,846 triệu bao cà

Như vậy EU là thị trường xuất khẩu cà phê lớn của Công ty, với kim ngạch xuất
khẩu cà phê năm 2007 là khoảng 40 triệu USD chiếm hơn 50% kim ngạch xuất khẩu
toàn mặt hàng của công ty, năm 2008 còn hơn 22 triệu USD và năm 2009 là hơn 6 triệu
USD
Các năm trở lại đây do ảnh hưởng của khủng hoảng nên kim ngạch xuất khẩu của công
ty sang EU giảm mạnh, song tại thị trường này công ty đã có những bạn hàng thân thiết
tạo điều kiện cho xuất khẩu mặt hàng của công ty bền vững.
-Cơ cấu sản phẩm cà phê
Bảng 2.3: Cơ cấu cà phê xuất khẩu của Intimex vào EU
Loại cà phê Arabica Robusta
Loại 1 Loại 2 Loại 1 Loại 2
Độ ẩm 12.5 % 12.5 % 12.5 % 13 %
Hạt đen vỡ 3 % 5 % 3 % 5%
Tạp chất 0.3% 0.5 % 0.5 % 1 %
Hạt cỡ N.16 90 % 90 %
Hạt cỡ N.13 90% 90 %
(Nguồn: Báo cáo 2009 của công ty)
Từ trước năm 2000 thì công ty hầu hết chỉ xuất khẩu cà phê nhân. Loai cà phê này
không qua chế biến do đó giá trị xuất khẩu không cao. Mấy năm trở lại đây do nhu cầu
tiêu dùng cà phê của EU tăng lên, hơn nữa chủng loại cũng như cơ cấu sản phẩm cũng
đòi hỏi đa dạng hơn. Do đó công ty cũng đã tìm mọi cách đa dạng hoá sản phẩm cà phê
17

xuất khẩu vào thị trường này. Ngoài cà phê nhân còn có cà phê hoà tan, cà phê thành
phẩm. Loại cà phê hoà tan này còn chưa chiếm được thị hiếu tiêu dùng của người tiêu
dùng EU nên lượng cà phê này xuất khẩu vào thị truờng EU chiếm một tỉ lệ thấp chỉ
khoảng 4-5%. Ngoài ra cũng có cà phê thành phẩm nhưng tỉ lệ này cung không cao, chỉ
khoảng 7-9%
Bảng 2.4: Cơ cấu thị trường xuất khẩu cà phê của công ty
Đơn vị: USD

Công ty chủ yếu xuất khẩu cà phê Robusta, giá của loại cà phê này thường thấp hơn
giá thế giới từ 100-200 USD/tấn. Nguyên nhân chính là do chất lượng cà phê xuất khẩu
của Việt Nam chưa ổn định. Hơn nữa giá cà phê xuất khẩu của Việt Nam phụ thuộc vào
giá cà phê thế giới mà giá cà phê trên thế giới không ổn định lên xuống thất thường.
Trong khi đó, tiêu thụ cà phê năm 2010 trên phạm vi thế giới ước tính sẽ đạt 132 triệu
bao, tăng so với mức 130 triệu bao của năm trước. Mặc dù dự báo nguồn cung sẽ giảm
trong khi cầu lại tăng nhưng giá xuất khẩu cà phê của Việt Nam trong nhiều tháng qua
lại giảm mạnh, đặc biệt giá bình quân xuất khẩu cà phê của Việt Nam trong những
tháng đầu năm chỉ đạt trung bình khoảng 1370 USD/tấn, đây là mức thấp nhất kể từ
tháng 11/2006.
-Chất lượng cà phê xuất khẩu của công ty
Hiện nay công ty xuất khẩu cà phê theo 3 mức chất lượng phổ biến, theo các tiêu
chuẩn như sau: tiêu chuẩn độ ẩm, tạp chất, hạt đen vỏ, kích thước hạt. Cà phê xuất khẩu
của công ty chủ yếu là các loại R2 với các loại chuẩn sau:
+ Tỷ lệ hạt đen vỡ là 8%
+ Độ ẩm cao nhất 13,5%
+ Tạp chất 1%
Cà phê R1 với các loại chuẩn:
+ Tỷ lệ hạt đen vỡ 2%
+ Độ ẩm cao nhất 12%
+ Tạp chất 1%
Trên thực tế khi buôn bán giao dịch khách hàng EU quan tâm nhiều đến chỉ tiêu
ngoại hình như kích thước hạt, màu sắc, độ ẩm và các khuyết tật khác không theo một
tiêu chuẩn cụ thể nào. Về kích thước hạt: đây là một chỉ tiêu quan trọng có ý nghĩa cả về
chất lượng cũng như năng suất cà phê
19

+ Loại 1 hạt có kích thước trên sàng N16 (6,3mm)
+ Loại 2 hạt có kích thước trên sàng N14 (5,6mm)
+ Loại không sử dụng được lọt sàng N10 (4,2mm)

Nhân tố thu nhập, mức sống của người dân: Thị trường EU là thị trường lớn có
mức thu nhập cao, giá cả rẻ không phải là điều kiện để quyết định mua hàng hay không
mà giá cao đôi khi lại là yếu tố để đánh giá chất lượng sản phẩm và quyết định mua
hàng. Ngưới dân Việt Nam thì lại khác giá rẻ là yếu tố quyết định cho việc mua hàng.
Trong việc sản xuất cà phê xuất khẩu cũng vậy, người dân Việt Nam khi có sự giảm sút
về giá cả là bỏ cây cà phê đi trồng cây khác. Điều này ảnh hưởng nhiều đến cung cà
phê. Thu nhập có ổn định thì nhu cầu tiêu dùng mới thường xuyên khi đó mới taọ điều
kiện cho sản xuất phát triển được.
Yếu tố văn hoá, xã hội:
Văn hoá khác nhau cũng quy định viêc xuất nhập hàng hoá khác nhau. Nền văn
hoá của một quốc gia được hình thành từ lâu và trở thành thói quen với người dân của
nước đó. Việc xuất khẩu cà phê sẽ mang văn hoá của ta vào nước nhập khẩu.Nếu như ta
cố tình giữ cho văn hoá Việt Nam thì đôi khi nó lại là cản trở cho việc xuất khẩu vào thị
trường EU. EU đánh giá rất cao về nguồn gốc xuất xứ cà phê, tuy nhiên ở Việt Nam thì
việc sản xuất cà phê phân tán, việc thu mua là tập trung từ nhiều đơn vị nhỏ lẻ, hộ gia
đình. Điều này rất khó cho Việt Nam trong việc lấy tên xuất xứ sản phẩm cà phê
Nhân tố chính trị:
Nhân tố chính trị ổn định là cơ hội để mở rộng phạm vi thị trường, song nó cung
có rào cản lớn hạn chế khả năng xuất khẩu nếu như tình hình chính trị không ổn định.
Việt Nam ta có điều kiện chính trị tương đối ổn định, do vậy không chỉ là điều kiện tốt
để yên tâm sản xuất cà phê mà còn hấp dẫn các nhà đầu tư kinh doanh cà phê vì đây
chính là nguồn hàng ổn định cho họ. Thị trường EU bao gồm các quốc gia độc lập về
chính trị và khá ổn định trong chính sách chiến lược phát triển kinh tế. Vì vậy sẽ giúp
cho Việt Nam có thị trường ổn định.
21

Yếu tố khoa học công nghệ:
Các yếu tố khoa học công nghệ có quan hệ chặt chẽ với các hoạt động kinh tế nói
chung và với hoạt động xuất khẩu cà phê nói riêng. Khoa học công nghệ ngày càng phát
triển làm cho sự giao thương giữa các đối tác ngày càng dễ dàng hơn. Khoảng cách

Đội ngũ cán bộ này đề ra các chiến lược kinh doanh xuất khẩu cho công ty. Đội ngũ lao
động sản xuất có kinh nghiệm, cân cù chịu khó, tích cực tìm kiếm áp dụng khoa học kỹ
thuật
- Ngoài các yếu tố về cơ sở vật chất kỹ thụât, cán bộ công nhân viên, còn có các yếu tố
khác như uy tín của doanh nghiệp, thương hiệu, văn hoá trong doanh nghiệp sẽ tạo nên
tinh thần cho doanh nghiệp
2.3 Kết quả phân tích các dữ liệu thu thập
Công ty cổ phần Intimex Việt Nam là một trong những công ty đi đầu trong lĩnh
vực xuất khẩu các mặt hàng nông sản với số vốn điều lệ 250 tỷ đồng, hàng năm nộp cho
ngân sách nhà nước một khoản khá lớn đóng góp vào công cuộc phát triển đất nước,
hoàn thành mục tiêu công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước.
Bảng 2.5: Các khoản nộp ngân sách nhà nước 2003-2007
Đơn vị tính: Triệu đồng
Năm
Các khoản mục
2003 2004 2005 2006 2007
1. Thuế GTGT 35.941 30.060 34.896 34.644 43.437
2. Thuế xuất nhập khẩu 37.648 50.859 74.312 90.452 93.102
3. Thuế TTĐB 1.794 2.577 3.824 4.612 763
4.Thuế TNDN 576 748 515 915 30.283
5. Phụ thu hàng NK (thuế
vốn)
743 803 703 678 714
6. Các khoản phí nộp khác 224 160 236 240 730
Tổng 76.926 91.207 114.486 130.780 169.029
(Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh)
Tổng kim ngạch xuất khẩu tất cả các mặt hàng của công ty đạt gần 70 triệu USD(2007),
gần 50 triệu USD(2008) và gần 30 triệu USD(2009), trong đó xuât khẩu vào thị trường
EU vẫn chiếm đa số kim ngạch xuất khẩu
23

nhập khẩu chính là tăng cường mối quan hệ hợp tác với các nước thúc đẩy tiến trình hội
nhập kinh tế nhanh hơn. Công ty luôn coi trọng việc nghiên cứu phát triển thị trường
xuất khẩu. Nếu như trước đây thị trường xuất khẩu cà phê chỉ thu hẹp ở các nước trong
hệ thống xã hội chủ nghĩa thì ngày nay đã có mặt trên nhiều quốc gia trên toàn thế giới.
Có được thành tựu trên là do công ty đã nghiên cứu rõ thị trường, nắm bắt nhu cầu của
từng thị trường. Với mục tiêu giữ vững thị trường dễ tính, len chân vào những thị
trường khó tính như vậy đã tạo cho Việt Nam một thị trường tiêu thụ cà phê hết sức
rộng lớn. Điều này đã khẳng định vị thế Việt Nam trên trường quốc tế.
- Thành công lớn của công ty đó là việc ứng dụng khoa học kỹ thuật vào việc sản
xuất cà phê xuất khẩu. Việc đa dạng hoá chủng loại cây cà phê được bắt đầu từ công tác
nghiên cứu giống cà phê, các giống có năng suất cao, phẩm chất tốt. Trong khâu chăm
sóc với việc cung cấp nước, ánh sáng đủ cho cây cà phê nhất là trong thời kỳ cây cà phê
sinh trưởng đã góp phần hạn chế sâu bệnh cho cây.
- Ngoài ra Intimex có một đội ngũ cán bộ, lao động có kiến thức kinh nghiệm
trong việc sản xuất, xuất khẩu cà phê. Đây là một trong những yếu tố hết sức quan trọng
tạo nên thành công cho công ty. Đội ngũ cán bộ giỏi về kiến thức thị trường, am hiểu
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status