Đánh giá về trách nhiệm của gia đình trong việc bảo vệ các quyền cơ bản của trẻ em - Pdf 26

LỜI MỞ ĐẦU
Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em (BVCSGD) là một trong những
truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, gia đình là tế bào của xã hội, là
cái nôi hình thành nhân cách của trẻ , tạo cơ hội cho trẻ em phát triển toàn
diện về thể chất và trí tuệ, tinh thần, xứng đáng là chủ nhân tương lai của đất
nước. Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em là trách nhiệm của toàn xã hội mà
trước hết phải là trách nhiệm của gia đình. Bên cạch những kết quả đã đạt
được vẫn còn tồn tại những hạn chế trong việc bảo vệ các quyền cơ bản của
trẻ em ở một bộ phận gia đình, do đó việc việc nâng cao trách nhiệm của gia
đình có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sự phát triển lành mạnh của trẻ
em. Nhận thấy tầm quan trọng của vấn đề này nhóm chúng em xin“Đánh giá
về trách nhiệm của gia đình trong việc bảo vệ các quyền cơ bản của trẻ
em” từ đó đưa ra những phương hướng hoàn thiện vấn đề này.
NỘI DUNG
I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
1. Những quy định của pháp luật về việc bảo vệ các quyền cơ bản của
trẻ em
Trẻ em là một thuật ngữ nhằm chỉ một nhóm xã hội thuộc về một độ tuổi
nhất định trong giai đoạn đầu của sự phát triển con người”. Trẻ em là những
người chưa trưởng thành, còn non nớt về thể chất và trí tuệ, dễ bị tổn thương,
cần được bảo vệ, chăm sóc và giáo dục (BVCSGD) đặc biệt, kể cả sự bảo vệ
thích hợp về mặt pháp lý trước cũng như sau khi ra đời.
Khái niệm trẻ em được quốc tế sử dụng thống nhất và đã được đề cập
trong Tuyên ngôn Giơ-ne-vơ năm 1924, Tuyên ngôn của Liên hợp quốc về
quyền trẻ em năm 1959, Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1968,
Công ước quốc tế về quyền kinh tế, xã hội và văn hóa năm 1966, Công ước
quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966, Công ước Liên hợp quốc
về quyền trẻ em năm 1989, Công ước 138 của Tổ chức lao động quốc tế
(ILO) về tuổi tối thiểu làm việc năm 1976. Ở Việt Nam, từ xưa Luật Hồng
Đức là tên gọi thông dụng của bộ Quốc triều hình luật thời Lê sơ hiện còn
được lưu giữ đầy đủ trong đó có những quy định về quyền trẻ em. Tiếp theo

Trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng con là bình đẳng giữa cha và mẹ.
Song trên thực tế vẫn có tình trạng một số trẻ em chỉ được cha hoặc mẹ trực
tiếp nuôi dưỡng. Vì vậy, Khoản 4 Điều 24 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục
trẻ em quy định “Trong trường hợp ly hôn hoặc các trường hợp khác, người
cha hoặc người mẹ không trực tiếp nuôi con chưa thành niên phải có nghĩa vụ
đóng góp để nuôi dưỡng con đến tuổi thành niên, có trách nhiệm chăm sóc,
giáo dục con theo quy định của pháp luật”.
II. Đánh giá trách nhiệm của gia đình trong việc bảo vệ các quyền
cơ bản của trẻ em
Kết quả đạt được
1. Quyền được khai sinh và có quốc tịch
Con người ai cũng mang trong mình những ước mơ, hoài bão. Những
ước mơ đó có thể được hình thành từ khi còn là trẻ nhỏ, giấy khai sinh có ỹ
nghĩa vô cùng quan trọng để đảm bảo cho những ước mơ đó trở thành hiện
thực mà đầu tiên là được đến trường. Khoản 1 Điều 11 Luật bảo vệ, chăm
sóc và giáo dục trẻ em quy định “Trẻ em có quyền được khai sinh và có quốc
tịch”. Theo quy định của pháp luật thì “Cá nhân khi sinh ra có quyền được
khai sinh" (Điều 29 Bộ Luật Dân sự năm 2005).
Đăng ký khai sinh nhằm xác định họ, tên, chữ đệm, ngày, tháng, năm
sinh, giới tính, dân tộc, quốc tịch, quan hệ cha, mẹ, con của một người mà
được pháp luật công nhận và làm căn cứ pháp lý chứng minh đó là một cá
nhân, một chủ thể riêng biệt trong xã hội. Giấy khai sinh là giấy tờ hộ tịch
gốc của một cá nhân. Mọi hồ sơ, giấy tờ của cá nhân có nội dung ghi về họ,
tên, chữ đệm, ngày, tháng, năm sinh, giới tính, dân tộc, quốc tịch, quan hệ
cha, mẹ, con phải phù hợp với Giấy khai sinh của người đó.
Khoản 1 Điều 23 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định “Cha
mẹ, người giám hộ có trách nhiệm khai sinh cho trẻ em đúng thời hạn”. Theo
quy định, cha mẹ, người giám hộ là người chịu trách nhiệm chính về đăng ký
khai sinh và yêu cầu là việc khai sinh cho trẻ em phải đúng thời gian quy
định.

nước và xã hội. Điều 65 Hiến pháp năm 1992 ghi nhận "Trẻ em được gia
đình, Nhà nước và xã hội bảo vệ, chăm sóc và giáo dục”.
Tuy nhiên cũng tồn tại những con số đáng buồn là tình trạng trẻ em
dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng vẫn còn cao, trung bình gần 30% (nhất là tại
các tỉnh Tây Nguyên và miền núi phía Bắc). Số trẻ nhiễm HIV/AIDS, tính
đến tháng 12-2007, trẻ dưới 13 tuổi chiếm 1,7% (khoảng 2.700 em); trẻ từ 13
- 19 tuổi chiếm 4,5% (khoảng 7.000 em); khoảng 22.000 trẻ mồ côi do bố,
mẹ chết bởi HIV/AIDS. Tai nạn thương tích trẻ em xảy ra do rất nhiều
nguyên nhân, đặc biệt là tai nạn giao thông (27%), chết đuối (23%) và ngộ
độc Một số loại bệnh tật của trẻ em ở lứa tuổi học đường như cận thị, cong
vẹo cột sống, rối nhiễu tâm trí... chưa được các bậc phu huynh chú ý Một số
nhóm đối tượng trẻ em đặc biệt chưa được đưa vào Luật Bảo vệ, chăm sóc và
giáo dục trẻ em, như trẻ em bị lạm dụng, bạo lực, trẻ em bị tai nạn thương
tích, trẻ em bị ảnh hưởng từ các vụ ly hôn, con nuôi, trẻ em di cư, bị mua bán,
trẻ em sống trong các hộ nghèo...Vấn đề truyền thông giáo dục, việc phổ biến
kỹ năng bảo vệ và chăm sóc trẻ em ở một bộ phận gia đình còn thiếu chiều
sâu, đặc biệt là ở miền núi, vùng sâu, vùng xa.

3. Quyền sống chung với cha mẹ
Điều 13 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định “Trẻ em có
quyền sống chung với cha mẹ. Không ai có quyền buộc trẻ em phải cách ly
cha mẹ, trừ trường hợp vì lợi ích của trẻ em”. Theo quy định của pháp luật thì
cha mẹ có nghĩa vụ và quyền sống chung với con. Như vậy, cả cha mẹ và con
chưa thành niên đều có quyền sống chung, trừ trường hợp vì lợi ích của trẻ
em.
Quy định này hoàn toàn phù hợp và cụ thể hóa thêm các quy định tại
Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam hiện hành. Theo các quy định đó thì:
Quyền sống chung với cha mẹ là quyền tự nhiên, tất yếu và bất khả xâm
phạm của mọi trẻ em, kể cả trong trường hợp trẻ em là con riêng của vợ hoặc
chồng. Trong trường hợp cha mẹ ly hôn, theo quy định tại điều 92 Luật Hôn

khung hình phạt nghiêm khắc đối với những hành vi của người lớn xâm
phạm đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm của trẻ em.
Tuy nhiên, trong thực tiễn cuộc sống, trẻ em còn nhỏ tuổi và thường
được coi là người phụ thuộc, nên trong quan hệ của gia đình và xã hội, vẫn
còn nhiều cha mẹ, anh chị em và người lớn hay coi thường trẻ em, gọi là “trẻ
con”, mắng chửi trẻ em đến mức không tôn trọng nhân phẩm, danh dự của trẻ
em. Do vậy, cần tăng cường tuyên truyền, vận động nhằm làm thay đổi quan
niệm và hành vi đối xử với trẻ em theo hướng tôn trọng quyền này của trẻ
em.Tuy nhiên, trong thực tiễn cuộc sống thì việc bảo vệ tính mạng, thân thể,
nhân phẩm, danh dự của trẻ em cần thường xuyên được chú trọng để thực
hiện các biện pháp phòng ngừa tai nạn thương tích cho trẻ em. Với quan
niệm, trẻ em là "trẻ con", "yêu cho roi cho vọt" đã dẫn tới cách xử sự mà
trong điều kiện hiện nay được đánh giá là thiếu tôn trọng nhân phẩm, danh dự
của trẻ em. Với lối sống tùy tiện trong sinh hoạt và trong những việc làm cụ
thể có thể dẫn tới nguy cơ gây tai nạn về tính mạng, nhân phẩm, danh dự của
trẻ em.
5. Quyền được chăm sóc sức khoẻ
Khoản 1 Điều 15 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định
“Trẻ em có quyền được chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ”. Khoản 1 Điều 1 Luật
bảo vệ sức khoẻ nhân dân năm 1989 quy định “Công dân có quyền được bảo
vệ sức khoẻ, nghỉ ngơi, giải trí, rèn luyện thân thể; được bảo đảm vệ sinh
trong lao động, vệ sinh dinh dưỡng, vệ sinh môi trường và được phục vụ về
chuyên môn y tế”.
Khoản 1 Điều 27 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định
“Cha mẹ, người giám hộ có trách nhiệm thực hiện những quy định về kiểm
tra sức khoẻ, tiêm chủng, khám bệnh, chữa bệnh cho trẻ em”. Quy định này
khẳng định trách nhiệm trước tiên thuộc về cha mẹ, người giám hộ và đòi hỏi
cha mẹ, người giám hộ phải có kiến thức, sự hiểu biết và thực hiện đầy đủ
các hướng dẫn, quy định về phòng bệnh và chữa bệnh cho trẻ em.


Trách nhiệm của gia đình trong việc bảo đảm điều kiện học tập của trẻ
như chăm sóc, nuôi dưỡng (ăn, mặc, ở, đi lại cho trẻ em); xây dựng gia đình
văn hoá (tinh thần thoải mái cho trẻ em); các thành viên trong gia đình gương
mẫu, giúp đỡ, hướng dẫn trẻ em học tập; tạo điều kiện trực tiếp cho trẻ em
học tập về bảo đảm thời gian học tập ở lớp và tự học ở nhà, cung cấp đủ sách
vở, dụng cụ học tập, bố trí góc học tập, đóng góp các khoản chi phí học tập
theo quy định và phối hợp chặt chẽ với nhà trường trong việc giúp đỡ việc
học tập, tu dưỡng đạo đức của trẻ em.
Bậc tiểu học là bắt buộc, đây là nghĩa vụ của mỗi công dân, cha mẹ,
người giám hộ có trách nhiệm bảo đảm cho trẻ em học hết chương trình giáo
dục phổ cập. Giáo dục tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở
ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất,
thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học trung học cơ sở.
Tri thức là vô hạn, nên nhiệm vụ học, học nữa, học mãi luôn là nghĩa
vụ của công dân, đặc biệt là trẻ em để thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà
nước ta nhằm tạo ra "một xã hội học tập". Vì vậy, gia đình với vai trò đặc biệt
quan trọng phải có trách nhiệm với khả năng cao nhất có thể được để tạo điều
kiện cho trẻ em theo học ở trình độ cao hơn. Việc học tập của trẻ em không
chỉ học tập tri thức, kỹ năng mà cả học tập thẩm mỹ, truyền thống, đạo đức,
niềm tin và pháp luật thông qua giáo dục nhà trường, giáo dục gia đình và
giáo dục xã hội.
Hiện nay, việc học tập của trẻ em được gia đình và xã hội đặc biệt quan
tâm. Các bậc phụ huynh đã nhận thức rõ hơn tầm quan trọng của việc học tập
đối với trẻ. Do đó, cha mẹ đã tạo những điều kiện tốt nhất cho việc học tập
của trẻ: cho trẻ đi lớp từ khi còn rất nhỏ, theo học những lớp năng khiếu, mua
đồ dùng trang thiết bị phục vụ cho học tập của trẻ…Tuy nhiên, việc nhận thức


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status