Kế toán bán hàng máy tính, máy tính bảng của Công Ty Cổ Phần Giải Pháp Ccông Nghệ VTECOM - Pdf 26

TÓM LƯỢC
Những năm gần đây, nền kinh tế thế giới nói chung và kinh tế Việt Nam nói
riêng gặp rất nhiều khó khăn. Nhìn chung là tăng trưởng kinh tế chậm lại, thất nghiệp
tăng cao, sức mua hạn chế, nợ công nhiều hơn. Các doanh nghiệp Việt Nam phải đối
mặt với áp lực lớn là không tiếp cận được vốn mà hàng hóa bán ra chậm lại, nợ nần
chồng chất khiến tình hình kinh doanh ảm đạm lại càng trì trệ hơn. Đứng trước tình thế
này, các doanh nghiệp phải có sự linh hoạt nhạy bén trong công tác quản lý, tổ chức
tốt công tác bán hàng, có chiến lược bán hàng thích hợp nhằm chủ động thích ứng với
môi trường nắm bắt cơ hội, huy động có hiệu quả nguồn lực hiện có và lâu dài để bảo
toàn và phát triển vốn, nâng cao hiệu quả kinh doanh .
Nhận thức được vài trò quan trọng của công tác kế toán bán hàng đối với doanh
nghiệp thương mại, cùng với kiến thức đã học được ở nhà trường và qua thời gian thực
tập tại Công Ty Cổ Phần Giải Pháp Công Nghệ VTECOM em đã chọn đề tài: “ Kế
toán bán hàng máy tính, máy tính bảng của Công Ty Cổ Phần Giải Pháp Ccông
Nghệ VTECOM”
Về lý luận, đề tài đã hệ thống hóa và làm rõ hơn những vấn đề cơ bản về kế
toán bán hàng theo quy định của chuẩn mực kế toán Việt Nam cũng như yêu cầu của
chế độ kế toán hiện hành.
Về thực tiễn, luận văn đã làm rõ thực trạng kế toán bán mặt hàng máy tính, máy
tính bảng tại Công Ty Cổ Phần Giải Pháp Công Nghệ VTECOM với những nội dung
sau: đặc điểm và yêu cầu quản lý nghiệp vụ; tổ chức hạch toán ban đầu; vận dụng tài
khoản và tổ chức hệ thống sổ kế toán. Trên cơ sở đó luận văn đã chỉ ra những ưu điểm
cũng như hạn chế trong kế toán bán hàng của Công ty cần phải khắc phục. Đối chiếu
giữa thực tế với lý luận, đề tài đã đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện kế toán
bán hàng tại đơn vị thực tế. Các giải pháp đề xuất là có tính khả thi, phù hợp với đặc
điểm hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong hiện tại cũng như tương lai.
i
LỜI CẢM ƠN
Do thời gian thực tập có hạn cùng với nhận thức còn hạn chế nên luận văn
không thể tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong nhận được sự chỉ bảo và hướng
dẫn của thầy cô khoa kế toán cùng toàn thể anh chị trong phòng kế toán của Công Ty

TM: Thương mạ
v
PHẦN MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết, ý nghĩa của đề tài nghiên cứu.
Cùng với xu thế hội nhập kinh tế như hiện nay, khi khoa học công nghệ đang
được các bạn trẻ ưa chuộng đặc biệt là các thiết bị thông minh của Apple, đã mở ra cho
các DN kinh doanh có nhiều cơ hội lớn cùng với những thách thức không nhỏ. Một
trong những chiến lược mũi nhọn của các DNTM kinh doanh máy tính là tập trung vào
khâu bán hàng. Bởi nếu DN nào tổ chức tốt nghiệp vụ tiêu thụ hàng hóa đảm bảo thu
hồi vốn, bù đắp các chi phí đã bỏ ra sẽ có điều kiện tồn tại và phát triển. Ngược lại, nếu
DN nào không tiêu thụ được hàng hóa của mình thì sớm muộn cũng đi đến chỗ phá
sản. Xây dựng tổ chức công tác hạch toán kế toán khoa học hợp lý là một trong những
cơ sở cung cấp thông tin quan trọng nhất cho việc ra quyết định điều hành kinh doanh
có hiệu quả. Trong đó biện pháp quan trọng nhất, hiệu quả nhất phải kể đến là thực
hiện tốt công tác kế toán bán hàng.
Là một DN hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh các sản phẩm của Apple, kế toán bán
hàng máy tính, máy tính bảng tại giữ vai trò hết sức quan trọng, là phần hành kế toán
chủ yếu trong công tác kế toán của DN. Góp phần phục vụ đắc lực hoạt động bán hàng
của DN, giúp DN tăng nhanh khả năng thu hồi vốn, kịp thời tổ chức quá trình kinh
doanh tiếp theo, cung cấp thông tin nhanh chóng để từ đó DN phân tích, đánh giá lựa
chọn các phương án đầu tư có hiệu quả. Qua thời gian thực tập tại Công ty Cổ Phần
Giải Pháp Công Nghệ Vtecom, em nhận thấy một số vấn đề về kế toán bán hàng máy
tính vẫn chưa hoàn thiện, còn nhiều bất cập trong việc tổ chức bộ máy kế toán, trong
khâu luân chuyển chứng từ hay trong việc thực hiện về hóa đơn chứng từ sao cho đúng
quy định Từ đó có thể thấy rằng việc nghiên cứu kế toán bán hàng máy tính, máy
tính bảng của Công Ty Cổ Phần Giải Pháp Công Nghệ Vtecom là một vấn đề có tính
cấp thiết trong bối cảnh hiện nay.
2. Mục tiêu cụ thể đặt ra cần giải quyết trong đề tài.
2.1 Mục tiêu nghiên cứu chung
Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về kế toán bán hàng, quản lý công

2
Chương II: Thực trạng kế toán bán hàng máy tính, máy tính bảng tại Công Ty CP Giải
Pháp Công Nghệ Vtecom
Chương III: Các kết luận và đề xuất nhằm hoàn thiện kế toán bán hàng máy tính, máy
tính bảng tại Công Ty CP Giải Pháp Công Nghệ Vtecom
3
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN BÁN HÀNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP
THƯƠNG MẠI.
1.1 Cơ sở lý luận chung về kế toán bán hàng trong các doanh nghiệp thương mại.
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản.
1.1.1.1 Khái niệm bán hàng.
Bán hàng là khâu cuối cùng trong quá trình hoạt động kinh doanh của một
DNTM, nó chính là quá trình chuyển giao quyền sở hữu về hàng hóa từ tay người bán
sang tay người mua để nhận quyền sở hữu về tiền tệ hoặc quyền được đòi tiền ở người
mua (giáo trình kế toán tài chính doanh nghiệp thương mại – trường Đại Học Thương
Mại).
1.1.1.2 Khái niệm doanh thu.
Doanh thu: Là tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được trong kỳ kế
toán, phát sinh từ các hoạt động sản xuất kinh doanh thông thương của doanh nghiệp,
góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu (Theo Chuẩn mực 14 - Doanh thu và thu nhập
khác).
Doanh thu bán hàng: Là toàn bộ số tiền bán sản phẩm, hàng hóa cho khách hàng
bao gồm cả phụ thu và phí thu thêm ngoài giá bán (nếu có). Số tiền bán hàng được ghi
chép trên hóa đơn GTGT, hóa đơn bán hàng hoặc thỏa thuận giữa người mua và người
bán. (Theo Chế độ kế toán Việt Nam)
1.1.1.3 Khái niệm các khoản giảm trừ doanh thu.
Các khoản giảm trừ doanh thu như: Chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán,
hàng bán bị trả lại, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu, thuế GTGT nộp theo phương
pháp trực tiếp, được tính giảm trừ vào doanh thu ghi nhận ban đầu để xác định doanh

=
Giá tính thuế của hàng
hoá dịch vụ bán ra
x
Thuế suất thuế
GTGT (%)
Thuế GTGT đầu vào = tổng số thuế GTGT đã thanh toán được ghi trên hoá đơn
GTGT mua hàng hoá, dịch vụ hoặc hàng hoá, dịch vụ nhập khẩu.
Trong chỉ tiêu doanh thu bán hàng còn có cả thuế phải nộp về hàng tiêu thụ
(tổng giá thanh toán).
5
1.1.2 Lý thuyết về kế toán bán hàng
1.1.2.1 Các phương thức bán hàng
Hiện nay các DNTM thường áp dụng các phương thức bán hàng sau:
Phương thức bán buôn hàng hóa: là phương thức bán hàng cho các đơn vị
thương mại, các doanh nghiệp sản xuất để thực hiện bán ra hoặc gia công chế biến rồi
bán ra. Trong bán buôn hàng hóa, thường có các phương thức sau đây:
+ Phương thức bán buôn qua kho: là phương thức bán buôn hàng hóa mà trong
đó hàng bán phải được xuất ra từ kho bảo quản của doanh nghiệp. Trong phương thức
này có 2 hình thức:
- Bán buôn qua kho theo hình thức giao hàng trực tiếp tại kho: Theo hình thức
này, khách hàng cử người mang giấy ủy nhiệm đến kho của doanh nghiệp trực tiếp
nhận hàng và áp tải hàng về.
- Bán buôn qua kho theo hình thức gửi hàng: Bên bán căn cứ hợp đồng kinh tế
đã ký kết, hoặc theo đơn đặt hàng của người mua xuất kho gửi hàng cho người mua
bằng phương tiện vận tải của mình hoặc thuê ngoài.
+ Phương thức bán buôn hàng hóa vận chuyển thẳng: Là phương thức bán buôn
hàng hóa mà trong đó hàng hóa bán ra khi mua về từ nhà cung cấp không đem về nhập
kho của doanh nghiệp mà giao bán ngay hoặc bán ngay cho khách hàng.
Phương thức này bao gồm hai hình thức sau :

nghiệp thương mại giao hàng cho cơ sở nhận bán đại lý, ký gửi để các cơ sở này trực
tiếp bán hàng. Sau khi bán được hàng, cơ sở đại lý thanh toán tiền hàng cho doanh
nghiệp thương mại và được hưởng một khoản tiền gọi là hoa hồng đại lý. Số hàng
chuyển giao cho các cơ sở đại lý vẫn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp thương mại
cho đến khi nào cơ sở đại lý thanh toán tiền bán hàng hoặc chấp nhận thanh toán thì
nghiệp vụ bán hàng mới hoàn thành.
1.1.2.2 Phương thức thanh toán
Hiện nay các doanh nghiệp thương mại thường áp dụng hai phương thức thanh
toán: Phương thức thanh toán chậm trả và phương thức thanh toán trực tiếp.
- Phương thức thanh toán trực tiếp:
7
Là phương thức thanh toán mà quyền sở hữu về tiền tệ sẽ được chuyển từ người
mua sang người bán ngay sau khi quyền sở hữu của hàng hóa bị chuyển giao. Thanh
toán trực tiếp có thể bằng tiền mặt, Sec, ngân phiếu hoặc có thể bằng hàng hóa (nếu
bán theo phương thức hàng đổi hàng).
Đặc điểm của phương thức này: Sự vận động của hàng hóa gắn liền với sự vận
động của tiền tệ.
- Phương thức thanh toán chậm trả:
Là phương thức thanh toán mà quyền sở hữu về tiền tệ sẽ được chuyển giao sau
một khoảng so với thời điểm chuyển quyền sở hữu về hàng hóa, do đó hình thành
khoản công nợ phải thu khách hàng.
Đặc điểm của hình thức này: Sự vận động của hàng hóa và tiền tệ có khoảng
cách cả về không gian và thời gian.
1.2. Lý thuyết cơ bản về kế toán bán hàng trong các DN thương mại.
1.2.1 Quy định về kế toán bán hàng theo chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS)
1.2.1.1 Kế toán bán hàng tại các doanh nghiệp thương mại theo chuẩn mực kế toán
VAS14 “ Doanh thu và thu nhập khác”.
Mục đích của chuẩn mực số 14 là quy định và hướng dẫn các nguyên tắc,
phương pháp kế toán doanh thu và thu nhập khác, gồm: các loại doanh thu, thời điểm
ghi nhận doanh thu, phương pháp kế toán doanh thu và thu nhập khác làm cơ sở ghi sổ

- Khi hàng hóa hoặc dịch vụ được trao đổi để lấy hàng hóa hoặc dịch vụ khác
không tương tự thì việc trao đổi đó được coi là một giao dịch tạo ra doanh thu. Trường
hợp này doanh thu được xác định bằng giá trị hợp lý của hàng hóa hoặc dịch vụ nhận
về, sau khi điều chỉnh các khoản tiền hoặc tương đương tiền trả thêm hoặc thu thêm.
Khi không xác định được giá trị hợp lý của hàng hóa hoặc dịch vụ nhận về thì doanh
thu được xác định bằng giá trị hợp lý của hàng hóa hoặc dịch vụ đem trao đổi, sau khi
điều chỉnh các khoản tiền hoặc tương đương tiền trả thêm hoặc thu thêm.
Xác định dự phòng phải thu khó đòi.
9
Tại đoạn 14, VAS 14: Doanh thu bán hàng được ghi nhận chỉ khi đảm bảo là DN
nhận được lợi ích kinh tế từ giao dịch. Trường hợp lợi ích kinh tế từ giao dịch bán hàng
còn phụ thuộc yếu tố không chắc chắn thì hcir ghi nhận doanh thu khi yếu tố không
chắc chắn này đã xử lý song. Nếu doanh thu đã được ghi nhận trong trường hợp chưa
thu được tiền thì khi xác định khoản tiền nợ phải thu này là không thu được thì phải
hạch toán vào chi phí sản xuất, kinh doanh trong kỳ mà không được ghi giảm doanh
thu. Khi xác định khoản phải thu là không chắc chắn thu được thì phải lập dự phòng nợ
phải thu khó đòi mà không ghi giảm doanh thu. Các khoản nợ phải thu khó đòi khi xác
định thực sự là không đòi được thì bù đắp bằng nguồn dự phòng nợ phải thu khó đòi.
1.2.1.2 Kế toán bán hàng tại các doanh nghiệp thương mại theo chuẩn mực kế toán
VAS 02 “ Hàng tồn kho”.
Mục đích của chuẩn mực số 02 là quy định và hướng dẫn các nguyên tắc,
phương pháp kế toán hàng tồn kho gồm: Xác định giá trị và kế toán bán hàng tồn kho
vào chi phí, ghi giảm giá trị hàng tồn kho cho phù hợp với giá trị thuần có thể thực hiện
được và phương pháp tính giá trị hàng tồn kho làm cơ sở ghi sổ kế toán và lập báo cáo
tài chính.
Theo chuẩn mực này thì giá trị hàng tồn kho được tính theo giá gốc. Trường hợp
giá trị thuần có thể thực hiện được thấp hơn giá gốc thì phải tính theo giá trị thuần có
thể thực hiện được. Giá gốc hàng tồn kho bao gồm: Chi phí mua, chi phí chế biến và
các chi phí liên quan trực tiếp khác phát sinh để có được hàng tồn kho ở thời điểm và
trạng thái hiện tại.

1.2.1.3 Kế toán bán hàng theo VAS 21 “Trình bày báo cáo tài chính”
Theo VAS 21 “Trình bày báo cáo tài chính”, trên Bảng cân đối kế toán phải
phân biệt tài sản (hoặc nợ phải trả) ngắn hạn, dài hạn. Đoạn 37 đến đoạn 40 trong VAS
21 quy định:
Trong Bảng cân đối kế toán mỗi DN phải trình bày riêng biệt các tài sản và nợ
phải trả thành ngắn hạn và dài hạn. Trường hợp do tính chất hoạt động DN không thể
phân biệt được giữa ngắn hạn và dài hạn, thì các tài sản và nợ phải trả phải được trình
bày thứ tự theo tính thanh khoản giảm dần.
11
Với cả hai phương pháp trình bày, đối với từng khoản mục tài sản và nợ phải trả,
DN phải trình bày tổng số tiền dự tính được thu hồi hoặc thanh toán trong vòng 12
tháng kể từ ngày kết thúc kỳ kế toán năm, số tiền được thu hồi hoặc thanh toán sau 12
tháng.
DN hoạt động sản xuất kinh doanh trong một chu kỳ hoạt động có thể xác định
được, việc phân loại riêng biệt các tài sản và nợ phải trả ngắn hạn và dài hạn trong
Bảng cân đối kế toán sẽ cung cấp những thông tin hữu ích thông qua việc phân biệt
giữa các tài sản thuần luân chuyển liên tục như vốn lưu động với các tài sản thuần được
sử dụng cho hoạt động dài hạn của DN. Việc phân biệt này cũng làm rõ tài sản sẽ được
thu hồi trong kỳ hoạt động hiện tại và nợ phải trả đến hạn thanh toán trong kỳ hoạt
động này.
Một tài sản được xếp vào loại tài sản ngắn hạn, khi tài sản này:
Được dự tính để bán hoặc sử dụng trong khuôn khổ của chu kỳ kinh doanh bình
thường của DN; hoặc được nắm giữ chủ yếu cho mục đích thương mại hoặc cho mục
đích ngắn hạn và dự kiến thu hồi hoặc thanh toán trong vòng 12 tháng kể từ ngày kết
thúc niên độ; hoặc là tiền hoặc tài sản tương đương tiền mà việc sử dụng không gặp
một hạn chế nào.
1.2.2 Kế toán bán hàng theo quy định của chế độ kế toán Việt Nam ban hành theo
QĐ 15/BTC-2006
1.2.2.1 Chứng từ sử dụng trong kế toán bán hàng
* Các chứng từ sử dụng: Bảng thanh toán hàng đại lý, ký gửi (01-BH); Thẻ quầy hàng

nội bộ các DN.
Doanh thu tiêu thụ nội bộ là số tiền thu được từ việc bán hàng hoá, sản phẩm, cung cấp
dịch vụ nội bộ giữa các đơn vị trực thuộc trong cùng một công ty, Tổng công ty.
Kết cấu tài khoản 512: Tương tự như TK 511
Tài khoản 512 có các tài khoản cấp 2 sau:
- TK 5121 “doanh thu bán hàng hóa”
- TK 5122 “doanh thu bán các thành phẩm”
13
- TK 5123 “ doanh thu cung cấp dịch vụ”
* Tài khoản 521 “ Chiết khấu thương mại”
TK này dùng để phản ánh khoản chiết khấu thương mại mà doanh nghiệp đã
giảm trừ, hoặc đã thanh toán cho người mua hàng do việc người mua hàng đã mua
hàng của doanh nghiệp với khối lượng lớn theo thoả thuận về chiết khấu thương mại đã
ghi trên hợp đồng kinh mua bán hoặc các cam kết mua, bán hàng hóa.
Kết cấu tài khoản 521
Bên Nợ:
Số chiết khấu thương mại đã chấp nhận thanh toán cho khách hàng.
Bên Có:
Cuối kỳ kế toán, kết chuyển toàn bộ số chiết khấu thương mại sang Tài khoản
511 “Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ” để xác định doanh thu thuần của kỳ
báo cáo.
Tài khoản 521 - Chiết khấu thương mại, không có số dư cuối kỳ.
* Tài khoản 531 “Hàng bán bị trả lại”
Tài khoản này sử dụng để phản ánh doanh thu của số hàng hóa đã được xác định
là tiêu thụ nhưng vì lý do về chất lượng, mẫu mã, quy cách mà người mua từ chối
thanh toán và trả lại cho DN.
Kết cấu tài khoản 531
Bên Nợ: phản ánh doanh thu của số hàng hóa đã xác định tiêu thụ bị khách hàng trả lại
Bên Có: cuối kỳ Kết chuyển doanh thu của hàng bán bị trả lại trong kỳ để xác định
doanh thu thuần

khách hàng”, TK 138 “Phải thu khác”; TK 157 “Hàng gửi đi bán”, TK 338 “Phải trả,
phải nộp khác”; TK 333 “Thuế và các khoản phải nộp Nhà nước”; …
1.2.3 Trình tự hạch toán các phương thức bán hàng chủ yếu theo quyết định
15/QĐ - BTC ban hành ngày 20 tháng 03 năm 2006
15
1.2.3.3 Kế toán doanh thu bán hàng
a. Trường hợp bán hàng trực tiếp cho khách hàng hoặc trước đây gửi bán cho khách
hàng, cho đại lý theo hợp đồng; khi khách hàng chấp nhận thanh toán (hoặc thanh toán)
căn cứ vào hóa đơn GTGT và các chứng từ thanh toán kế toán phản ánh doanh thu bán
hàng và cung cấp dịch vụ, kế toán ghi:
Nếu áp dụng phương pháp thuế GTGT khấu trừ: ghi tăng tiền hoặc các khoản
phải thu theo tổng giá thanh toán, tăng doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ theo
giá bán chưa thuế GTGT và tăng số thuế GTGT phải nộp.
Nếu áp dụng phương pháp thuế GTGT trực tiếp: ghi tăng tiền hoặc các khoản l
b. Trường hợp bán hàng qua các đại lý, ký gửi hàng
- Tại bên giao đại lý: Căn cứ vào Bảng thanh toán hàng đại lý, ký gửi DN lập hóa đơn
GTGT phản ánh doanh thu bán hàng để giao cho các đại lý; xác định tiền hoa hồng
phải trả đồng thời nhận hóa đơn GTGT do đại lý phát hành.
 Trường hợp bên nhận đại lý đã khấu trừ tiền hoa hồng được hưởng:
Căn cứ vào các chứng từ thanh toán, kế toán ghi: tăng chi phí bán hàng (tiền hoa hồng
đại lý), tăng thuế GTGT được khấu trừ (thuế GTGT tương ứng theo hoa hồng đại lý),
tăng tiền (số tiền đã nhận sau khi trừ hoa hồng đại lý), đồng thời ghi tăng doanh thu
bán hàng và cung cấp dịch vụ (giá bán chưa thuế), tăng thuế GTGT phải nộp.
Trường hợp đơn vị nhận hàng đại lý không khấu trừ ngay tiền hoa hồng: Căn cứ chứng
từ thanh toán, HĐ GTGT bên đại lý phát hành về hoa hồng được hưởng, kế toán ghi
tăng tiền hoặc phải thu của khách hàng (theo giá bán có thuế GTGT), đồng thời ghi
tăng doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ (giá bán chưa có thuế GTGT), tăng thuế
GTGT phải nộp. Trường hợp hàng chịu thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp hoặc
không thuộc đối tượng chịu thuế, kế toán ghi tăng tiền hoặc phải thu của khách hàng
theo tổng giá thanh toán đồng thời ghi tăng doanh thu bán hàng.

c. Trường hợp bán hàng trả góp, trả chậm:
Trường hợp này doanh thu bán hàng được tính theo giá bán tại thời điểm thu tiền 1
lần; khách hàng chỉ thanh toán 1 phần tiền mua hàng để nhận hàng và phần còn lại trả
dần trong một thời gian và chịu khoản lãi theo quy định trong hợp đồng, chênh lệch
17
giữa giá bán trả góp với giá bán trả ngay được gọi là lãi do bán hàng trả góp và được
hạch toán vào doanh thu nhận trước. Định kỳ khi thu tiền, kế toán phản ánh khoản lãi
do bán trả góp hạch toán vào doanh thu hoạt động tài chính. Thuế GTGT tính trên giá
bán trả ngay.
 Đối với doanh nghiệp nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ
+ Khi bán hàng trả chậm, trả góp kế toán ghi: tăng tiền (số đã thu), tăng khoản phải thu
(số còn phải thu), đồng thời ghi tăng doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ (theo giá
bán trả tiền ngay chưa có thuế GTGT), thuế GTGT đầu ra tính theo giá bán trả ngay),
doanh thu chưa thực hiện (chênh lệch giữa giá bán trả góp với giá bán trả ngay chưa
thuế GTGT).
+ Khi thu được tiền các kỳ tiếp theo, căn cứ vào chứng từ thanh toán ghi tăng tiền,
giảm khoản phải thu của khách hàng (về bán hàng trả chậm, trả góp).
+ Từng kỳ, tính toán và xác định doanh thu hoạt động tài chính do bán hàng trả góp, trả
chậm, kế toán ghi: ghi giảm doanh thu chưa thực hiện, ghi tăng doanh thu hoạt động tài
chính (tiền lãi bán hàng trả chậm, trả góp).
 Đối với doanh nghiệp nộp thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp
+ Khi bán hàng trả chậm, trả góp kế toán ghi: Tăng tiền (số đã thu), tăng khoản phải
thu (số còn phải thu), tăng doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ (giá bán trả tiền
ngay có thuế GTGT) và ghi tăng doanh thu chưa thực hiện.
+ Cuối kỳ, xác định thuế GTGT phải nộp cho số hàng đã bán trả góp, trả chậm, kế toán
ghi: giảm doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ, tăng thuế GTGT đầu ra.
Các bút toán phản ánh thu tiền ở các kỳ tiếp theo và xác định doanh thu hoạt động tài
chính còn tương tự như trường hợp hàng hóa chịu thuế GTGT theo phương pháp khấu
trừ.
d. Trường hợp trả lương cho công nhân viên bằng sản phẩm, hàng hóa: Số thành

giá thanh toán.
- Khi xuất trả hàng:
19
+ Kế toán phản ánh doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ, căn cứ vào HĐ GTGT
của số hàng mang đi trao đổi, kế toán ghi sổ: giảm khoản phải trả người bán (theo tổng
giá thanh toán), đồng thời ghi tăng doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ (giá trị hợp
lý chưa thuế GTGT của số hàng hóa đem đi trao đổi), tăng thuế GTGT đầu ra của số
hàng hóa đem đi trao đổi.
+ Phản ánh giá vốn của hàng hóa đem đi trao đổi, kế toán ghi sổ: tăng giá vốn hàng
bán, giảm hàng hóa.
• Kết thúc, thanh lí hợp đồng trao đổi giữa hai bên, nếu giá trị sản phẩm đưa đi trao
đổi cao hơn giá trị vật tư nhận về, được nhà cung cấp thanh toán số chênh lệch bằng
tiền, kế toán ghi sổ: tăng tiền, giảm khoản phải thu của khách hàng.
Ngược lại nếu giá trị thành phẩm đưa trao đổi nhỏ hơn giá trị vật tư mà doanh nghiệp
nhận về thì doanh nghiệp phải thanh toán tiền cho nhà cung cấp, kế toán ghi sổ: tăng
khoản phải thu của khách hàng, giảm tiền.
 Nếu doanh nghiệp thuộc đối tượng nộp thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp
thì các bút toán phản ánh doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ không sử dụng TK
3331 “thuế GTGT đầu ra” và bút toán phản ánh giá trị thực tế vật liệu nhập kho không
sử dụng TK 133 “thuế GTGT đầu vào được khấu trừ”
f. Trường hợp DN sử dụng sản phẩm của mình sản xuất ra để sử dụng nội bộ, khuyến
mại, hội chợ triển lãm thương mại, quảng cáo phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh
doanh hàng hóa, dịch vụ:
Theo thông tư 120/TT-BTC/12/12/2003: sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến
mại, quảng cáo theo quy định tại nghị định số 32/1999/NĐ-CP ngày 5/5/1999 của
Chính phủ về khuyến mại quảng cáo thương mại, hội chợ triển lãm thương mại phục
vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh thuộc đối tượng nộp thuế GTGT khấu trừ thì
không phải tính thuế GTGT.
- Phản ánh doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ có thể tính theo giá vốn hàng hóa,
kế toán ghi sổ: tăng chi phí và tăng doanh thu bán hàng nội bộ.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status