SKKN Phương pháp tổ chức hoạt động nhóm trong giảng dạy sinh học THPT - Pdf 26

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
"PHƯƠNG PHÁP TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG NHÓM TRONG
GIẢNG DẠY SINH HỌC"
A. PHẦN MỞ ĐẦU
I. Tính cấp thiết của đề tài
1. Lý do khách quan
Hiện nay Đảng và Nhà nước ta đang tiến hành đổi mới toàn diện về giáo dục ở các cấp
học trong đó có cấp Trung học phổ thông (THPT) nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả
đào tạo. Công cuộc đổi mới này liên quan đến rất nhiều lĩnh vực như đổi mới chương
trình, đổi mới sách giáo khoa (SGK): ngày 05 tháng 5 năm 2006, Bộ trưởng Bộ Giáo dục
và Đào tạo đã kí Quyết định số 16/2006/QĐ – BGDĐT về việc ban hành Chương trình
Giáo dục phổ thông. Đổi mới thiết bị dạy học, đổi mới cơ chế quản lí, đổi mới quan niệm
và cách thức kiểm tra đánh giá …
Tuy nhiên, những đổi mới này có đem lại hiệu quả hay không phụ thuộc rất nhiều vào
người giáo viên, những người trực tiếp thể hiện tinh thần đổi mới nói trên trong từng tiết
học. Vì vậy, sau khi chương trình SGK mới đã biên soạn xong thì việc đổi mới phương
pháp dạy và học lại trở thành vấn đề rất quan trọng và cấp bách. Chỉ có đổi mới cơ bản
phương pháp dạy và học chúng ta mới có thể tạo được sự đổi mới thực sự trong giáo dục,
mới có thể đào tạo được lớp người năng động, sáng tạo, có tiềm năng cạnh tranh trí tuệ
trong bối cảnh nhiều nước trên thế giới đang hướng tới nền kinh tế tri thức.
Định hướng đổi mới phương pháp dạy và học đã được xác định trong Nghị quyết Trung
ương 4 khoá VII ( 1 – 1993 ), Nghị quyết Trung ương 2 khoá VIII ( 12 – 1996 ), được thể
chế hoá trong Luật Giáo dục (2005), được cụ thể chế hoá trong các Chỉ thị của Bộ Giáo
dục và đào tạo, đặc biệt Chỉ thị số 14 ( 4 – 1999). Luật Giáo dục, điều 28.2, đã ghi “
Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo
của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp
tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem
lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”.
2. Lý do chủ quan
Gần 4 năm áp dụng Chương trình Giáo dục phổ thông mới, chúng ta đã, đang gặt hái

I. Đặc điểm của dạy học theo nhóm và vai trò của hình thức học tập theo nhóm
1. Đặc điểm dạy học theo nhóm
- Hoạt động dạy học vẫn được tiến hành trên quy mô cả lớp, như mô hình giờ học truyền
thống.
- Việc phân chia nhóm học sinh vừa tuân theo đặc điểm tâm lý - nhận thức của học sinh
vừa phụ thuộc vào nhiệm vụ học tập học sinh phải giải quyết.
- Trong mỗi nhóm phải có sự phân công nhiệm vụ rõ ràng, phải cùng hợp tác giải quyết
nhiệm vụ chung của nhóm.
- Học sinh phải trực tiếp tham gia các hoạt động, giải quyết các nhiệm vụ học tập được
đặt ra cho mỗi nhóm.
- Trong các giờ học tổ chức theo nhóm giáo viên phải là người tổ chức, hướng dẫn hoạt
động cho học sinh chứ không phải làm thay, không áp đặt. Nhiệm vụ quan trọng nhất của
giáo viên trong các giờ học này là phải căn cứ vào nhiệm vụ của giờ học mà thiết kế các
nhiệm vụ học tập cụ thể và các hoạt động để học sinh giải quyết trong mỗi nhóm, đồng
thời thiết kế các yêu cầu cụ thể cho mỗi nhóm, thiết kế các bài tập trắc nghiệm để kiểm
tra lại mức độ hiểu, kỹ năng thực hành, hành vi thái độ cần hình thành ở học sinh.
- Có thể hiểu tổ chức giờ học theo nhóm là một kiểu tổ chức giờ học trên lớp. Tuy nhiên,
tuỳ từng nhiệm vụ của mỗi giai đoạn giờ học, nếu thoả mãn một số điều kiện, có thể tổ
chức học sinh thành các nhóm, tiến hành các hình thức học tập khác nhau để giải quyết
bài tập của nhóm mình, qua đó đạt mục tiêu giờ học.
2. Vai trò của hình thức học tập theo nhóm
- Học tập theo nhóm nuôi dưỡng một môi trường học tập có lợi, bởi học tập theo nhóm
bao giờ cũng sôi nổi. Nó tạo cơ hội cho học sinh sử dụng các phương pháp, nguyên tắc
diễn đạt ngôn ngữ. Các học sinh nhút nhát, thường là ít phát biểu trong lớp sẽ có môi
trường động viên để tham gia xây dựng bài. Hơn thế nữa, hầu hết các các hoạt động
nhóm đều mang trong nó cơ chế tự sửa lỗi và học sinh dạy lẫn nhau, theo đó các lỗi sai
đều được giải đáp, mà thường là trong bầu không khí rất thoải mái. Với việc thảo luận
cùng với các thành viên khác trong lớp và nhóm, nhiệm vụ học tập được giải quyết dễ
dàng hơn. Thông qua trao đổi trong nhóm kết hợp được sức mạnh của từng cá nhân, dẫn
đến sự hỗ trợ và giúp đỡ nhau trong học tập. Trên cơ sở những hoạt động chung sẽ khơi

nhân
Bước 3: Tổ chức Nhóm
Nhóm
(hợp tác, thảo luận)
Nội dung học tập
Bước 4: Trọng tài, cố
vấn
Tự điều chỉnh kiến
thức thu nhận được
Tri thức cá nhân
Trong 4 bước trên, cần lưu ý trong bước 2 và bước 3 HS làm việc theo nhóm, còn
bước 1 và bước 4 là bước làm việc cá nhân, HS tự suy nghĩ, tìm tòi. Bước 4 giúp HS tự
lĩnh hội, tự điều chỉnh tri thức thu nhận được. Nó giúp cho kiến thức HS được lĩnh hội
vững chắc hơn. Điều này được thể hiện rõ qua các bước trong quy trình sau:
Các
bước
Giáo viên (GV) Học sinh (HS)
Bước 1
- Nêu vấn đề, xác định nhiệm
vụ nhận thức
- Tổ chức các nhóm, giao
nhiệm vụ cho các nhóm
- Hướng dẫn cách làm việc
theo nhóm
- Nhận xét, phát hiện vấn đề
- Tham gia vào các nhóm, tổ
chức nhóm
- Thu thập thông tin, tái hiện tri
thức chuẩn bị làm việc trong
nhóm

- Khai thác bổ sung ý kiến của
các nhóm khác, điều chỉnh sản
phẩm của nhóm mình.
Bước 4
- Tóm tắt từng vấn đề.
- Đưa ra những nhận xét đánh
giá về kết quả của từng nhóm,
- So sánh, đối chiếu kết luận
của GV và của các bạn với sản
phẩm ban đầu của mình.
- Tự sửa sai, bổ sung, điều
chỉnh những gì cần thiết.
từ đó đưa ra các kết luận khoa
học
- Giáo viên tổng kết, đặt vấn
đề tiếp theo
- Tự rút kinh nghiệm về cách
học, cách sử lý tình huống, cách
giải quyết vấn đề của mình.
III. Biện pháp tổ chức dạy học theo nhóm
1. Thành phần nhóm
- Tuỳ thuộc vào mục đích sư phạm và yêu cầu của vấn đề học tập mà ta có nhiều cách
chia nhóm. Thông thường để đảm bảo học sinh cùng làm việc nên xếp mỗi nhóm từ 2 đến
8 học sinh (Các nhóm này có thể lựa chọn theo bàn, theo dãy, số thứ tự, ngẫu nhiên, theo
ý thích, bạn giúp bạn …). Các nhóm được duy trì ổn định trong cả tiết học hoặc thay đổi
theo từng hoạt động, từng phần của tiết học. Khi thành lập nhóm học tập tại lớp, cần lưu
ý:
+ Nhịp điệu làm việc của các thành viên trong nhóm.
+ Trình độ học lực của các cá nhân trong nhóm.
+ Mối quan hệ giữa học sinh với nhau.

đưa ra những quy tắc nhóm để giúp nhóm làm việc tốt:
+ Các thành viên trong nhóm đều có lượt được nói, cần tạo điều kiện để HS phát
biểu hết các loại ý kiến khác nhau, đặc biệt ưu tiên các HS yếu kém phát biểu trước. Phải
có sự phân công, các thành viên trong nhóm đều có nhiệm vụ, trách nhiệm giải quyết các
vấn đề học tập của nhóm.
+ Hãy ủng hộ và giúp nhau bổ sung chi tiết
+ Không cười nhạo điều ai đó đã nói
+ Hãy suy nghĩ trước khi đặt câu hỏi
- Ghép đúng học sinh vào nhóm và giao việc phù hợp cho từng nhóm. “Thành
công trong hoạt động nhóm có nghĩa là đã ghép đúng được HS vào với nhau, giao việc
đúng cho nhóm.”
- Các thành viên trong nhóm phải giải đáp các vấn đề học tập cho nhau trước khi
trao đổi với giáo viên.
3. Giao việc cho nhóm
- Giao việc cho nhóm nhiệm vụ thật cụ thể để thực hiện bằng lời, bằng phiếu học tập giao
việc, bằng viết trên bảng Nếu các thành viên trong nhóm phải giải quyết những vấn đề
khác nhau thì giáo viên cần định rõ nhiệm vụ cho từng thành viên từ đầu. GV chỉ đóng
vai trò là người hỗ trợ, giúp đỡ cho hoạt động các nhóm và đánh giá, khen thưởng sự nỗ
lực của tập thể nhóm.
- Cần chú ý trình độ và năng lực của các thành viên trong mỗi nhóm
a. Điều khiển thảo luận
Thảo luận có thể dùng như một thuật ngữ chung chỉ một loạt tình huống thông
thường trong đó diễn ra cuộc trao đổi giữa mọi người đồng thời đó cũng là một dạng
tương tác nhóm đặc biệt trong đó các thành viên cùng giải quyết một vấn đề cùng quan
tâm, trao đổi các quan điểm khác nhau nhằm đạt tới một sự hiểu biết chung về vấn đề đó.
Thảo luận là một hình thức không thể thiếu được trong tổ chức hoạt động nhóm
trong dạy học. Hình thức thảo luận có tác dụng phát huy cao độ tính tích cực, tính độc lập
của cá nhân kết hợp với sự giúp đỡ, sự hợp tác với nhau để cùng giải quyết vấn đề đặt ra,
giúp học sinh trình bày và bảo vệ ý kiến của mình trước một số đông người.
Để tổ chức thảo luận có hiệu quả:

những điều kiện giống như điều kiện của tế bào sống. Qua đó HS có thể điều chỉnh được
rằng các đại phân tử và các bào quan không được xếp vào các cấp độ tổ chức của sự
sống.
+ GV với tư cách người tham gia: Tức là làm cho HS nói và nghe nhau nói, chứ
không phải chỉ đạo mọi điều HS nói qua GV. Mục đích là HS cảm thấy độc lập và bình
đẳng trong trả lời các bạn. GV có thể tham gia ngồi chung cùng độ cao với HS, cùng đưa
ra ý kiến, ý tưởng hoặc kinh nghiệm của riêng mình để kích thích HS suy nghĩ, thay vì
hỏi quá nhiều câu hỏi.
b. Bắt đầu thảo luận
- GV trình bày kế hoạch chuẩn bị thảo luận cũng như giao nhiệm vụ cho cả lớp, cho
từng nhóm hoặc từng người chuẩn bị để báo cáo (GV thông báo cho HS cách tổ chức
nhóm theo từng giai đoạn). GV có thể bắt đầu phần thảo luận bằng việc trình bày trực
quan, chiếu phim hoặc tạo ra sự bất đồng ý kiến để kích thích thảo luận. Phương pháp
phổ biến nhất là bắt đầu thảo luận bằng đặt câu hỏi.
- HS có thể được thông báo trước các vấn đề thảo luận để chuẩn bị hoặc chuẩn bị
trong một thời gian ngắn tùy theo nội dung và khối lượng vấn đề thảo luận.
c. Tiến hành thảo luận
- Mở đầu, người điều khiển thảo luận (GV hoặc HS được chỉ định) trình bày ngắn
gọn mục đích, yêu cầu và nội dung vấn đề thảo luận (nội dung thể hiện trong các phiếu
học tập giao việc, bằng lời nói )
- Trong học tập qua thảo luận, một số HS luôn ở trạng thái thụ động, HS không
phát biểu có nhiều nguyên nhân nhưng nguyên nhân lớn nhất vẫn là sự nhút nhát. Để giái
quyết tình trạng này, GV nên chia HS thành những nhóm nhỏ để thảo luận, có thể thảo
luận theo cặp trước khi thảo luận chung. Gọi tên HS để khuyến khích tham gia thảo luận.
Cách tốt nhất để khuyến khích HS ít phát biểu tham gia thảo luận là yêu cầu HS đóng góp
ý kiến về lĩnh vực mà HS đó hiểu một cách thấu đáo hoặc đặt câu hỏi trước cho cả lớp,
giao nhiệm vụ cho HS chuẩn bị và chỉ định HS sẽ báo cáo vấn đề thảo luận trước lớp.
- Đôi khi để có sự thay đổi trong tổ chức học tập, thông thường các nhóm sau khi
thảo luận để giải quyết các vấn đề trong Phiếu học tập giao việc sẽ có đại diện các nhóm
lên trình bày kết quả thảo luận của nhóm, ta có thể cho các nhóm sau khi thảo luận

tìm thông tin cụ thể.
Bài tập này cần phải hết sức rõ ràng và nếu cần thì nên chia nhỏ. Nếu có thể ta vừa
ra đề bài cho cả nhóm vừa yêu cầu nhiệm vụ cho từng cá nhân. Ví dụ Yêu cầu mỗi học
sinh ghi chép lại các phát hiện của cả nhóm. Nếu sau phần hoạt động nhóm ta có chuẩn bị
phần bài tập cho cá nhân, làm như vậy từng cá nhân học sinh sẽ nắm bài tốt hơn.
2. Bài tập giống nhau, tuỳ chọn khác nhau
Bài tập các nhóm có thể giống nhau hoặc giáo viên cho một số lựa chọn để các
nhóm tự quyết định. Mỗi nhóm có thể làm các bài tập khác nhau, sau đó, kết quả nghiên
cứu của nhóm sẽ được trình bày lại trước lớp. Ta thường có thể sử dụng các bài tập tự do.
3. Cạnh tranh thi đua giữa các nhóm
Các nhóm cùng làm một bài tập, mục đích là để thi đua giữa các nhóm. Bài tập ở
đây có thể là đưa ra một cách giải quyết một vấn đề , thiết kế một thí nghiệm… hay chỉ
đơn giản là trả lời các câu hỏi trắc nghiệm. Sau khi bài tập đã hoàn tất, giáo viên hay cả
lớp có thể đứng ra làm giám khảo; đơn giản hơn và ít cạnh tranh hơn là mỗi nhóm trình
bày công việc của nhóm mình, chúng ta nên cẩn thận đối với các bài tập có tính cạnh
tranh.
4. Gánh xiếc
Mỗi nhóm sẽ tiến hành cùng một sêri bài tập nhưng theo thứ tự khác nhau, vì thế
vào bất kỳ thời điểm nào ta cũng có các nhóm tiến hành các hoạt động khác nhau; nhưng
đến cuối giờ các nhóm đều thực hiện xong phần việc của mình. Phương pháp này cho
phép tiến hành được các bài tập có đòi hỏi giáo cụ và đồ dùng thí nghiệm nhưng không
đủ cho cả lớp.
Ví dụ: Có 3 nhóm A, B, C. Trong ma trận thứ nhất có 3 bài tập và thời lượng như nhau;
ma trận thứ 2 có thể dùng 5 bài tập trong đó có bài tập 1 có thời gian dài gấp đôi các bài
tập khác.
Nhóm Bài tập
A 1 2 3
B 2 3 1
C 3 1 2
Ma trận 1: 3 bài tập có cùng thời lượng và thời gian quay vòng là sau 10

so sánh thường dùng cho những bài học có dung lượng không lớn.
Mô hình nhóm 4-5 học sinh
3. Nhóm chuyên gia hay nhóm chuyên sâu (JigsawII)
Mô hình nhóm 2 học sinh
Ở đây, tổ chức các nhóm có tính luân chuyển. Trước hết, giáo viên chia lớp thành
nhiều nhóm (nhóm xuất phát hay nhóm gốc). Nhóm gốc gồm những học sinh có trách
nhiệm cùng nhau tìm hiểu về những thông tin đầy đủ, trong đó mỗi học sinh được phân
công tìm hiểu một phần của các thông tin đó. Sau đó lập nhóm chuyên sâu (nhóm chuyên
gia). Nhóm chuyên gia tập hợp những học sinh ở trong những nhóm xuất phát khác nhau
có cùng chung một nhiệm vụ tìm hiểu sâu một phần thông tin.
Như vậy, một học sinh sẽ nhận nhiệm vụ từ nhóm xuất phát và cùng làm việc, trao
đổi kỹ ở nhóm chuyên sâu và sau đó lại trở về nhóm xuất phát để trình bày kết quả về các
thông tin mình đã thu thập được.
Nhóm chuyên sâu Nhóm chuyên sâu

Nhóm xuất phát
Nhóm chuyên sâu Nhóm chuyên sâu
Ưu điểm của nhóm chuyên gia là việc báo cáo công việc của các nhóm sẽ do tất cả
các thành viên của nhóm đảm nhận chứ không phải chỉ do một học sinh khá giỏi đảm
nhận. Mỗi học sinh sẽ nắm một mảng thông tin để lắp ghép thành một thông tin hoàn
chỉnh và sẽ không có một học sinh nào đứng ngoài hoạt động của lớp học.
4. Nhóm kim tự tháp (Pyramid)
AA
AA
BB
BB
CC
CC
A B
C D

I. Mục tiêu: Sau khi học xong kiến thức này, HS phải:
- Nêu được cấu trúc và đặc tính hoá lí của nước. Nhận biết được trạng
thái các liên kết hiđrô trong nước đá và nước thường.
II. Nội dung chính:
- Cấu trúc: Phân tử nước được cấu tạo từ một nguyên tử ôxi kết hợp với 2
nguyên tử hiđrô bằng các liên kết cộng hoá trị.
- Đặc tính vật lí: ở nhiệt độ bình thường: chất lỏng không màu trong suốt;
nhiệt độ thấp ( 0
0
C): rắn; nhiệt độ cao ( 100
0
C): khí.
- Đặc tính hoá học: có tính phân cực ( qua liên kết hiđrô ).
+ Nước đá: các liên kết hiđrô luôn bền vững
+ Nước thường: các liên kết hiđrô luôn bị bẽ gảy
III. Tổ chức: Hoạt động nhóm 2 HS, thảo luận nội dung phiếu học tập học
tập sau:
Phiếu học tập :
- Quan sát hình 3.1 SGK trang 16 cho biết cấu trúc và đặc tính hoá lí của nước.
- Quan sát hình 3. 2 SGK trang 16, em hãy phân tích để chỉ ra trạng thái các liên kết
hiđrô trong nước đá và nước thường. Cho biết hậu quả gì có thể xảy ra khi ta đưa các tế
bào sống vào ngăn đá ở trong tủ lạnh?
2. Thiết kế hình thức dạy học theo nhóm 4-5 HS hoặc 7-8 HS:
- Ví dụ : Kiến thức các cấp tổ chức của thế giới sống
I. Mục tiêu: Sau khi học xong kiến thức này, HS phải:
- Hiểu được thế giới sống là một hệ thống mở có tổ chức phức tạp theo
cấp bậc lệ thuộc
- Phân biệt được các cấp độ tổ chức của hệ thống sống
- Giải thích được sự đa dạng và thống nhất giữa các cấp tổ chức
- Vẽ được sơ đồ các cấp tổ chức sống từ thấp đến cao, từ đơn giản đến

sinh vật và nơi sống của quần xã
- Sinh quyển: Khoảng không gian trên trái đất có các cơ thể sống cư trú
và các hệ sinh thái hoạt động
III. Tổ chức: Hoạt động nhóm 4-5 HS (Hoạt động trao đổi).
Phiếu học tập 1: (nhóm 1)
- Em hãy đọc thông tin SGK trang 6 và cho biết thành phần cấu tạo nên tế bào và thành
phần chính của tế bào?
- Tại sao nói cấp độ tế bào là cấp độ tổ chức cơ bản của sự sống?
- Các đại phân tử như prôtêin, axit nuclêic, các siêu cấu trúc như các màng bào quan có
phải là vật chất sống không? Tại sao không xếp chúng vào các cấp tổ chức của sự sống?

Phiếu học tập 2: (nhóm 2)
- Bằng những hiểu biết của mình, em hãy cho biết vì sao cơ thể sinh vật thích nghi được
với môi trường sống thay đổi?
- Em hãy tìm các ví dụ về cấp tổ chức cơ thể, dưới cơ thể và hoàn chỉnh sơ đồ sau:
Tế bào → → → cơ thể
- Nếu mô cơ tim, quả tim cũng như hệ tuần hoàn bị tách ra khỏi cơ thể chúng có hoạt
động, bơm máu và tuần hoàn máu được không? Tại sao?
- Em hãy kể tên và chức năng 1 số mô, cơ quan, hệ cơ quan mà em biết?
Phiếu học tập 3: (nhóm 3)
- Tìm ví dụ về quần xã? Khái niệm quần xã?
- Vì sao ở cấp quần xã sinh vật giữ được mức cân bằng?
- Hãy sắp xếp tên các quần xã tương ứng theo nhiều cách gọi:
+ Theo địa điểm phân bố
+ Theo chủng loại phát sinh
+ Theo dạng sống
+ Theo loài hay nhóm sinh vật SV ưu thế


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status