SKKN Giáo dục dinh dưỡng cho trẻ mầm non trong quá trình hướng dẫn trẻ làm quen với môi trường xung quanh - Pdf 26

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
“GIÁO DỤC DINH DƯỠNG CHO TRẺ MẦM NON TRONG
QUÁ TRÌNH HƯỚNG DẪN TRẺ LÀM QUEN VỚI MÔI
TRƯỜNG XUNG QUANH ”
LỜI NÓI ĐẦU
Như chúng ta đã biết Bác Hồ đã nói :
“Trẻ em như búp trên cành.
Biết ăn, biết ngủ học hành là ngoan”.
Quả đúng là như vậy trẻ em như búp non trên cành nếu được chăm sóc cẩn thận thì
chồi non đó sẽ phát triển. Cũng như con người nếu được chăm sóc ngay từ khi mới sinh
của người mẹ và gia đình cho đến khi đứa trẻ đó được tới trường, tới lớp được sự chăm
sóc chu đáo của cô giáo mầm non thì đứa trẻ đó sẽ phát triển toàn diện về “ Đức, trí, lao,
thể, mỹ”. Muốn đứa trẻ phát triển toàn diện thì điều đầu tiên chúng ta nhắc đến đó là “
sức khoẻ” do đó dinh dưỡng là nhu cầu sống hàng ngày của mỗi con người. Trẻ em cần
dinh dưỡng để phát triển về thể lực và trí tuệ và góp phần phát triển toàn diện nhân cách
cho trẻ, người lớn cần dinh dưỡng để duy trì sự sống và làm việc.
Dinh dưỡng học nghiên cứu mối quan hệ thiết yếu giữa thức ăn và cơ thể con người,
tất cả chúng ta đều thấy rõ tầm quan trọng của việc ăn uống là một nhu cầu hằng ngày,
một nhu cầu cấp bách bức thiết không thể không có. Tuy vậy hiện nay trong nền kinh tế
thị trường các vấn đề nảy sinh do chế độ dinh dưỡng không đầy đủ và không hợp lý vẫn
là điều mọi người phải quan tâm xem xét. Chúng ta biết rằng tình trạng dinh dưỡng tốt
của mọi người nói chung, trẻ em nói riêng phụ thuộc vào khẩu phần dinh dưỡng thích
hợp, việc được chăm sóc sức khoẻ đầy đủ có môi trường sống hợp vệ sinh.
Trên cơ sở nhận thức được tầm quan trọng của giá trị dinh dưỡng và điều kiện kinh tế
hiện nay, là một giáo viên mầm non tôi cần giáo dục dinh dưỡng cho mọi người, nhất là
đối với trẻ ngay ở độ tuổi mầm non.
Giáo dục dinh dưỡng là một quá trình tác động có tác động có mục đích, có kế hoạch
đến tình cảm, lý trí con người nhằm làm thay đổi nhận thức, thái độ và hành động để đi
đến tự giác. Chăm lo vấn đề ăn uống và sức khoẻ cá nhân, tập thể cộng đồng.
Chính vì vậy, khi nghiên cứu đề tài “ Giáo dục dinh dưỡng cho trẻ mầm non trong quá

sóc giáo dục trẻ từ 0-6 tuổi phát triển một cách toàn diện, đặt nền tảng đầu tiên cho sự
hình thành những phẩm chất con người mới XHCN :
• Khoẻ mạnh, nhanh nhẹn cơ thể phát triển hoàn hảo cân đối.
• Giàu lòng yêu thương, biết quan tâm, nhường nhịn giúp đỡ những người gần gũi,
thật thà, lễ phép, mạnh dạn, hồn nhiên.
• Yêu thích cái đẹp, biết giữ gìn cái đẹp và mong muốn tạo ra những cái đẹp xung
quanh.
• Thông minh, ham hiểu biết, thích khám phá tìm tòi, có một số kỹ năng sơ đẳng
( quan sát, so sánh, phát triển tổng hợp, suy luận ) cần thiết để lên lớp lớn và tiếp tục và
trường phổ thông, thích đi học.
Như chúng ta đã thấy vấn đề dinh dưỡng chiếm một vị trí rất quan trọng. Có ảnh hưởng
quyết định đến sự sinh trưởng và phát triển cơ thể trẻ. Vì vậy chương trình lồng ghép
giáo dục nội dung dinh dưỡng vào giảng dạy cho trẻ mẫu giáo nhằm giúp trẻ hiểu và
nhận biết về lợi ích của vấn đề dinh dưỡng đối với cơ thể con người và tạo ra sự liên
thông về giáo dục dinh dưỡng liên tục từ lứa tuổi mẫu giáo đến lứa tuổi học đường, tiến
hành giáo dục cho trẻ mẫu giáo sẽ góp phần quan trọng trong chiến lược con người, tạo ra
một lớp người mới có sự hiểu biết đầy đủ về vấn đề dinh dưỡng, sức khoẻ. Biết lựa chọn
một cách thông minh tự giác các cách ăn uống, để đảm bảo sức khoẻ của mình, đẩy lùi
bệnh tật, hạ thấp tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em.
2. Cơ sở thực tiễn.
Năm học 2008-2009 Trường mầm non Quang Trung vẫn tiếp tục thực hiện chuyên
đề giáo dục dinh dưỡng- vệ sinh an toàn thực phẩm trong trường với mục tiêu tiếp tục
giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng trong các lớp ở mức độ tuổi thấp nhất.
Từ tình trạng suy dinh dưỡng của trẻ mẫu giáo 4- 5 tuổi của trường mầm non
Quang trung. Năm học 2008 – 2009 tình trạng suy dinh dưỡng vẫn còn. Đầu năm học tỷ
lệ suy dinh dưỡng ở dưới lớp là 7% ( Lớp bé chuyển lên) đến khám sức khoẻ định kỳ đợt
II thì tỷ lệ suy dinh dưỡng còn 5%.
Thực trạng công tác giáo dục dinh dưỡng và sức khoẻ tại trường mầm non Quang Trung.
Công tác này đã được thực hiện thường xuyên liên tục, đứng trước nhiệm vụ trước mắt là
thực hiện công tác giáo dục dinh dưỡng và sức khoẻ trong Nhà trường mầm non Quang

- Một số kiến thức về môi trường xung quanh.
- Cơ sở khoa học của việc nuôi dưỡng và chăm sóc trẻ.
- Một số vấn đề chăm sóc giáo dục sức khoẻ dinh dưỡng môi trường cho trẻ từ
0- 6 tuổi.
2- Phương pháp quan sát:
Là phương pháp thu thập những thông tin về đối tượng nghiên cứu bằng tri giác trực tiếp
đối tượng và các nhân tố khác liên quan đến đối tượng.
• Quan sát giờ dạy đồng nghiệp.
• Quan sát các hoạt động khác của trẻ như:
+ Khi vui chơi trẻ thích chơi gì ?
+ Khi ăn trưa trẻ thích ăn món gì ?
3- Phương pháp đàm thoại trò chuyện.
Là phương pháp trò chuyện giữa giáo viên với các đồng nghiệp, phụ huynh của trẻ
và với trẻ để tìm hiểu sự hiểu biết của trẻ về thức ăn giúp trẻ nắm được những tri thức
mới về dinh dưỡng, tìm hiểu sự hiểu biết của đồng nghiệp và của phụ huynh về dinh
dưỡng thế nào ?
4- Phương pháp điều tra:
Tôi đã tiến hành điều tra những vấn đề sau:
4.1 Điều tra sức khoẻ của trẻ
stt Họ tên Ngày sinh mẹ Kênh béo phì
Tên Nghề nghiệp A B C
4.2 Điều tra đối với giáo viên:
Tôi đã điều tra bằng câu hỏi sau:
Xin đồng chí vui lòng cho biết đồng chí đã giáo dục dinh dưỡng bằng cách nào
trong quá trình hướng dẫn trẻ làm quen với môi trường xung quanh.
Mức độ
Hình thức Thường xuyên ít sử dụng Không
Tiết học
Dạo chơi
Sinh hoạt hàng ngày

gây bệnh hay ảnh hưởng bất lợi đến sức khoẻ con người.
2.Ý nghĩa, tầm quan trọng của dinh dưỡng đối với sức khoẻ:
Dinh dưỡng là những thức ăn cung cấp năng lượng axit amin, lipit, vitamin, chất
khoáng, rất cần thiết cho sự phát triển của cơ thể, duy trì tế bào tổ chức.
Dinh dưỡng đầy đủ sẽ giúp cho cơ thể phát triển khoẻ mạnh, cân đối, phát triển toàn
diện cả về thể chất lẫn trí tuệ.
Con người cần có dinh dưỡng để duy trì sự sống và làm việc, dinh dưỡng là nhu cầu
bức thiết không thể không có của sinh vật.
Giáo dục trẻ mầm non những kiến thức sơ đẳng về lương thực, thực phẩm và giá trị
dinh dưỡng của những loại thức ăn đó. Từ đó trẻ sẽ ăn hết các loại thức ăn mà mẹ và cô
giáo nấu, không kén chọn thức ăn là biện pháp tốt nhất nâng cao sức khoẻ góp phần từng
bước hạ thấp tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em.
Đưa vấn đề giáo dục dinh dưỡng sức khoẻ vào bài giảng sẽ tạo ra cho trẻ sự hứng thú,
thoải mái trong học tập cũng như trong vui chơi.
Giáo dục dinh dưỡng, sức khoẻ góp phần quan trọng trong chiến lược con người tạo ra
một lớp người mới có sự hiểu biết đầy đủ về vấn đề dinh dưỡng - sức khoẻ, biết chọn
thức ăn một cách thông minh và tự giác ăn uống để đảm bảo sức khoẻ cho mình.
Tạo ra một sự liên thông về giáo dục dinh dưỡng liên tục từ tuổi mẫu giáo đến tuổi học
đường.
Dinh dưỡng và giáo dục dinh dưỡng luôn chiếm một vị trí quan trọng trong giáo dục
mầm non, là nền tảng cho tương lai của trẻ sau này.
2. Nội dung giáo dục dinh dưỡng.
a. Cơ sở lý luận.
- Giúp trẻ hiểu giá trị dinh dưỡng của thực phẩm, lợi ích của lương thực thực phẩm.
Giá trị dinh dưỡng không chỉ phụ thuộc vào thành phần hoá học của các loại lương
thực thực phẩm mà còn phụ thuộc vào một số yếu tố khác như: cách bảo quản, chế biến,
Thực tế trong mỗi loại lương thực thực phẩm đều có chất dinh dưỡng khác nhau. Vì vậy
chúng ta nên phối hợp các loại lương thực thực phẩm khác nhau để có đầy đủ và cân đối
các chất dinh dưỡng là một nhu cầu cấp bách nhất của xã hội đối với trẻ em, nó chiếm
một vị trí đặc biệt quan trọng, có ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của cơ thể

ăn hết xuất của mình, ăn đủ chất, đủ lượng thì mới khoẻ mạnh, thông minh, học giỏi, sau
này tương lai sẽ tốt đẹp. Ví dụ: trong giờ ăn trưa, trước khi ăn cô giáo giới thiệu cùng trẻ
các món ăn trẻ sẽ được ăn hôm nay, sau đó giới thiệu luôn giá trị dinh dưỡng của các
món ăn đó như : Hôm nay cô cho các con ăn món thịt sốt cà chua, trong thịt có rất nhiều
chất đạm và prôtêin, lipit, giúp cơ thể các con phát triển, thông minh, nhanh lớn, trong cà
chua có nhiều vitamin A rất tốt cho mắt, ăn vào các con có làn da hồng hào, mắt sáng
long lanh rất đẹp đấy. Và hôm nay các con còn được ăn món canh rau cải nấu với thịt có
nhiều vitamin A,C và nhiều đạm giúp các con chóng lớn, thông minh và bài tiết tốt. Vậy
các con phải ăn hết suất của mình, ăn tất cả thức ăn trong bát của mình thì cơ thể mới
khoẻ mạnh và thông minh đấy.
- Ngoài việc giáo dục cho trẻ ăn uống đủ chất vẫn chưa đủ mà chúng ta còn phải giáo
dục vệ sinh cho trẻ, phải rửa tay, rửa mặt trước khi ăn và trước khi đi ngủ, vào bàn ăn
phải ngồi ngay ngắn, ngồi đúng nơi quy định, đúng chỗ của mình ngồi. Chuẩn bị khăn ăn
lau tay, phải có đĩa đựng cơm rơi vãi, phải biết mời cô mời bạn trứơc khi ăn, trong khi ăn
không đựơc nói chuyện, xúc cơm cẩn thận không được rơi vãi ra ngoài, phải nhai kỹ, khi
ho phải che miệng hoặc quay ra ngoài, khi ăn xong phải lau miệng, lau tay, không uống
nước lã.
Giáo dục trẻ không ăn quả xanh, không uống nứơc lã dễ bị vi khuẩn xâm nhập làm đau
bụng, giáo dục trẻ ăn uống từ tốn có nề nếp.
Ví dụ : Trước giờ ăn trưa, cô giáo dạy trẻ nề nếp vệ sinh: Hỏi trẻ trước khi ăn các con
phải làm gì ? ( rửa tay, rửa mặt ạ )
Cô nhắc lại : Đúng rồi các con ạ ! phải rửa tay rửa mặt trước khi ăn vì sau mỗi buổi học
và buổi chơi tay cầm vào đồ chơi, đồ dùng nên bị nhiều vi trùng bám vào xong lại bôi lên
mặt lên tay rất bẩn. Chính vì thế phải rửa tay, rửa mặt trứơc khi ăn nếu không rất dễ bị
nhiễm bệnh đấy các con ạ!
+ Cho trẻ thực hiện thao tác rửa tay, rửa mặt đúng khoa học.
+ Cho trẻ ngồi vào bàn ăn ngay ngắn đúng quy định.
Vào giờ ăn trưa cô giáo giới thiệu món ăn, giá trị dinh dưỡng của từng món ăn. Giáo dục
trẻ ăn hết xuất, ăn ngon, có ý thức, không được nói chuyện cười đùa, trong khi ăn phải
nhai kỹ và nuốt nhanh, khi ho hoặc hắt hơi phải che miệng.

* Điều tra đối với giáo viên:
Mức độ
Hình thức
Thường xuyên ít sử dụng không sử dụng
Tiết học x
Dạo chơi x
sinh hoạt hàng ngày x

3. Tình trạng sức khoẻ của trẻ.
Nhà trường có bếp một chiều đã được bố trí hợp lý khoa học sạch sẽ thoáng mát.
Nhờ sự kết hợp giữa giáo dục trên lớp và sự chế biến khéo léo từ cách nấu các món ăn
ngon, hợp vệ sinh có sự thay đổi các món ăn theo thực đơn của nhà bếp mà tình trạng sức
khoẻ của trẻ đã được cải thiện hơn

Kết quả khảo sát sau khi kiểm tra sức khoẻ đầu năm học tháng 9/ 2008:
STT Họ và tên Năm sinh Tên bố (mẹ) Nghề nghiệp
KênhA
Kênh
B Kênh C Béo phì
1 Phạm Khánh Linh 2004 Đoàn Huyền CN x
2 Đỗ Hương Trang 2004 Nguyễn Tâm Cấp dương x
3 Vũ ngọc Huyền 2004 Nguyễn T.Nga CN x
4 Nguyễn Mạnh Cương 2004 Vũ Thị MáiCN x
5 Nguyễn Mỹ Hạnh 2004 Trần Thị Hường Cn x
6 Đoàn Hồng Linh 2004 Phạm Thị Hạnh Nội Trợ x
7 Phạm Phương Linh 2004 Phạm Minh Tiến bán Hàng x
9 Tô Việt Hà 2004 Tô Thế Nguyên Phón viên x
10 Nguyễn Tuyết Nhi 2004 Hà Thị Quỳnh Nội Trợ x
11 Trần Minh Đức 2004 Tô Thị Phương Bán hàng x
12 Vũ Tấn Đức 2004 Vũ Đức Phú LĐTD x

43 Bùi Linh Anh 2004 NguyễnThanh Tiến Giáo viên x
44 Hoàng Trung Chiến 2004 Nguyễn Thị Đào CN x
45 Nguyễn Nguyên Anh 2004 Bùi Thị Mai Giáo viên x
46 Vũ Ngọc Anh 2004 Trần Thị Tiến Kinh doanhx
47 Nguyễn Thanh Dung 2004 Nguyễn Thị Minh Nội trợ x
48 Bùi Việt Cường 2004 Vũ Thị Thanh Nội Trợ x
49 Cao Khánh Linh 2004 Bùi Thị Nga CN x
50 Bùi Phương Thảo2004 Phạm Thị Duyên Thợ may x
51 Vũ ý Nhân 2004 Vũ Thị Vinh GV x
52 Nguyễn Ngọc Mai 2004 Nguyễn Thị Huyền Nội Trợ x
53 Trần Vĩnh Phong 2004 Nguyễn Thị Hạnh CN x
54 Lê Thành Đạt 2004 Trần Thị Nhung CN x
55 Lê Việt Đức 2004 Nguyễn Thị Lan CN x
56 Trần Hồng ánh 2004 Trần Thị Hồng bán Hàng x
57 Hà Quang Đạt 2004 Lê Thị Hà Kinh doanhx
58 Phạm minh Trí 2004 Phạm Thị Tâm làm ruộng x
59 Đậu Thuỳ Trang 2004 Đậu Thi Nga Kinh doanhx
60 Phạm Minh Huyền 2004 Phạm thị Vĩnh Kinh doanhx
* Nhận xét:
- Đánh giá sự phát triển của trẻ :
Kênh A: 56/60 = 93%
Kênh B : 3/60 = 5%
Béo Phì : 1/60 = 2%
- Tỷ lệ suy dinh dưỡng có sự giảm đi: đàu năm là 7% trẻ suy dinh dưỡng , đến đợt kiểm
tra sức khoẻ định kỳ đợt II Chỉ còn 5% so với đầu năm học.
2. Nguyên Nhân:
- Nguyên nhân của thực trạng trên là do giáo viên cho rằng đây là phần mầm trong một
bài dạy nên cũng chỉ giới thiệu đại khái qua loa.
- Một số giáo viên mới vào nghề kiến thức về dinh dưỡng sức khoẻ còn hạn chế chưa có
kinh nghiệm, hay một số giáo viên tuổi đã cao do kiến thức dinh dưỡng sức khoẻ học đã

+ Giờ học phải có trọng tâm, tránh dàn trải, lan man, cần biết phối hợp các phương pháp
một cách linh hoạt, hợp lý.
* VD: “Bài một số con vật nuôi trong gia đình có 4 chân đẻ con”
(Lớp mẫu giáo 4 - 5 tuổi )
a. Mục đích - yêu cầu:
- Kiến thức: Trẻ biết gọi tên và nhận xét được những điểm rõ nét của một số con vật nuôi
trong gia đình có 4 chân, đẻ con ( Mèo, bò, lợn, thỏ )
Trẻ biết so sánh nhận xét được điểm giống nhau là động vật nuôi trong gia đình có 4
chân, đẻ con)Và khác nhau ( Tiếng kêu, cấu tạo, thức ăn, vận động ích lợi )
- Kĩ năng: luyện nói lưu loát , rõ ràng
Phát triển khả năng nhạy cảm của giác quan, khả năng chú ý và ghi nhớ có chủ định
cho trẻ
Phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ.
- Giáo dục : Trẻ có ý thức biết chăm sóc giáo dục vật nuôi, biết giá trị dinh dưỡng của
một số con vật nuôi đối với sức khoẻ con người.
b Chuẩn bị:
- Máy tính, hình ảnh các con vật nuôi trong gia đình.
- Một số con vật nuôi trong gia dình(Bò, mèo, thỏ, lợn) qua vật thật và mô hình
- 04 hộp quà có gắn số từ 1-4
- Bảng dính 02 cái
- ô cửa có ký hiệu từ 1-4 (gắn phía sau các con vật mèo, Bò, lợn, thỏ )
- Hai cái cầu
- Rổ nhựa to : 02 cái đựng hình các con vật cắt rời các bộ phận
- Trẻ thuộc một số câu đố , bài hát, đồng dao về các con vật
- Đàn oóc, đĩa ghi nhác bài hát có nội dung các con con vật.
c. Tổ chức hoạt động.
Hoạt động của cô Hoạt đông của trẻ
1. ổn định lớp;
- Chào mừng các con đã đến với “vườn cây tri thức” nào các con hãy cùng cất cao tiếng
hát.

- VD: con bò có màu gỉ? nó có phần gì đây? cô chỉ vào phần đầu mình chân đuôi?.
- Trên đầu bò có gì? Bò là động vật nuôi ở đâu? nó có mấy chân. Bò đẻ con hay đẻ trứng?
Bò kêu như thế nào? ( Cho trẻ bắt chiếc tiếng kêu của con bò. nuôi bò để làm gì?.
=> Cô khái quát lại:
Bò là động vật nuôi trong gia đình có 4 chân đẻ con, bò có màu vàng, trên đầu có đôi
sừng, có đôi mắt có mõm, đuôi bò dài , bò thường hay ăn cỏ, nuôi bò để kéo xe lấy thịt
lấy sữa, thịt bò có nhiều chất đạm ăn vào rất tốt cho cơ thể con người . sưã bò có nhiều
can xi và các Vtamin các loại sữa tươi sữa hộp mà ở nhà cũng như đến lớp các con được
bố mẹ cô giáo cho uống hàng ngày đều được pha chế từ sữa bò. các con nhớ chịu khó
uống sữa sẽ giúp cho cơ thể khoẻ mạnh thông minh chóng lớn
- Xin mời đội Mèo con chọn ô cửa số mấy
VD: Ô cửa số 1 cô mở ô cửa số 1 hỏi trẻ ô cửa chứa con gì?.
- Không biết trong 3 hộp quà còn lại chú lợn con nằm trong hộp quà nào xin mời đội Mèo
con các con hãy chọn hộp quà màu nào ?.
- VD; Trẻ chọn hộp quà màu xanh ( Cô mở hộp quà và đọc câu đố .
“Con gì ăn no
bụng to mắt híp
ụt à ụt ịt nằm thở phì phò”
đố biết đó là con gì?.
- Cho trẻ nhận xét về đặc điểm của con lợn? (cô đặt câu hỏi gợi mở tương tự như con bò)
- Con Lơn; Có màu hồng nhạt , đốm đen
Có 2 tai to, 2 mắt híp, mõm dài
Lợn có bụng to, thích ăn cám
Lợn là động vật nuôi trong gia đình ,4 chân, đẻ con xếp trong nhóm gia xúc
Lợn kêu,ủn ỉn. eng éec

Trích đoạn Bài học kinh nghiệm:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status