skkn trẻ làm quen với môi trường xung quanh - Pdf 24

Lời cảm ơn
Qua quá trình thực hiện nghiên cứu thực tế “Nâng cao chất lượng đội
ngũ” ở trường mầm non Hoa hồng Phường tân An- Thị xã Nghĩa lộ. Tôi xin
chân thành cảm ơn Phòng giáo dục và đào tạo Thị xã Nghĩa lộ đã tạo điều
kiện cho tôi được tham dự đầy đủ các chuyên đề, được học tập, trao đổi
kinh nghiệm thông qua dự các tiết mẫu. Cảm ơn các tổ chuyên môn mẫu
giáo nhỡ lớn và cùng các đồng chí đồng nghiệp trường mầm non Hoa Hồng
đã ủng hộ giúp đỡ tôi hoàn thành tốt đề tài nghiên cứu “Nâng cao chất
lượng đội ngũ”
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn./.
PHẦN THỨ NHẤT: MỞ ĐẦU
1
1.LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
1.1.LÝ DO KHÁCH QUAN:
Nâng cao chất lượng giáo dục là một trong những mục tiêu lớn nhất trong
giai đoạn hiện nay. Đổi mới phương pháp giáo dục nhằm đạt được những mục
tiêu “ Xây dựng con người mới hoàn thiện về nhân cách, trí tuệ, sẵn sàng tiếp
cận được những yêu cầu phát triển của xã hội. Trên đà phát triển của thế giới
1.2. LÝ DO CHỦ QUAN:
Tuy nhiên với độ tuổi của trẻ mọi sự vật, hiện tượng xung quanh trẻ đều
luôn luôn mới lạ và có sức hấp dẫn kỳ lạ .Do đó việc lựa chọn nội dung giáo dục
như thế nào cho vừa sức với trẻ và đạt được hiệu quả như mong muốn thì chúng
ta cần có sự lựa chọn nội dung, chủ đề, định hướng đưa vào theo từng thời điểm,
giai đoạn như thế nào cho vừa và đủ với từng độ tuổi của trẻ.
Chính vì những vấn đề nêu trên, bản thân tôi đã xác định : Cần phải lựa
chọn nội dung cho trẻ làm quen với môi trường xã hội đưa vào thực tế nghiên
cứu ở lớp 5 tuổi tôi đang dạy. Chỉ với một nội dung này, nhưng kèm theo đó là
những yêu cầu rất lớn :
+ Đối với giáo viên :
Cần phải nhận thức đầy đủ về vị trí, vai trò trách nhiệm của mình, nắm
được nội dung, phương pháp giáo dục của bộ môn.

Phương pháp tổ chức hoạt động cho trẻ làm quen môi trường xung quanh.
Quan niệm đúng về Trẻ em là một thực thể xã hội đang hình thành nhưng
không phải là người lớn thu nhỏ lại mà nó vận động và phát triển theo quy luật
riêng của nó.
Đặc điểm tâm lý và nhận thức của trẻ mẫu giáo 5 tuổi .
IV. GIỚI HẠN PHẠM VI NỘI DUNG NGHIÊN CỨU:
Làm quen môi trường xung quanh là một môn học giúp trẻ được tìm hiểu,
khám phá nhiều nội dung, kiến thức rộng lớn : Môi trường xã hội, môi trường tự
nhiên Do đó việc lựa chọn kiến thức phù hợp, thiết kế môi trường hoạt động có
hiệu quả là vô cùng cần thiết, chính vì thế tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu
trong quá trình dạy trẻ làm quen với môi trường xã hội.
Đối với lứa tuổi mầm non, nội dung cho trẻ tìm hiểu mang tính đồng tâm,
do đó khi nghiên cứu nội dung giáo dục cho độ tuổi mẫu giáo lớn cần duy trì ,
củng cố nhũng kiến thức trẻ đã tiếp thu ở lớp bé- nhỡ.
V. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU:
Với nhiệm vụ khảo sát thực tế việc tổ chức các hoạt động cho trẻ làm quen
với môi trường xã hội tại nhóm lớp, áp dụng một số giải pháp cơ bản trong việc
thiết kế môi trường hoạt động cho trẻ mẫu giáo 5 tuổi .
Vận dụng linh hoạt trong quá trình giảng dạy để đưa những nội dung cơ bản về
môi trường xã hội xung quanh trẻ vào bài giảng một cách vừa phải, có hiệu quả.
3
Khẳng định bản chất việc hình thành nhân cách cho trẻ em phải có sự tác
động tích cực của người lớn tới sự tìm tòi khám phá của trẻ. Nghĩa là người lớn
phải hướng dẫn trẻ hoạt động một cách có mục đích, có kế hoạch để đáp ứng
phù hợp yêu cầu phát triển toàn diện .
Biết lựa chọn nội dung giáo dục lồng ghép cho phù hợp và sáng tạo giúp trẻ
hứng thú hoạt động.
Phối hợp với phụ huynh, tuyên truyền đầy đủ các nội dung giáo dục theo
chủ đề, chủ điểm trong quá trình tổ chức cho trẻ làm quen.
VI. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

ứng xử đúng đắn với mọi người xung quanh . Chính vì tầm quan trọng đó, đòi
hỏi người giáo viên phải biết tận dụng mọi cơ hội ở mọi lúc, mọi nơi để dạy trẻ.
Vậy dạy trẻ như thế nào để có hiệu quả như mong muốn? Lúc này vai trò của
người giáo viên mới thực sự được phát huy.
Trong sự phát triển tâm lý có sự biến đổi từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức
tạp . Phải có sự tích luỹ về lượng để dẫn đến sự thay đổi về chất. Mọi sự phát
triển đều là sự vận động và đấu tranh giữa các mặt đối lập với nhau. Phát triển
tâm lý vừa là sự thay đổi số lượng các chức năng tâm lý lại vừa là sự biến đổi
đổi chất lượng các chức năng tâm lý cũ để hình thành các chức năng tâm lý mới.
Như vậy nói đến sự phát triển tâm lý là người ta thường thấy những đặc tính tâm
lý mới khác về chất so với những đặc tính tâm lý cũ đã có ở chủ thể. Phát triển
tâm lý là tính kế thừa, là kết quả hoạt động của chính đứa trẻ với những đối
tượng do loài người tạo ra.
Các điều kiện của sự phát triển tâm lý trẻ em:
-Nền văn hoá của đất nước, của dân tộc ( Văn hoá xã hội ).
-Văn hoá vật chất ( Toàn bộ cơ sở vật chất ).
-Văn hoá tinh thần ( Các phong tục tập quán, truyền thống, lý tưởng, văn
học nghệ thuật và các yếu tố văn hoá phi vật thể.)
-Văn hoá gia đình (Truyền thống văn hoá của dòng họ, gia đình).
-Tâm lý trẻ mẫu giáo phát triển đầy biến động, có đột biến, có khủng
hoảng.
Tiền đề và điều kiện của sự phát triển tâm lý trẻ chính là thông qua các hoạt
động của trẻ và sự hướng dẫn của người lớn cùng một sự giáo dục phù hợp trên
cơ sở nền văn hoá vật chất và tinh thần mà loài người đã sáng tạo ra cùng với
yếu tố di truyền của đứa trẻ.
Nội dung giáo dục trẻ thực hiện theo chương trình đồng tâm trẻ đã được
làm quen từ ở độ tuổi mẫu giáo nhỡ, bé.
Tuy nhiên với đặc điểm tâm lý của trẻ là dễ nhớ, nhanh quên.
5
Trong thực tế quá trình dạy trẻ tôi nhận thấy: Những kiến thức trẻ đã được

cảnh quan môi trường, đặc biệt là bổ sung đồ dùng, đồ chơi cho các nhóm lớp
tương đối đầy đủ, tạo cơ hội cho trẻ khám phá một cách tích cực.
2 Khó khăn:
-Tuy nhiên trong quá trình thực hiện giáo viên vẫn mắc phải những tồn tại :
Chưa thực sự sáng tạo trong việc thiết kế môi trường giảng dạy, chuyển tải nội
dung kiến thức chưa chọn lọc, còn ôm đồm, việc lồng ghép tích hợp các nội
dung giáo dục chưa thực sự hiệu quả.
- Cơ sở vật chất phục vụ cho chuyên đề còn thiếu thốn, chưa thật đồng bộ.
-Việc phối kết hợp với phụ huynh chưa thường xuyên, hiệu quả chưa cao.
-Một số cháu do chưa qua mẫu giáo 3-4 tuổi nên các cháu còn nhút nhát,
chưa mạnh dạn tham gia vào các hoạt động cùng các bạn.
-Một số cháu do nhận thức yếu hơn các bạn nên cũng chưa thật tích cực
tham gia hoạt động.
- Hoạt động của trẻ chưa thật sự đồng nhất, còn mang tính bột phát, trẻ
thường làm theo ý thích cá nhân trẻ. Đôi khi trẻ nhận thức được song lại không
dám trình bày ý tưởng và đánh giá .
-Kết luận :
Làm quen với môi trường xung quanh là một bộ môn giúp trẻ được tìm tòi
khám phá, tạo điều kiện để trẻ được tích luỹ kinh nghiệm, phát triển toàn diện về
nhân cách.
Để sự tìm tòi khám phá của trẻ phát triển theo chiều hướng tốt, đảm bảo
các nội dung giáo dục theo yêu cầu độ tuổi thì việc nghiên cứu, lựa chọn nội
dung đưa vào thế nào cho phù hợp, đảm bảo trẻ nhận thức vừa đủ, không trùng
lặp, không nhồi nhét thì việc áp dụng đề tài này là hợp lý.
Do vậy tôi đã đưa ra một số giải pháp sau đây để giúp trẻ học tốt bộ môn
môi trường xung quanh.
1. Xác định vai trò, vị trí và nhiệm vụ của người giáo viên mầm non, khảo
sát trẻ qua các giai đoạn.
2. Nghiên cứu một số nét chính văn hoá của người Thái vùng Mường Lò.
3. Lựa chọn nội dung kiến thức.

mẫu giáo bé- nhỡ .
Kết quả đánh giá :
Số lượng
học sinh
Nhận
Nhận Đạt yêu
cầu
Yếu Ghi chú
30 5 6
15
4
Đánh giá theo hệ thống
câu hỏi giao tiếp, một số nội
dung đơn giản về mối quan
hệ trong giađình.
Thống kê kết quả khảo sát cho thấy: Số học sinh mạnh dạn, tự tin không có
nhiều, vẫn tồn tại một số học sinh yếu về khả năng trình bày diễn đạt. Do đó
giáo viên phải lựa chọn, phân nhóm học sinh để tiếp cận và thiết kế hoạt động
cho phù hợp.
Kết luận: Độ tuổi mầm non, với đặc điểm tâm lý dễ nhớ, nhanh quên,
chưa tích luỹ được nhiều kinh nghiệm. Sau thời gian nghỉ hè, không thường
xuyên ôn luyện trẻ bước vào mẫu giáo lớn với lượng kiến thức mới yêu cầu cao
hơn,dẫn đến trẻ chưa thực sự mạnh dạn, tự tin, chưa tích cực tham gia vào hoạt
động và đặc biệt là chưa dám đưa ra những ý kiến cá nhânđể trao đổi, thảo luận.
Chính vì những vấn đề nêu trên dẫn đến việc hoạt động theo nhóm kém hiệu quả, kết
quả khảo sát đã cho thấy rõ: Giáo viên cần tiếp cận, phân nhóm hoạt động cho phù
hợp. Từ đó linh hoạt trong việc áp dụng phương phát dạy trẻ cho có hiệu quả.
Ngoài những nội dung kiến thức chính cần cung cấp cho trẻ thông qua các
chủ điểm, giáo viên cần lựa chọn những nét đặc sắc của nền văn hoá dân tộc của
địa phương, duy trì và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc mình. Như vậy người

thập cẩm những món ăn này luôn hấp dẫn bởi hương vị của núi rừng : Hạt xẻn,
hạt dổi, xiểng pột
Với tiềm năng về văn hoá dân gian đậm đà bản sắc, vũ điệu xoè là một
trong những loại hình nghệ thuật tiêu biểu của người Thái Nghĩa lộ. Bên đống
lửa hồng, những điệu xoè nhịp nhàng theo âm thanh trầm bổng. Điệu xoè hôm
nay đã trở thành tài sản vô giá của nhân dân các dân tộc vùng Mường lò. Cùng
góp phần cho kho tàng văn hoá các dân tộc vùng Mường lò, người Thái cũng có
rất nhiều các câu chuyện thần thoại, cổ tích, truyền thuyết, sử thi, ca dao Với
tất cả những nét văn hoá độc đáo đó, mỗi chúng ta phải có trách nhiệm bảo tồn
gìn giữ và phát huy.
10
Kết luận :Như vậy, người giáo viên càn thiết phải tìm hiểu những nét văn
hoá của người dân địa phương để góp phần phát huy các nét đẹp văn hoá, vận
dụng vào trong quá trình dạy trẻ để góp phần không nhỏ vào công cuộc xây
dựng, gìn giữ nét đẹp văn hoá của địa phương.
3. LỰA CHỌN NỘI DUNG KIẾN THỨC :
Trong chương trình của độ tuổi 5-6 tuổi, nội dung kiến thức yêu cầu đối
với trẻ được nâng cao hơn so với lớp mẫu giáo nhỡ, bé. Song việc lựa chọn kiến
thúc lồng ghép để đưa vào thế nào cho phù hợp và đạt được những mong muốn
đã nêu, đòi hỏi người giáo viên phải linh hoạt lựa chọn và đưa vào một cách có
hệ thống.
Ví dụ : Trong chủ điểm " Bản thân" trẻ được nhận biết về bản thân, mối
quan hệ giữa các thành viên trong gia đình, giữa mình và bạn, giữa học sinh và
cô giáo Nội dung cần lồng ghép đưa vào ở đây là : Mở rộng nhận biết về mối
quan hệ họ hàng, làng xóm. Giáo dục trẻ biết kính trọng các già làng, yêu quý
các em nhỏ, giữ gìn vệ sinh thân thể (quần áo, đầu tóc). Thích mặc những bộ
quần áo, váy truyền thống của dân tộc nhân các ngày lễ hội, biết kể tên các món
ăn mà mình thích, trò chuyện về những món ăn của dân tộc mình
Đặc biệt, cần gợi cho trẻ biết, tham gia vào các tiết mục văn nghệ : múa
xoè, hát các làn điệu dân ca, chơi các trò chơi dân gian. Thông qua đó trẻ được

Quan sát tranh ảnh mô phỏng, xem băng hình, một số sản phẩm của nghề
dệt tại địa phương.
Ví dụ :
Trò chuyện về một số nghề, trẻ được quan sát các hành động: quay tơ, dệt
vải. Các bác nông dân cày ruộng… thông qua hoạt động đi dạo, đi thăm.
Giúp trẻ mô phỏng các động tác thông qua hoạt động đóng vai.
Quan sát một số sản phẩm của các nghề thông qua việc cô giáo sưu tầm từ
sách báo, tranh ảnh: ( Hình ảnh minh hoạ).
12 Cho trẻ chơi nối tranh các hoạt động về đúng nghề
Sau đó cho trẻ thảo luận, nêu ý tưởng và nhận xét theo ý hiểu của mình.
Chính vì sự phong phú của nội dung dạy trẻ, do đó giáo viên phải tuỳ thuộc vào
thực tế từng nội dung, từng thời điểm để thiết kế hoạt động.Sao cho trẻ có cơ hội
được thử nghiệm, thảo luận với nhau để đưa ra nhận xét theo ý hiểu của mình.
Tổ chức hoạt động cho trẻ không nhất thiết phải ở trong lớp, mà cô có thể
tận dụng môi trường bên ngoài lớp học : Nhà sàn văn hoá, sân trường, cánh
đồng lúa trước sân trường.
Với một số nội dung giáo viên có thể tổ chức cho trẻ tự tạo ra các sản
phẩm, làm các thí nghiệm, so sánh và đưa ra kết luận. Trẻ có thể hoạt động theo
nhóm: Mỗi nhóm được sắp xếp có đủ các đối tượng: Giỏi- Khá- Trung bình-
Yếu. Trẻ cùng được quan sát, trao đổi, thảo luận và thống nhất ý kiến .
Ví dụ : Cùng tìm hiểu về một nghề trẻ phải thống nhất được những đặc
điểm nổi bật của từng nghề , rồi đến những sản phẩm do nghề đó tạo ra.
Sau đó đưa ra những ý kiến nhận xét thống nhất chung: nghề nông là nghề
trồng lúa nước và hoa màu. Sản phẩm của nghề nông là ; thóc gạo, ngô, khoai,
sắn
Trẻ được thực hành làm một số công việc đơn giản : Cuốc đất ở vườn
trường, gieo hạt, tưới nước và nhổ cỏ từ đó trẻ đưa ra được kết luận : nghề nông

ôn lại những nét văn hoá của dân tộc mình, từ đó giúp trẻ tự tin hơn, mạnh dạn
hơn như : Trẻ có thể kể cho cô nghe việc tổ chức đón tết của gia đình trẻ, các
loại bánh trẻ được ăn trong ngày tết, ăn mặc như thế nào trong ngày tết, trẻ được
đi chơi tết như thế nào, tham gia gói bánh chưng tết cùng cô và các bạn Qua
đó giúp trẻ phát triển tư duy ngôn ngữ và tư duy hình tượng :
Trẻ kể cho cô nghe:
Nhà con có bánh chưng, có cành đào.
14
Nhà con mổ lợn cô nhé!
Nhà con về quê thăm ông bà.
Hoặc có bạn nói :
Gói bánh chưng thì phải có lá dong, gạo nếp, đỗ xanh.
Bạn khác bổ sung thêm:
Còn có cả thịt lợn, phải có lạt buộc nữa…
Trẻ hình dung ra:
Chiếc bánh chưng hình vuông, màu xanh.
Có cả bánh dài hình trụ nữa…
Ngoài ra giáo viên cần linh hoạt đưa vào mọi lúc mọi nơi theo mọi hình
thức: trò chơi, câu đố, qua các câu chuyện kể của cô và trẻ.
Kết quả: Khi thực hiện lồng ghép các nội dung giáo dục trong các thời
điểm hoạt động trong ngày của trẻ và thông qua các kỳ hoạt động ngoại khoá đã
cho thấy: trẻ rất chủ động, hứng thú tham gia vào các hoạt động, tự tin khi trình
bày ý tưởng của mình đầy đủ câu từ, biết tạo ra các sản phẩm đơn giản và giữ
gìn sản phẩm mình làm ra.
6. PHỐI KẾT HỢP VỚI PHỤ HUYNH:
Xuất phát từ nhu cầu, nguyện vọng và những khả năng nhận thức của trẻ
đối với môi trường, chúng ta cần chú trọng tới tất cả các đối tượng . Đặc biệt là
công tác phối kết hợp với gia đình, bởi chính gia đình là nơi trẻ được tìm hiểu và
tiếp cận về môi trường xung quanh một cách tích cực.
Thông qua buổi tuyên truyền hàng tháng, các cuộc họp phụ huynhđể thông

Đạt yêu
cầu
Yếu
30 12 10 8 0
Cùng một số sản phẩm của trẻ trong các hoạt động.
* Kết quả trong công tác phối hợp với phụ huynh:
-Số lượng đồ dùng, đồ chơi : 20 loại Chuyện kể dân gian: 02 chuyện.
-Bài hát khắp : 02 bài. -Cây cảnh : 05 cây Công lao động : 30 công.
Trên đây là những đánh giá kết quả sơ bộ trong quá trình triển khai những
biện pháp dạy trẻ mẫu giáo lớn làm quen với môi trường xã hội . Trong quá
trình áp dụng bản thân tôi nhận thấy cần phải tiếp tục nghiên cứu, thay đổi, bổ
sung những nội dung lồng ghép tích hợp, sao cho ngoài truyền tải kiến thức
16
chính, người giáo viên còn có vai trò góp phần duy trì và phát huy bản sắc văn
hoá dân tộc tại vùng miền mình sinh sống. Với những nội dung nghiên cứu này
tôi sẽ còn phải theo đuổi trong những năm học tiếp theo, thu thập thông tin, xin
ý kiến đóng góp của đồng chí, đồng nghiệp.
2. Một số khuyến nghị của bản thân:
- Đề nghị nhà trường bổ sung thiết bị dạy học theo hướng đồng bộ.
- Cho giáo viên được tham quan học tập kinh nghiệm của các đơn vị trường
bạn có uy tín.
- Đề xuất ý kiến: Xây dựng vườn thiên nhiên trong nhà trường bằng nguồn
huy động đóng góp của nhân dân.
Trên đây là một số biện pháp dạy trẻ mẫu giáo lớn làm quen với môi
trường xã hội tôi đã trình bày, kính mong nhận được ý kiến đóng góp của
các đồng chí, đồng nghiệp.
Nghĩa lộ, ngày 30 tháng 03 năm 2009
Người viết
Trần Thị Huệ
TÀI LIỆU THAM KHẢO

2. Mục đích nghiên cứu. 3
3. Đối tượng nghiên cứu. 3
4. Giới hạn phạm vi nội dung nghiên cứu. 4
5. Nhiệm vụ nghiên cứu. 4
6. Phương pháp nghiên cứu. 4
7. Thời gian nghiên cứu. 4
22
Phần thứ hai: NỘI DUNG 5
Chương I : Cơ sở lý luận của đề tài: 5 – 6
Chương II: Thực trạng của đề tài: 7 – 8
Chương III: Giải quyết vấn đề : 9 – 16
1. Xác định vai trò, vị trí và nhiệm vụ của người giáo viên mầm non,
khảo sát trẻ qua các giai đoạn.
9 – 10
2. Nghiên cứu về một số nét chính nền văn hoá của người Thái tại
vùng Mường Lò.
10 –11
3. Lựa chọn nội dung kiến thức 11– 12
4. Thiết kế môi trường hoạt động và hướng dẫn trẻ hoạt động 13– 14
5. Lồng ghép thích hợp các nội dung hoạt động 15
6. Phối kết hợp với phụ huynh 16
Phần thứ ba: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 17
Những kết quả đạt được và những kiến nghị . 17
Tài liệu tham khảo 18
23


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status