skkn hướng dẫn học viên ngành giao dục thường xuyên sử dụng sách giáo khoa môn ngữ văn - phần văn học - Pdf 26

SỞ GD - ĐT ĐỒNG NAI CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
VIỆT NAM
TTGDTX LONG THÀNH Độc lập – Tự do – Hạnh
phúc
&
Long Thành, ngày 20 tháng 4 năm
2012
KINH NGHIỆM
HƯỚNG DẪN HỌC VIÊN NGÀNH GDTX
SỬ DỤNG SÁCH GIÁO KHOA
MÔN NGỮ VĂN - PHẦN VĂN HỌC
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Từ thực tế hơn 20 năm giảng dạy môn Ngữ văn cho học viên Bổ
túc văn hóa (nay là ngành học Giáo dục thường xuyên); sau khi tiếp thu,
vận dụng chuyên đề “ Hướng dẫn học viên sử dụng sách giáo khoa”
của Sở Giáo dục – Đào tạo(GD – ĐT) Đồng Nai ở các năm qua; nhất là
việc học tập, vận dụng đổi mới phương pháp dạy học theo chương trình
chuẩn và sách giáo khoa (SGK) mới của Bộ GD – ĐT trong những năm
gần đây, tôi càng nhận thấy rõ tầm quan trọng và kết quả thiết thực của
nó trong công tác giảng dạy của mình. Nó đã đem lại hiệu quả khả thi
cho việc tiếp thu kiến thức của học viên. Song cũng đòi hỏi người GV
phải có ý thức, trách nhiệm cao, linh hoạt vận dụng thích hợp các biện
pháp trong mỗi phân môn, mỗi bài học, mỗi đối tượng học, ở từng lớp
cụ thể. Là một GV Ngữ văn, tôi đã ý thức thực hiện nghiêm túc việc:
Hướng dẫn học viên ngành Giáo dục thường xuyên(GDTX) sử dụng
SGK môn Ngữ văn ở các lớp mình giảng dạy (kể cả lớp bồi dưỡng học
viên giỏi) và đã tích lũy được một số kinh nghiệm nhỏ. Nó đã có tác
dụng thiết thực cho việc dạy và học môn Ngữ văn ở bậc BTTH. Đặc biệt
là giúp học viên ngành GDTX chủ động lĩnh hội kiến thức, cảm thụ và
thực hành văn chương đạt hiệu quả khá tốt so với trước đó. Chính vì vậy,
năm học 2007 - 2008 tôi đã đưa ra kinh nghiệm “ Hướng dẫn học viên

*Từ năm học 2002 – 2003 trở về trước:
- Trong mỗi lớp học chỉ có khoảng 15% đến 20% học viên có SGK
- Kiểm tra vở chuẩn bị bài của học viên:
+ Đối tượng cán bộ, công nhân đi học:90% đến 95% không chuận
bị bài.
+ Đối tượng tuổi 15 – 18 ( tuổi HS ): khoảng 20% - 30% chuẩn bị
bài ( lớp ban ngày)
- Thời gian chép các bài tập trong SGK, ghi bài học chiếm nhiều
trong tiết học.
* Từ năm học 2003 – 2004 đến nay:
Thực trạng ở trên đã giảm hẳn. Học viên đã sử dung SGK có hiệu
quả, thiết thực hơn trong việc chuẩn bị, cảm thụ bài học; ghi chép bài
học …
- Đối tượng cán bộ, công nhân : 60% - 70% có SGK; 10% - 15% có
chuẩn bị bài, nghiên cứu bài học trước khi dến lớp.
- Đối tượng từ 18 tuổi trở xuống : 50% - 60% có SGK; 25% - 45%
có nghiên cứu, chuẩn bị bài bài học trước khi dến lớp.
- Đối tượng học viên giỏi: 100% có SGK và biết sử dụng nó. 50%
sử dụng đạt hiệu quả : biết tìm tòi, so sánh, nhân xét mở rộng kiến thức.
III. NỘI DUNG ĐỀ TÀI
1. Cơ sở lí luận:
Hướng dẫn học sinh sử dụng sách giáo khoa là một công việc người
giáo viên phải thường xuyên thực hiện. Nhưng đối với học viên ở ngành
học Giáo dục thường xuyên để thực hiện có hiệu quả thì không đơn giản,
bởi đối tượng này thường rất ít SGK. Song khi có SGK, họ lại không
biết sử dụng như thế nào để đạt hiệu quả cho việc tiếp nhận các nội dung
kiến thức ở trong đó, nhất là đối tượng cán bộ, công nhân. Đây chính là
vấn đề đặt ra cho mỗi giáo viên ở ngành học GDTX khi giảng dạy môn
Ngữ văn nói chung và phân môn văn học nói riêng. Trước vấn đề này,
trước thực trạng của đối tượng ngành học, tôi đã suy nghĩ, nắm bắt tình

việc, yêu cầu học viên phải nghiên cứu kĩ các mục tiểu dẫn, chú thích,
đọc kĩ văn bản ở SGK để thực hiện. Cụ thể như:
* Hướng dẫn học viên chuẩn bị bài “Bình ngô đại cáo” của Nguyễn
Trãi (Ngữ văn lớp 10), tôi yêu cầu học viên phải thực hiện một số hoạt
động như:
+ Đọc kĩ các mục: tiểu dẫn, chú thích, văn bản để hiểu rõ về tác giả,
nội dung khái quát của văn bản.
+ Trả lời các câu hỏi ở SGK ra vở chuẩn bị bài.
+ Kể ra những cuộc chiến thắng mà quân ta đã giành được và những
thất bại thảm hại của quân giặc? Tìm những chi tiết, những hình ảnh tiêu
biểu mà bài Cáo đã thể hiện.
+ Xác định tư tưởng, chủ đề của bài Cáo.
+ Xem xét, nhận xét lời tuyên cáo ở tác phẩm: “ Nam quốc sơn hà”
của Lí Thường Kiệt với lời tuyên cáo ở “ Bình Ngô đại cáo” của Nguyễn
Trãi?
* Hướng dẫn học viên chuẩn bị bài “ Khái quát văn học Việt Nam từ
đầu thế kỉ XX đến 1945” (Ngữ văn Lớp11):
Ngoài việc tìm hiểu, trả lời các câu hỏi trong SGK, tôi đưa ra một
vài công việc yêu cầu học viên sử dụng SGK để thực hiện.
+ Hãy hệ thống những tác giả, tác phẩm tiêu biểu của các thể loại
(tiểu thuyết, truyện ngắn, phóng sự, thơ ca ) ở đầu thế kỉ XX đến cách
mạng tháng Tám năm 1945?
+ Hãy phân biệt các trào lưu văn học ở giai đoạn này? Nêu một số
tác giả, tác phẩm tiêu biểu cho mỗi trào lưu?
* Hướng dẫn học viên chuẩn bị bài “Đất nước” của Nguyễn Khoa
Điềm (Ngữ văn lớp 12),:
+ Hãy cho biết mục đích sáng tác của trường ca “Mặt đường khát
vọng” nói chung và văn bản “Đất nước” của Nguyễn Khoa Điềm?
+ Tìm những câu thơ mà Nguyễn Khoa Điềm đã cảm nhận và lí giải
đất nước ở các phương diện lịch sử, địa lí, văn hóa?

việc định ra những nội dung, hướng dẫn học viên sử dụng SGK ở trên
lớp. Tôi đã đưa ra những câu hỏi, những yêu cầu bắt buộc học viên phải
chú ý, dựa vào SGK để xem xét, phát hiên, nhận biết…thì mới trả lời
được (kết quả tiếp thu kiến thức bài học). Cụ thể như:
* Trong tiết đọc văn ở lớp 10 – phần Đọc – Hiểu văn bản bài: “ Bình
Ngô đại cáo”, tôi tiến hành một số thao tác sau:
+ Yêu cầu một học viên đọc phần 2 của bài Cáo, cả lớp theo dõi
đọc thầm SGK. Các học viên khác hãy ghi ra giấy nháp (gạch dưới)
những chi tiết, hình ảnh mà tác giả đã sử dụng để nói về tội ác của giặc
Minh? Hình ảnh nào man rợ nhất?
+ “Bình Ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi có bố cục như thế nào? Nội
dung của từng phần?
* Tiết đọc văn bài “ Vội vàng” của Xuân Diệu (Ngữ văn lớp 11):
Khi cho HV đọc xong bài thơ, GV yêu cầu HV dựa vào SGK để trả
lời một số câu hỏi sau:
+ Trong bài “Vội Vàng”, Xuân Diệu đã sử dụng các phép điệp từ,
điệp ngữ nào? Mục đích của việc sử dụng đó? (Nêu và phân tích một số
hình ảnh, chi tiết để minh họa).
+ Tìm, phân tích những chi tiết tiêu biểu trong bài thơ “Vội vàng”
đã thể hiện lòng yêu cuộc sống, yêu đời của Xuân Diệu?
* Tiết đọc văn bài “ Tây tiến” của Quang Dũng (Ngữ văn lớp
12):
Trước khi cho một số HV đọc bài thơ, GV yêu cầu tất cả HV ở dưới
lớp đọc thầm, theo dõi và dùng viết chì gạch dưới các từ ngữ mà Quang
Dũng đã sử dụng để khắc họa những phẩm chất cao đẹp về người chiến
sĩ Tây Tiến?
* Tiết đọc văn bài “Sóng” của Xuân Quỳnh( Ngữ văn lớp 12):
GV yêu cầu HV: Theo dõi, quan sát vào bài thơ “Sóng” trong SGK,
hãy xác định thể thơ, nhịp thơ của bài thơ.
Trong các phần Luyện tập: Nhiều câu hỏi, đoạn trích dẫn ở bài tập

luận?
* Hãy cảm nhận về vẻ đẹp tâm hồn của tuổi trẻ Việt Nam thời chống
Mĩ qua ba tác phẩm: “ Rừng xà nu” của Nguyễn Trung Thành?
* Cảm nhận của anh (chị) về thân phận và phẩm chất của những
người phụ nữ nông dân trong tác phẩm “Vợ chồng A Phủ” của Tô Hoài,
“Vợ nhặt” của Kim Lân, Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh
Châu?
* Cảm xúc của anh (chị) về vẻ đẹp của sông Đà và sông Hương khi
đến với tùy bút “Người lái đò sông Đà” của Nguyễn Tuân, “Ai đã đặt tên
cho dòng sông” của Hoàng Phủ Ngọc Tường?
e. Kiểm tra việc sử dụng SGK của học viên:
Công việc này tôi tiến hành trong cả tiết dạy, ngay cả ở bước kiểm
tra bài cũ. Cụ thể là:
- Đặt câu hỏi, yêu cầu một số học viên trả lời ( trả lời bằng miệng
hoặc ghi ra giấy), sau đó tôi nhận xét, đánh giá kết quả trả lời của học
viên bằng cách cho điểm nội dung trả lời của học viên một cách khách
quan, công bằng.
Ví dụ:
+ Hãy nêu khái quát về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của
Nguyễn Đình Chiểu? ( Văn học 11 ).
+ Hãy tóm tắt ngắn gọn về cuộc đời của cô Mị trong đoạn trích
giảng “ Vợ chồng A Phủ” ( Văn học 12)
+ Truyện “ Rừng xà nu” của Nguyễn Trung Thành có những nhân
vật nào? Các nhân vật ấy có mối quan hệ với nhau như thế nào? ( Văn
học 12 ).
+ Kiểm tra vở soạn bài – chuẩn bị bài học ở nhà của học viên một
cách thường cuyên, nhất là những đối tượng đáng lưu ý. Một mắt, tôi
trực tiếp kiểm tra, ngoài ra tôi giao cho cán bộ lớp, cán sự bộ môn
thường xuyên kiểm tra và báo cáo trung thực kết quả để tôi nắm bắt tình
hình. Từ đó, tôi lại lại đưa ra tiếp các biện pháp đối với học viên không

Nhận xét, đánh giá kết quả trả lời của học viên ( trả lời miệng
hoặc viết ) một cách công bằng, công khai, khách quan; nhất là khích lệ,
tuyên dương những tổ, nhóm, học viên tiến bộ.
IV. KẾT QUẢ:

Sau khi thực hiện một số biện pháp hướng dẫn sử dụng SGK môn
Ngữ văn cho học viên, tôi đã thu được một số hiệu quả thiết thực cho
việc dạy và học. Cụ thể là:
- Học viên đã có ý thức sử dụng SGK ngày càng có hiệu quả rõ rệt
hơn.
Tự việc có ý thức và biết cách sử dụng SGK có hiệu quả, nên học viên
đã chủ động nắm bắt kiến thức bài học, chủ động xây dựng nội dung bài
học ( kết quả này ở mỗi lớp không giống nhau ).
- Trong các phần thực hanh, luyện tập đã giảm bớt thời gian chép
bài tập. Vì vậy, mà có thời gian nhiều hơn đểlàm bài tập thực hành, thời
gian ghi bài học cũng giảm ( học ở SGK ).
- Chất lượng cụ thể trong việc cảm thụ, vận dụng kiến thức để thực
hành làm bài kiểm tra, làm bài thi tốt nghiệp cuối cấp đã thể hiện rõ ở
kết quả các kì thi, nhất là thi tốt nghiệp Bổ túc THPT từ năm 2002 –
2003 đến nay đều vượt mặt bằng của Sở Giáo dục – Đào tạo Đồng Nai
(môn Văn ).
- Từ khi ngành GDTX tổ chức thi học viên giỏi Văn cấp Tỉnh, năm
nào tôi cũng bồi dưỡng được học viên đạt giải cấp Tỉnh.
V. BÀI HỌC KINH NGHIỆM:
- Khi kiểm tra cần lưu ý đến các đối tượng học viên.
- Động viên, khuyến khích học viên phải có đủ SGK để học tập.
- GV phải có trách nhiệm, chịu khó nghiên cứu, chuẩn bị nội dung
hướng dẫn HV sử dụng SGK cho HV.
VI. KẾT LUẬN CHUNG:
Như vậy, việc hướng dẫn học viên ngành GDTX sử dụng SGK


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status