ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN VĂN TOÀN QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC HƢỚNG NGHIỆP
CHO HỌC VIÊN TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƢỜNG XUYÊN
SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Quốc Thành HÀ NỘI - 2013
Lời cảm ơn
Để hoàn thành luận văn này, tác giả đã nhận được sự giúp đỡ rất nhiều
từ các thầy cô giáo, bạn bè và các cơ quan trong và ngoài ngành GD&ĐT.
Nhân dịp này, tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban lãnh đạo, các
thầy giáo, cô giáo trường Đại học Giáo dục – Đại học Quốc gia Hà Nội; Ban
Lãnh đạo Sở GD-ĐT Hà Nội, Ban giám đốc Trung tâm GDTX Sơn Tây đã tạo
điều kiện cho tác giả trong quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện luận
văn.
Luận văn đã thể hiện kết quả học tập, nghiên cứu của tác giả và sự tận
tâm giảng dạy, giúp đỡ nhiệt tình của Quý thầy giáo, cô giáo Trường Đại học
Giáo dục – Đại học Quốc gia Hà Nội.
Tác giả xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến thầy giáo
PGS.TS Trần Quốc Thành, người đã hướng dẫn nhiệt tình, tâm huyết và giúp
tác giả trau dồi phương pháp nghiên cứu khoa học, bổ sung cho tác giả
những kiến thức và kinh nghiệm quý báu để tác giả hoàn thành luận văn này.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng khó tránh khỏi những thiếu sót, tác
Bổ túc Trung học phổ thông
CB,GV,NV
Cán bộ, giáo viên, nhân viên
CBQL
Cán bộ quản lý
CMHS
Cha mẹ học sinh
CNTT
Công nghệ thông tin
CNH - HĐH
Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa
CSVC
Cơ sở vật chất
CSVC - KT
Cơ sở vật chất – kỹ thuật
ĐH-CĐ
Đại học – Cao đẳng
GD-ĐT
Giáo dục và Đào tạo
GDHN
Giáo dục hướng nghiệp
GDHN-DN
Giáo dục Hướng nghiệp và Dạy nghề
GDNGLL
Giáo dục ngoài giờ lên lớp
GDTX
Giáo dục Thường xuyên
GVCN
Giáo viên chủ nhiệm
HN-DN
Văn hóa xã hội
MỤC LỤC
Trang
Lời cảm ơn
i
Danh mục viết tắt
ii
Mục lục
iii
Danh mục các bảng
vi
Danh mục các biểu đồ, sơ đồ
vii
MỞ ĐẦU
1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO
DỤC HƢỚNG NGHIỆP CHO HỌC VIÊN TRUNG TÂM GIÁO
DỤC THƢỜNG XUYÊN 6
1.1. Tổng quan các nghiên cứu về quản lý giáo dục hướng nghiệp
6
1.1.1.Ở nước ngoài
6
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO
DỤC HƢỚNG NGHIỆP TẠI TRUNG TÂM GIÁO DỤC
THƢỜNG XUYÊN SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 38
2.1. Khái quát tình hình tự nhiên, kinh tế, văn hóa xã hội thị xã Sơn
Tây, thành phố Hà Nội
38
2.2. Quá trình phát triển của trung tâm GDTX Sơn Tây, Hà Nội
40
2.2.1. Sự hình thành và phát triển qua các thời kỳ
40
2.2.2. Kết quả giáo dục đào tạo, chất lượng đội ngũ trong 5 năm gần đây
41
2.3. Thực trạng hoạt động GDHN tại trung tâm GDTX Sơn Tây
44
2.3.1. Mục đích khảo sát
44
2.3.2. Nội dung khảo sát
45
2.3.3. Kết quả khảo sát
46
2.4. Thực trạng quản lý hoạt động GDHN tại trung tâm GDTX Sơn Tây
51
2.4.1. Nhận thức về GDHN của CBQL, GV, NV trung tâm về vai trò
của GDHN cho học viên
51
3.2. Các biện pháp quản lý cụ thể
68
3.2.1. Làm tốt công tác tuyên truyền để giáo viên, học viên và cha
mẹ học viên nhận thức được ý nghĩa của việc GDHN
68
3.2.2. Xây dựng bộ máy tổ chức hoạt động GDHN cho học viên
71
3.2.3. Nâng cao hiệu lực quản lý của Giám đốc trung tâm GDTX về
công tác GDHN cho học viên
72
3.2.4. Tăng cường các nguồn lực: nhân lực, tài chính, cơ sở vật chất,
trang thiết bị cho hoạt động GDHN
74
3.2.5. Đổi mới nội dung, phương thức GDHN phù hợp với đặc điểm
của học viên và môi trường GDTX
77
3.2.6. Phối hợp với các cơ sở đào tạo nghề tổ chức hướng nghiệp và
dạy nghề cho học viên
79
3.2.7. Thực hiện tốt công tác xã hội hóa hoạt động GDHN
80
3.2.8. Tổ chức cho học viên tự đánh giá năng lực, sở trường, tự quyết
định tương lai nghề nghiệp cho bản thân
82
41
Bảng 2.2. Mô tả kết quả giáo dục đạo đức, văn hóa và đỗ tốt nghiệp
44
Bảng 2.3. Số lượng HV tham dự các chuyên đề GDHN, học nghề và tốt nghiệp
50
Bảng 2.4. Tỉ lệ CBVC ủng hộ chủ trương tổ chức hoạt động GDHN học viên
51
Bảng 2.5. Tổng hợp kinh phí giành cho hoạt động GDHN
59
Bảng 2.6. Chất lượng đội ngũ CB,GV làm công tác GDHN
59
Bảng 2.7. Trang thiết bị được đầu tư cho hoạt động ngoại khóa
60
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ
Trang
Biểu đồ 2.1. Mô tả tổng số học viên trong từng năm học
42
Biểu đồ 2.2. Mô tả kết quả giáo dục đạo đức, văn hóa và đỗ tốt nghiệp
44
Biểu đồ 2.3. Mô tả số lượng chuyên đề, số HV tham dự GDHN, số
HV tham gia học nghề và số HV tốt nghiệp
50
Sơ đồ 1.2. Tam giác hướng nghiệp của K.K Platônôp
14
đào tạo, phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội,
theo xu thế phát triển chung của thời đại. Chưa bao giờ giáo dục và đào tạo
được quan tâm đặc biệt như hiện nay, Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII
Đảng ta đã khẳng định “Giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu” nhằm thực
hiện mục tiêu CNH – HĐH, phát triển kinh tế xã hội tiến kịp các nước trong
khu vực và trên thế giới.
Để thực hiện được mục tiêu phát triển giáo dục và đào tạo, đòi hỏi các
cấp, các ngành phải xác định được tầm quan trọng và tầm ảnh hưởng của giáo
dục và đào tạo đối với toàn xã hội.
Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện
về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản nhằm hình thành
nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách
nhiệm công dân, chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống
lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ tổ quốc.
Từ khi Luật Giáo dục ra đời, mọi nhu cầu học tập, nâng cao trình độ,
cập nhật kiến thức của công dân nói chung và của thế hệ trẻ nói riêng luôn
được quan tâm đầu tư, tuy nhiên cũng bộc lộ không ít những hạn chế. Hạn chế
lớn nhất mà ai cũng nhận ra đó là chúng ta đã đào tạo một số ngành nghề tràn
lan, vượt quá nhu cầu của xã hội dẫn đến tình trạng chất lượng nguồn nhân
lực có trình độ cao không đảm bảo, trong khi đó lực lượng lao động kỹ thuật
lành nghề lại thiếu. Thực tế hiện nay đất nước ta đang trong tình trạng “thiếu
thầy, thiếu thợ”. Xuất phát từ những lý do trên, đã đặt ra yêu cầu cấp thiết đối
với ngành giáo dục cần có biện pháp phân luồng học sinh ngay từ bậc học phổ
thông (cấp THCS) nhằm đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực cho xã hội.
Phần lớn phụ huynh chỉ muốn con thi vào các trường ĐH-CĐ mà
không muốn con vào các trường nghề, điều đó đã tạo nên một cuộc chạy đua
vào các trường ĐH-CĐ, dẫn đến tình trạng coi nhẹ vai trò của GDHN, nhiều
nơi, đặc biệt là các TTGDTX không còn quan tâm đến việc tổ chức GDHN cho
học sinh, học viên; cơ sở vật chất, đội ngũ cán bộ chuyên trách, giáo viên làm
công tác GDHN không được quan tâm đúng mức. Coi nhẹ GDHN trong các cơ
thành phố Hà Nội.
4. Giả thuyết khoa học
Trung tâm GDTX Sơn Tây, TP Hà Nội đã quan tâm giáo dục hướng
nghiệp cho học sinh và quản lý được hoạt động này. Tuy nhiên, kết quả hoạt
động giáo dục hướng nghiệp cho các em hiện nay chưa được như mong
muốn. Nếu phân tích rõ cơ sở lý luận và thực trạng quản lý hoạt động giáo
dục hướng nghiệp của trung tâm, có thể đề xuất được những biện pháp quản
lý phù hợp, hoạt động GDHN của trung tâm sẽ được cải thiện.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp
cho học viên tại các trung tâm GDTX cấp huyện
5.2. Khảo sát, đánh giá thực trạng hoạt động GDHN và quản lý hoạt động
giáo dục hướng nghiệp trung tâm GDTX Sơn Tây, TP Hà Nội
5.3. Đề xuất các biện pháp đổi mới quản lý hoạt động GDHN cho học viên tại
trung tâm GDTX Sơn Tây, TP Hà Nội
6. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
6.1. Địa bàn nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu và khảo sát tại trung tâm GDTX Sơn Tây,
ngoại thành Hà Nội.
6.2. Thời gian nghiên cứu
- Nội dung nghiên cứu, khảo sát, đánh giá của đề tài được thực hiện trong
năm học 5 năm học (từ năm học 2008 – 2009 đến năm học 2012-2013)
- Thực tế nghiên cứu công tác quản lý GDHN được thực hiện trong năm học
2012– 2013.
7. Phƣơng pháp nghiên cứu
7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận bao gồm các phương pháp
khái quát, trừu tượng hoá, diễn dịch, quy nạp, phân tích, tổng hợp, hệ thống
hoá, … được dùng cho tất cả các ngành khoa học. Khác với nghiên cứu thực
nghiệm phải sử dụng các yếu tố, điều kiện vật chất tác động vào đối tượng
tối ưu cho vấn đề, sự kiện cần quan tâm.
7.3.Nhóm phương pháp xử lý thông tin
Các phương pháp toán học đảm bảo cho quá trình nghiên cứu khoa học
đi đúng hướng, nhất quán, cũng như trong trình bày kết quả nghiên cứu thành
một hệ thống lôgic và đồng thời tạo lập các ngôn ngữ khoa học chính xác có
tính thuyết phục cao.
Các phép toán thống kê, so sánh, đối chiếu các số liệu thu thập được
được thực hiện bằng các phép tính thông thường và đưa vào biểu, bảng, sơ đồ
để minh họa trong luận văn.
8. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ
lục, nội dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp
cho học viên trung tâm giáo dục thường xuyên.
Chƣơng 2: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp tại
trung tâm giáo dục thường xuyên Sơn Tây, Thành phố Hà Nội
Chƣơng 3: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho
học viên tại trung tâm giáo dục thường xuyên Sơn Tây, thành phố Hà Nội. CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG
GIÁO DỤC HƢỚNG NGHIỆP CHO HỌC VIÊN
TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƢỜNG XUYÊN
1.1. Tổng quan các nghiên cứu về quản lý giáo dục hƣớng nghiệp
1.1.1. Ở nước ngoài
Năm 1848, cuốn sách “Hướng nghiệp chọn nghề” xuất bản ở Pháp đã
đề cập tới xu thế phát triển đa dạng của nghề nghiệp do sự phát triển của nền
sản xuất công nghiệp tạo nên và nhất thiết phải giúp đỡ thanh niên trong sự
trường, giữa các môn học với nhau phải có sự quan hệ mật thiết, liên hệ với
hoạt động thực tiễn và nhất là đối với môn kỹ thuật.
Ở Mỹ, chương trình “giáo dục nghề nghiệp” đã được đưa vào các cấp
học phổ thông, chương trình này đã tạo điều kiện cho HS được tham gia vào
các hoạt động KHCN để giải quyết các vấn đề thực tế của đất nước.
Allan Walker trong công trình khoa học “Một số vấn đề về quản lý GD
ở Australia” đã chỉ ra rằng, nhà trường hiện nay không chỉ là nơi dạy lý
thuyết, mà phải cung cấp cho HS một khả năng chuyển đổi thật nhanh và có
sự bình đẳng trong tất cả các HS, làm cho HS vừa có kỹ năng lao động, vừa
có tri thức.
- Giáo dục ở Trung Quốc rất chú trọng đến giáo dục lao động kỹ thuật
nghề nghiệp cho HS phổ thông. HS cấp THCS và THPT được học môn kỹ
thuật lao động và được thực hành ngay trong trường học một số nội dung như:
chế biến, gia công đồ gỗ, kim loại, lắp ráp điện, điện tử, các nghề thủ công
truyền thống. HS được tham gia lao động tại địa phương và các nhà máy, cơ
sở sản xuất dịch vụ. Trong các nhà trường phổ thông có bộ phận chuyên môn
làm công tác tư vấn tâm lý và tư vấn nghề cho HS nhằm giúp các em khắc
phục trở ngại về tâm lý trong quá trình học tập và định hướng chọn ngành
nghề phù hợp với năng lực bản thân và thị trường lao động. Đặc biệt, giáo dục
nghề nghiệp đã đưa vào loại hình trường THPT có dạy nghề khá sớm. HS vừa
được trang bị học vấn phổ thông và có kỹ năng cần thiết để có thể học lên bậc
đại học hoặc ra làm việc theo ngành nghề được đào tạo ngay từ khi còn học
phổ thông.
Trong những năm 50 của thế kỷ XX, giáo dục Nhật Bản đã quan tâm
đến vấn đề hoàn thiện nội dung, hình thức dạy học kỹ thuật, cung cấp tri thức
rèn luyện kỹ năng lao động nghề nghiệp và phát triển tư duy sáng tạo cho HS,
đã góp phần quan trọng cho hoạt động GDHN ở trường phổ thông. “Luật về
duy trì hệ thống khuyến khích học tập suốt đời” được thông qua năm 1990 về
xây dựng một xã hội học tập suốt đời đã thể hiện một cách nhìn có tính bao
quát rộng lớn về thế kỷ XXI của các nhà khoa học giáo dục Nhật Bản. Trong
phát triển đất nước trong thời kỳ mới.
+ Các tác giả Phạm Tất Dong, Nguyễn Văn Hộ và nhiều nhà nghiên cứu
đã đề cập đến việc hình thành các luận chứng cho hệ thống GDHN phổ thông
trong điều kiện phát triển KT-XH của đất nước và đề xuất một số hình thức
phối hợp giữa nhà trường phổ thông với các cơ sở đào tạo nghề, cơ sở sản
xuất trong việc hướng nghiệp – dạy nghề cho HS phổ thông.
+ Các tác giả Phạm Huy Thụ, Nguyễn Minh Duy, Tô Bá Trọng, Lê Đức
Phúc, … đã đi sâu nghiên cứu việc tiến hành công tác hướng nghiệp trong các
trường phổ thông theo Thông tư 31-TT ngày 17/11/1981 của Bộ GD-ĐT về
hướng dẫn thực hiện Quyết định số 126/CP ngày 19/3/1981 của Chính phủ về
công tác hướng nghiệp trong nhà trường phổ thông và sử dụng hợp lý HS tốt
nghiệp THCS, THPT. Các công trình nghiên cứu đề cập đến các hình thức
GDHN-DN trong trường phổ thông và trung tâm KTTH-HN, bao gồm: tổ
chức lao động sản xuất cho HS phổ thông, tư vấn nghề nghiệp cho HS, các
phương thức giáo dục kỹ thuật và hướng nghiệp.
Nhìn chung, các nhà khoa học đã đi sâu nghiên cứu những vấn đề lý
luận chung về hướng nghiệp, đồng thời làm nổi bật vai trò quan trọng của
GDHN đối với việc chuẩn bị nguồn nhân lực cho sự nghiệp CNH-HĐH đất
nước. Qua nghiên cứu ta có thể rút ra nhận xét sau:
Một là, mặc dù nghiên cứu ở các khía cạnh khác nhau nhưng các công
trình khoa học đều có một mục tiêu chung nhằm nâng cao hiệu quả GDHN,
tạo nền tảng cho việc đào tạo nguồn nhân lực. Các tác giả trong và ngoài nước
đã quan tâm rất nhiều đến hoạt động GDHN, đặc biệt là hoạt động dạy học
lao động chuẩn bị nghề nghiệp cho HS dưới các hình thức khác nhau.
Hai là, các kết quả nghiên cứu đã khẳng định: vấn đề GDHN cho HS
thông qua các hoạt động lao động nghề nghiệp là có cơ sở khoa học và rất cần
thiết trong việc giúp cho các em làm quen với lao động, có hứng thú nghề
nghiệp và những kỹ năng ban đầu đối với nghề mà các em được học. Vì vậy,
GD-ĐT cần quan tâm đến việc hình thành năng lực nghề nghiệp cho thế hệ trẻ
để họ có thể tự tìm ra việc ngay sau khi các em rời ghế nhà trường.
là khách thể quản lý) nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến”
[30,tr.24].
Những quan niệm trên tuy khác nhau về cách diễn đạt, về góc độ tiếp
cận nhưng đều gặp nhau ở những nội dung cơ bản của khái niệm quản lý, các
định nghĩa trên ta có thể hiểu:
Quản lý là quá trình tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể
quản lý lên khách thể quản lý bằng việc vận dụng các chức năng quản lý,
nhằm sử dụng có hiệu quả nhất những tiềm năng và cơ hội của tổ chức để đạt
được mục tiêu đề ra.
Quản lý có bốn chức năng: Kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra
và đánh giá. Các chức năng quản lý đều cần đến yếu tố thông tin. Thông tin
đầy đủ, kịp thời, chính xác là một căn cứ để hoạch định kế hoạch; thông tin
cũng cần cho các bộ phận trong cơ cấu tổ chức, là chất liệu tạo quan hệ giữa
các bộ phận trong tổ chức, thông tin truyền tải mệnh lệnh chỉ đạo và thông tin
phản hồi diễn tả hoạt động của tổ chức và thông tin từ kết quả hoạt động của
tổ chức giúp cho người quản lý biết mức độ đạt mục tiêu của toàn bộ tổ chức.
1.2.2. Quản lý giáo dục
Theo sơ đồ phân loại khoa học của B.M Kêdrop thì quản lý giáo dục
thuộc ngành khoa học xã hội. Do mỗi phương thức xã hội đều có một cách
quản lý khác nhau, cho nên khái niệm quản lý giáo dục đã ra đời và hình
thành từ nhiều quan niệm khác nhau.
Ở các nước tư bản, do vận dụng lý luận quản lý xí nghiệp vào quản lý
cơ sở giáo dục và coi quản lý giáo dục như quản lý một loại “xí nghiệp đặc
biệt”. Đối với các nước XHCN, do vận dụng quản lý xã hội vào quản lý giáo
dục nên quản lý giáo dục thường được xếp trong lĩnh vực quản lý văn hóa tư
tưởng. Như vậy, quản lý giáo dục được coi là bộ phận nằm trong lĩnh vực
quản lý văn hóa tinh thần.
Ở Việt Nam, quản lý giáo dục cũng là một lĩnh vực được đặc biệt quan
tâm. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa
VIII đã nêu: “Quản lý giáo dục là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý
một khái niệm về hướng nghiệp trên phương diện giáo dục học.
Trong cơ sở giáo dục phổ thông, hoạt động GDHN là một hệ thống các tác
động của các lực lượng giáo dục, trong đó nhà trường đóng vai trò chủ đạo, nhằm
hướng dẫn và chuẩn bị cho thế hệ trẻ sẵn sàng đi vào lao động theo những định
hướng nhất định, giải quyết mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội về khả năng đóng
góp của mỗi người vào cuộc sống lao động sản xuất, đem lại lợi ích cho mỗi cá
nhân và toàn xã hội. Với đặc điểm của chương trình là phổ thông, cơ bản và
GDHN cũng bao gồm hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của trò.
GDHN được coi như là công việc của toàn thể giáo viên, tập thể sư
phạm trong nhà trường nhằm mục đích giáo dục học sinh trong việc chọn
nghề, giúp các em tự quyết định nghề nghiệp tương lai trên cơ sở phân tích
khoa học về năng lực, hứng thú của bản thân và nhu cầu nhân lực của các ngành
sản xuất trong xã hội. Như vậy, GDHN trong nhà trường phổ thông được thể hiện
như một hệ thống tác động sư phạm nhằm làm cho học sinh chọn được nghề một
cách phù hợp. Khi xem xét GDHN là một trong những nội dung của hoạt động
giáo dục, thông qua hoạt động hướng nghiệp mỗi HS lĩnh hội được những thông
tin về nghề nghiệp trong xã hội, đặc biệt là nghề nghiệp ở địa phương, nắm được
hệ thống yêu cầu của từng nghề cụ thể mà mình muốn chọn, có kỹ năng tự đối
chiếu những đặc điểm tâm - sinh lý của bản thân với hệ thống yêu cầu của nghề
đang đặt ra cho người lao động sự lựa chọn và sự tự quyết định.
1.2.3.2.Các thành phần của hoạt động GDHN
GDHN là một hoạt động phức tạp bao gồm nhiều thành phần, chịu tác
động của nhiều yếu tố, nằm trong mối quan hệ chặt chẽ giữa cá nhân người
được HN với môi trường sống, môi trường lao động, môi trường giáo dục, tác
động của thị trường lao động cũng như tác động nhiều mặt của tâm lý xã hội.
Theo K.K Platônôv, các thành phần của hoạt động GDHN được sơ đồ
hóa thành tam giác HN như sau:
Tƣ vấn
nghề
nghiệp
1
2
3
Mỗi hoạt động hướng nghiệp thuộc vào các góc của tam giác hướng
nghiệp được dựa trên cơ sở hai yếu tố cơ bản là các cạnh tương ứng giao nhau
tạo nên góc đó:
Người làm hướng nghiệp căn cứ vào tình hình phân công lao động, cơ
cấu lao động, nhu cầu nhân lực ở địa phương và xã hội và đặc điểm yêu cầu
của các ngành nghề ở địa phương mà xã hội đang cần phát triển để tuyên
truyền định hướng nghề nghiệp cho HS.
Tình hình phân công lao động, cơ cấu lao động, nhu cầu nhân lực ở địa
phương được phản ánh trong định hướng phát triển KT-XH của địa phương
và của đất nước. Định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế quyết định xu thế
dịch chuyển cơ cấu lao động, đây là cơ sở để xác định chính sách đầu tư và
nhu cầu nhân lực. Để hạn chế thấp nhất sự thiếu hụt lao động, điều quan trọng
là phải xác định rõ định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế của địa phương,
vùng miền, trên cơ sở đó xác định được nhu cầu nhân lực trong tương lai.
Bản mô tả nghề của từng nhóm nghề chính, những nét lớn về đặc điểm,
yêu cầu của các ngành nghề mà xã hội, địa phương đang cần và nhu cầu nhân
lực hàng năm của các ngành nghề đó, là những thông tin quan trọng trong
việc tuyên truyền định hướng nghề nghiệp cho HS. Có thể nói, định hướng
nghề nghiệp chính là việc làm cho HS mở rộng hiểu biết về bức tranh nghề
nghiệp, làm cơ sở cho việc chọn nghề một cách đúng đắn, khoa học. Định
hướng nghề nghiệp bao gồm các khâu: Liệt kê mục đích và giá trị cuộc sống
của bản thân, xác định sở thích nghề nghiệp, xác định kỹ năng cần thiết cho
công việc. Liệt kê, lựa chọn nghề nghiệp phù hợp, ưa thích.
Mặt thứ nhất, tác động của hoạt động bên ngoài đến mỗi HS, giúp các
em xác định được những đặc điểm về phẩm chất nhân cách, tâm sinh lý của
mình, hay nói cách khác là xác định xem mình có những gì để có thể bước