Rèn học sinh kỹ năng ôn tập Ngữ văn 9 thi vào
lớp 10 (Phần thơ hiện đại Việt Nam)
A.Đặt vấn đề:
I. Lý do chọn đề tài:
Bắt đầu từ năm học 2006- 2007, Sở Giáo dục - Đào tạo chủ trơng đổi mới thi cử
đánh giá học sinh lớp 9 bằng phơng thức xét tuyển (xét tốt nghiệp lớp 9 và thi tuyển
vào lớp 10 đối với hai môn văn và toán. Chủ trơng này ợc đông đảo phụ huynh, học
sinh và giáo viên hoan nghênh ủng hộ vì phần nào giảm bớt áp lực học tập, thi cử cho
học sinh. Sau khi tốt nghiệp lớp 9, các em tự lợng sức học của mình có thể thi tiếp lên
lớp 10 hoặc đi học nghề phổ thông, học bổ túc văn hoá. Con đờng học sinh chọn lựa
khá đa dạng phong phú. Song phần lớn các em ớc mơ thi vào lớp 10. Đây là kỳ thi khá
quan trọng để các em bứt phá, bớc tiếp trên con đờng học tập, tích luỹ tri thức . Học
sinh phải tham gia thi bắt buộc hai môn văn và toán (hai môn kiến thức cơ bản trong
trờng học), phụ huynh, học sinh và thầy cô ở các nhà trờng cũng rất lo lắng, vì kết quả
thi cử phần nào đánh giá quá trình dạy- học của thầy và trò. Vậy làm thế nào để nâng
cao chất lợng ôn tập cho học sinh lớp 9 thi vào lớp 10. Đó là điều mà các thầy cô giáo
dạy hai môn văn, toán trăn trở và lo lắng. Trong khuôn khổ bài viết này, với cơng vị là
một giáo viên Ngữ văn đã dạy lớp 9 nhiều năm, tôi muốn trao đổi một vài kinh nghiệm
rèn kỹ năng ôn tập Ngữ văn 9 để thi vào lớp 10. Đặc biệt ôn tập mảng kiến thức khá
trọng tâm và quan trọng: phần thơ hiện đại Việt Nam.
II. Cơ sở thực tiễn và lý luận
1. Cơ sở thực tiễn:
a. Căn cứ vào chơng trình Ngữ văn 9 hiện hành:
Phần thơ hiện đại Việt Nam trong chơng trình Ngữ văn 9 chiếm số lợng không
nhỏ các bài đọc hiểu văn bản mà xa nay ta thờng quen gọi là giảng văn.
+ Học kỳ I: 5 bài học chính thức và 1 bài đọc thêm
+ Học kỳ II: 4 bài học chính thức và 1 bài đọc thêm
b. Căn cứ nội dung các đề thi vào lớp 10 môn Ngữ văn mấy năm gần đây:
Qua các kỳ thi xét tuyển vào lớp 10, tôi nhận thấy đề thi vào lớp 10 hàng năm, nội
dung dành cho phần thơ hiện đại việt Nam chiếm khoảng 50 đến 70 % nội dung kiến
thức của đề thi. Nh vậy có thể đánh giá đây là một lĩnh vực kiến thức khá quan trọng
tập trung vào phát huy tính tích cực của ngời dạy, tuy nhiên để dạy học theo phơng
pháp tích cực thì giáo viên phải nỗ lực nhiều so với dạy theo phơng pháp thụ động.
(Phng phỏp dy hc tớch cc - PGS.TS V Hng Tin).
Hơn nữa ôn tập thơ là giúp học sinh củng cố những kiến thức cơ bản về một bài
thơ sau khi đã đợc học. Vậy củng cố kiến thức cơ bản nh thế nào, củng cố những gì,
ngời giáo viên cần xác định rõ mục đích của tiết ôn tập.
B. Nội dung chính
Chơng I
Những hiểu biết chung về quá trình ôn tập
1. Ôn tập là gì?
Trớc hết ta cần hiểu khái niệm ôn tập là gì?
Ôn tập là quá trình củng cố, hệ thống lại các kiến thức đã học, giáo viên nắm đợc trình
độ nhận thức, kỹ năng nghe nói đọc viết của học sinh qua từng tiết dạy cụ thể. Giáo
viên đánh giá năng lực cảm nhận tác phẩm của ngòi học
2. Quan niệm về hiệu quả của tiết ôn tập: Hiu qu của tiết ôn tập c ỏnh giỏ
trờn ba mt:
Th nht hiu qu ôn tập th hin vic hỡnh thnh kin thc:
Qua tiết học, giáo viên giỳp HS nm c nhng kin thc c bn, trọng tâm ca
bi. ú l nhng kiến thức c bn, rỳt ra kiến thức kỹ năng kỹ xảo v hình th nh thái
độ, xỏc nh phng phỏp hc tp kim tra. Kin thc c bn y giỳp HS tr li c
cỏc cõu hi: nh th no? Vỡ sao? Vn dng kin thc ó hc vo cuc sng ra sao?
Th hai hiu qu tiết ôn tập th hin vic bi hc phi t mc tiờu giỏo
dc ra:
Kt qu giỏo dc th hin thỏi , tỡnh cm ca hc sinh i vi nôi dung, t t-
ởng tình cảm của nhân vật trữ tình. Mt khỏc kt qu giỏo dc cũn th hin k nng
ca học sinh trong vic cảm nhận tác phẩm, k nng vận dng nhng kin thc ó hc
phõn tớch, đánh giá cỏc hin tng xó hi v giỏo dc cho HS t tng, o c lối
sống trong quỏ trỡnh hc tp.
Th ba hiu qu tiết dạy cũn th hin vic phỏt trin ton din học sinh:
Cỏc nng lc nhn thc ( tri giỏc tng tng, trớ nh, t duy), cỏc thnh phn
Môn Ngữ văn ở THCS nhằm giúp học sinh có những kiến thức phổ thông cơ bản
hiện đại về văn học và tiếng Việt bao gồm kiến thức về những, đoạn trích, tác phẩm
tiêu biểu cho một số thể loại của văn học Việt Nam. Qua đó học sinh hình thành các
năng lực tiếp nhận văn học, cảm thụ thẩm mĩ, bồi dỡng học sinh tình yêu gia đình, yêu
thiên nhiên, yêu quê hơng đất nớc, lòng tự hào dân tộc, ý chí tự lập tự cờng trong cuộc
sống, ý thức trách nhiệm công dân, phát huy giá trị bản sắc dân tộc.
* Xác định chuẩn kiến thức, kỹ năng của phần thơ hiện đại:
Khi ôn tập những tác phẩm thơ trữ tình, giáo viên cần xác định chuẩn kiến thức
kỹ năng: Hiểu và cảm nhận sâu sắc đợc những giá trị nội dung và nghệ thuật của một
số bài thơ hiện đại Việt Nam sau năm 1945: Đồng chí , Đoàn thuyền đánh cá ,
Bếp lửa , Viếng lăng Bác , Khúc hát ru những em bé lớn trên l ng mẹ , Bài thơ về
tiểu đội xe khôpng kính , Mùa xuân nho nhỏ , Nói với con , Sang thu .
- Xác định chuẩn kiến thức: Hiểu đợc nét độc đáo của từng bài thơ: tình yêu quê
hơng đất nớc và tinh thần cách mạng, tình cảm gia đình hoà quyện với tình yêu quê h-
ơng đất nớc, cảm hứng về lao động, lòng thành kính và tình yêu lãnh tụ, cảm nhận tinh
tế về thiên nhiên và những suy ngẫm về cuộc đời
- Xác định các kỹ năng cơ bản:
+ Đọc thuộc lòng các bài thơ đợc học
+ Hiểu đợc một số hình ảnh thơ, đoạn thơ tiêu biểu
+ Có năng lực cảm nhận thơ trữ tình
+ Hình thành kỹ năng nghe, nói, đọc, viết khi ôn tập tác phẩm trữ tình
+ Hình thành t tởng, đạo đức lối sống đúng đắn
a. Xác định chuẩn kiến thức kỹ năng của từng bài:
Xác định chuẩn kiến thức kỹ năng của từng bài là việc làm giúp giáo viên định h-
ớng phơng pháp, cách thức giúp học sinh củng cố, hệ thống, cảm nhận thơ trữ tình
Lập bảng hệ thống chuẩn kiến thức kỹ năng các tác phẩm thơ trữ tình:
STT Bài Chuẩn kiến thức kỹ năng
1
Đồng chí
- Học sinh cảm nhận đợc vẻ đẹp chân thực giản dị
hình ảnh ngời bà giàu tình thơng giàu đức hi sinh
trong bài thơ.
- Thấy đợc nghệ thuật diễn tả cảm xúc thông qua hồi
tởng kết hợp với miêu tả tự sự, bình luận của tác giả
trong bài thơ.
5 Khúc hát ru những em
bé lớn trên lng mẹ
- Cảm nhận đợc tình yêu thơng con và ớc vọng của
ngời mẹ dân tộc Tà - ôi trong cuộc kháng chiến
chống Mỹ cứu nớc, từ đó phần nào hiểu đợc lòng
yêu quê hơng đất nớc và khát vọng tự do của nhân
dân ta trong thời kỳ lịch sử này.
- Giọng điệu thơ tha thiết, ngọt ngào của Nguyễn
Khoa Điềm qua những khúc hát ru.
6
ánh trăng
- Học sinh hiểu hình ảnh vầng trăng, thấm thía cảm
xúc ân tình với quá khứ gian lao nghĩa tình và biết
rút ra bài học về cách sống
- Cảm nhận sự kết hợp hài hoà giữa yếu tố tự sự và
trữ tình
7 Con cò - Cảm nhận vẻ đẹp và ý nghĩa của hình tợng con cò
để ca ngợi tình mẹ và lời ru
- Thấy đợc sự vận dụng sáng tạo ca dao của tác giả
- Rèn kỹ năng cảm thụ và phân tích thơ đặc biệt là
những hình tợng thơ đợc sáng tạo bằng liên tởng, t-
ởng tợng
8 Mùa xuân nho nhỏ - Học sinh cảm nhận đợc những xúc cảm của tác giả
trớc mùa xuân của thiên nhiên đất nớc và khát vọng
đẹp đẽ của tác giả muốn làm Một mùa xuân nho
Các bớc thiết kế kế hoạch ôn tập
B ớc 1: Xác định nội dung kiến thức ôn tập bài học căn cứ vào chuẩn kiến thức kỹ năng
và yêu cầu về thái độ trong học tập: bớc này đợc đặt ra bởi việc xác định mục tiêu của
bài học là một khâu rất quan trọng đóng vai trò thứ nhất không thể thiếu của mỗi kế
hoạch bài học. Mục tiêu (yêu cầu) này vừa là cái đích hớng tới, vừa là yêu cầu cần đạt
của giờ học hay nói cách khác đó là thớc đo kết quả quá trình dạy học. Nó giúp giáo
viên xác định rõ nhiệm vụ phải làm (dẫn dắt học sinh tìm hiểu, vận dụng những kiến
thức kỹ năng nào; phạm vi mức độ đến đâu; qua đó giáo dục cho học sinh những bài
học gì
B ớc 2: Nghiên cứu lại SGK và nội dung bài đã dạy để:
+ Nắm bắt chính xác, đầy đủ những nội dung của bài thơ
+ Xác định những kiến thức kỹ năng, thái độ cơ bản cần hình thành vững chắc ở học
sinh
+ Xác định trình tự lôgíc của bài học
Bớc này đợc đặt ra bởi kiến thức trong một bài thơ tơng đối nhiều, giáo viên cần phải
biết chắt lọc, gọt dũa những kiến thức cơ bản, sâu sắc. Kinh nghiệm của những giáo
viên lâu năm cho thấy trớc hết nên xác định kỹ nội dung dạy học để chủ động trong
mỗi giờ dạy. Mỗi giáo viên không chỉ có kỹ năng tìm đúng, tìm trúng kiến thức cần ôn
mà còn cần có kỹ năng định hớng cách học cho học sinh.
Khâu khó nhất trong từng bài ôn tập là xác định đúc kết đợc phạm vi, mức độ kiến
thức kỹ năng của từng bài sao cho phù hợp với năng lực của học sinh và điều kiện dạy
học. Trong thực tế dạy học, nhiều khi chúng ta thờng cha đi tới hoặc đi quá những yêu
cầu cần đạt về kiến thức kỹ năng. Nếu thâu tóm đợc chuẩn kiến thức kỹ năng, giáo
viên sẽ phác họa đợc những nội dung và trình tự giảng dạy của tiết ôn tập sao cho sát
hợp, thậm chí có thể cải tiến cách trình bày các mạch kiến thức kỹ năng của SGK, xây
dựng một hệ thống câu hỏi, bài tập giúp học sinh ôn tập củng cố các kiến thức cơ bản
của bài một cách hiệu quả
B ớc 3: Xác định khả năng đáp ứng các nhiệm vụ nhận thức của học sinh:
- Xác định những kiến thức, kỹ năng mà học sinh đã có và đang có
- Dự kiến những khó khăn, những tình huống có thể nảy sinh trong tiết học
Ví dụ:
- Em hãy đọc thuộc lòng bài thơ Đồng chí
- Trình bày những hiểu biết của em về bài thơ.
Nh vậy học sinh phải làm là đọc thuộc thơ, nêu tên tác giả, hoàn cảnh ra đời, nội dung
chính và những nét nghệ thuật đặc sắc của bài thơ.
Bớc 2: Tiến hành ôn tập: Bằng hệ thống câu hỏi vừa sức, có tính chất dẫn dắt, củng
cố kiên sthức, kỹ năng cơ bản cho ngời học. Tôi thờng tiến hành theo các dạng câu
hỏi và bài tập nh sau:
Dạng1: Ôn tập khái quát về tác phẩm: củng cố những nét khái quát về tác phẩm. Phần
này định hớng yêu cầu học sinh thâu tóm những nét cơ bản, để rèn các kỹ năng:
+ Đọc thuộc lòng
+ Nắm vững hoàn cảnh ra đời
+ Thể loại
+ Xuất xứ
+ Bố cục
+ Nội dung chính
+ Nghệ thuật đặc sắc
Bớc này học sinh dựa vào bảng hệ thống giáo viên lập sẵn, hoặc dựa vào sách
giáo khoa, phần chú thích, ghi nhớ học sinh giới thiệu tác phẩm bằng lời văn của mình
Dạng 2: Bài tập rèn kỹ năng thông hiểu, vận dụng:
Thông hiểu vận dụng là cấp độ 2 và 3 trong quá trình t duy lô gíc của trò (Nhận biết,
thông hiểu, vận dụng, )
Để rèn kỹ năng này, hệ thống bài tập cần vừa sức, tinh, chắc sâu phù hợp với học sinh
để học sinh củng cố kiến thức, rèn luyện kỹ năng.
4. Xây dựng hệ thống bài tập:
Xây dựng hệ thống bài tập khoa học hợp lý là một trong những yếu tố rèn tri thức
cho học sinh trong mỗi một bài ôn tập, ngời giáo viên nên thiết kế một hệ thống bài
tập vừa đủ. Hệ thống ấy phải đợc soạn thảo dựa trên những kiến thức cơ bản của tác
phẩm văn học trữ tình.
a. Hệ thống bài tập ôn tập khái quát:
Câu 10: Bài thơ đã giúp em cảm nhận đợc những vẻ đẹp gì của những chiến sĩ lái
xe trên tuyến đờng Trờng Sơn
(t thế ung dung hiên ngang, tinh thần dũng cảm, bất châp khó khăn gian khổ, ý
chí chiến đấu cao đẹp của những chiến sĩ lái xe trên tuyến đờng Trờng Sơn).
* Dựa vào những câu trả lời ở BT 1, em hãy giới thiệu những hiểu biết của mình về nhà
thơ Phạm Tiến Duật và tác phẩm Bài thơ về tiểu đội xe không kính bằng một
đoạn văn (khoảng 5 đến 7 câu)
Vn bn vn chng l s h cu. Bng mt bi th, tỏc gi trỡnh by mt bc tranh v th gii bng
ngụn ng ngh thut. Th gii ú thng cú th cú hoc khụng cú trong thc t, cho nờn, th tr tỡnh l
th gii khỏch quan c ch quan hoỏ v c cỏ th hoỏ. Hờghen tng nhn xột: T s l th gii ca
khách thể, còn trữ tình là thế giới của chủ thể. Như vậy, nguồn gốc và điểm tựa của trữ tình là ở chủ thể và
chủ thể là người duy nhất mang nội dung.
Cái đặc biệt của một bài thơ trữ tình là luôn có một người nói bên trong về quan hệ của họ với thế
giới (thiên nhiên, xã hội, gia đình, bạn bè, có khi đề cập cả tới những vấn đề lớn lao), về mối quan hệ của
họ với con người (hi vọng, thất vọng, nỗi buồn, tình bạn, tình yêu, sự trung thành hoặc phản bội ). Chẳng
hạn các nhà thơ tìm hiểu: Con người là gì? Tôi là ai? Tôi muốn gì và muốn như thế nào ?
Trong thơ trữ tình, tình cảm có vai trò hết sức quan trọng. Nói về vai trò của tình cảm, Goócki cho
rằng: Thơ trước hết phải mang tính chất tình cảm. Tình cảm trong thơ gắn trực tiếp với chủ thể sáng tạo
nhưng không phải là một yếu tố đơn độc, tự nó nảy sinh và phát triển. Thực ra đó chính là quá trình tích tụ
những cảm xúc, những suy nghĩ của nhà thơ do cuộc sống tác động và tạo nên. Không có cuộc sống,
không có thơ.
Vì thơ thường ngắn hơn các thể loại khác (tự sự, kịch) nên các tác giả có thể thể hiện cảm xúc về con
người, cuộc sống, thiên nhiên tập trung hơn thông qua hình tượng thơ, đặc biệt thông qua ngôn ngữ nghệ
thuật, qua dòng thơ, qua vần điệu, tiết tấu Nhiều khi, cảm xúc vượt ra ngoài cái vỏ chật hẹp của ngôn từ,
cho nên thơ thường lời ít, ý khôn cùng . "Hãy biết rằng chính quả tim ta đang nói và thở than lúc bàn tay
đang viết". "Nhà thơ không viết một chữ nào nếu cả toàn thân không rung động" (Alfret de Mussé). Do đó,
thơ có thể tạo điều kiện cho người đọc phát hiện đời sống. Nó động viên người đọc phải suy nghĩ, trăn trở để
tìm kiếm ý đồ nghệ thuật của tác giả cũng như nét đặc sắc trong tư duy nghệ thuật của mỗi nhà thơ. Thơ còn
giúp cho người đọc nhận thức được các phạm trù thẩm mĩ như: Cái đẹp, cái cao thượng, cái hài hoà, cái xót
thương Thơ còn giúp người đọc cảm nhận được âm điệu của ngôn ngữ khiến người ta có thể đọc, ngâm,
đầu của mình và chữa lại.
Bước 4: Xác định hình tượng thơ và âm điệu chủ đạo
Một bài thơ luôn luôn là sự thống nhất giữa hình tượng, âm điệu và ý nghĩa. Ba lĩnh vực này được
đặt ở những phần khác nhau. Những phần đó có tác động qua lại chặt chẽ.
BÀI THƠ
Cấp độ hình tượng Cấp độ âm thanh
+ Chủ thể trữ tình + Vần
+ Hình tượng trữ tình + Nhịp điệu
+ Tình huống trữ tình + Tác động của âm
+ Hình tượng ngôn ngữ thanh từ việc lựa chọn
Các từ
Phương thức nói:
+ Phương thức diễn ngôn
+ Phương thức diễn ý
Các cấp độ ý nghĩa
+ Vùng ý nghĩa của từng phần, từ các cấp độ hình tượng và âm thanh + Vùng ý nghĩa của toàn văn bản
+ Vùng ý nghĩa của toàn văn bản văn chương
Trên đây là sơ đồ cấu trúc một bài thơ.
+ Cấp độ hình tượng bao gồm:
- Chủ thể trữ tình
- Tình huống trữ tình
Thông thường, mỗi bài thơ đều có ba cấp độ như sau:
+ Cấp độ hình tượng bao gồm
- Chủ thể trữ tình
- Hình tượng trữ tình
- Hình tượng ngôn ngữ
+ Cấp độ âm thanh bao gồm:
- Vần
- Nhịp điệu
- Tác động của âm thanh từ việc lựa chọn từ
ngữ nghệ thuật.
Ví dụ : Phân tích hình tượng trữ tình trong bài thơ Vội vàng
Để phân tích được, người học sẽ phải đọc cả bài thơ và đọc kĩ khổ thơ 1, suy nghĩ và phân tích để nêu
được: nhà thơ nhìn thế giới bên ngoài và khát vọng được níu giữ lại tất cả cái đẹp trong thiên nhiên để con
người luôn luôn được tận hưởng và chiêm ngưỡng.
Sau đó phải nghiên cứu xem: để xây dựng hình tượng trữ tình, tác giả đã sử dụng những loại hình
ngôn ngữ nào.
Trong bài thơ, tác giả đã dùng hàng loạt các động từ mạnh để biểu đạt khát vọng cháy bỏng đó,
cho dù khát vọng đó là phi lí: Muốn tắt nắng, muốn buộc gió, muốn ôm, thâu, riết và dùng hàng loạt
điệp từ và điệp ngữ: này đây, tôi muốn, khiến người đọc có cảm giác: nhà thơ đang cuống quýt, đang
bối rối vô cùng về sự bất lực của mình trước vẻ đẹp của tự nhiên.
Tiếp đó, người học có thể hình dung ra vị thế của nhà thơ và khát vọng cháy bỏng của tác giả. Đó là
khát vọng được thể hiện tình yêu cuộc sống mạnh mẽ, tình yêu cái đẹp và khát vọng được hoà nhập vào thế
giới của cái đẹp. Nhà thơ đã vẽ bằng ngôn từ bức tranh phong cảnh thiên nhiên và cuộc sống rất sống động
với đủ các gam màu, với ánh sáng, đường nét, với các cung bậc cảm xúc ở độ tuyệt đích của chúng, cùng với
nhịp thơ, hơi thơ và giòng thơ thật đắm say, thật hồ hởi, thật cuồng nhiệt, khiến người đọc như cũng bị cuốn
theo cái rạo rực, mê say đó.
Trên cơ sở xác định các loại hình ngôn ngữ được sử dụng trong tác phẩm, người học có thể tiếp tục
hình dung ra các cấp độ ý nghĩa của bài thơ: Phải chăng, ngay từ khổ thơ đầu, nhà thơ đã muốn nói với bạn
đọc rằng: Cuộc sống ơi, ngươi đẹp lắm. Hãy ban tặng cho ta, cho muôn loài cái vẻ đẹp đó và hãy làm sao
vĩnh cửu hoá cái đẹp ấy cho người đời được tận hưởng mãi cái hương vị ngọt ngào, đẫm chất men say như
thế. Phải chăng, ngay từ khổ thơ đầu, tác giả đã muốn đưa ra quan niệm: Con người phải tìm cách vĩnh cửu
hoá cái đẹp để cái đẹp trong thiên nhiên, trong tạo hoá trở nên vĩnh hằng, đó cũng là trách nhiệm đối với
người nghệ sĩ. Do đó, khát vọng của nhà thơ có vẻ như phi lí, có vẻ như khác đời nhưng lại mang triết lí,
mang một quan niệm nghệ thuật mới mẻ. Đặt vào trong hoàn cành văn học Việt Nam những năm 1930-
1945, khi các nhà thơ lãng mạn đang đắm chìm trong mộng ảo, khi họ muốn thoát xác để bay lên cung Quế
với chị Hằng, khi họ muốn trốn vào quá khứ, vào tình yêu, vào tôn giáo thì Xuân Diệu đưa ra một cái nhìn,
một thái độ tiếp cận với thiên nhiên với cuộc sống hết sức tiến bộ. Thiên nhiên là môi trường sống của con
người, thiên nhiên còn là nguồn đề tài không bao giờ vơi cạn cho người nghệ sĩ tìm tòi, khám phá và sáng
tạo. Bởi cái đẹp chính là cuộc sống. Không có cái đẹp nào lại bay lơ lửng trong không trung. Vấn đề là anh
- Vần chéo (abab):
VD: Hai câu thơ
Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ
Mặt trời chân lí chói qua tim
(Từ ấy - Tố Hữu )
Tác dụng: Tạo ra sự thống nhất bên trong cho các câu thơ. Thông qua sự chuyển đổi các giòng thơ, nó
được vận động và tạo nên nhạc điệu.
- Vần gián cách (abcd): Chẳng hạn các câu thơ sau
Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp…
Củi một cành khô lạc mấy giòng
(Tràng giang - Huy Cận )
Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm
Heo hút cồn mây súng ngửi trời
(Tây Tiến - Quang Dũng )
Chiều chiều oai linh thác gầm thét
Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người
(Tây Tiến - Quang Dũng )
Tác dụng: Là một hình thức đặc biệt của các âm chéo nhau, qua đó, nó đặt vần theo từng cặp một bằng,
một trắc.
- Vần hỗn hợp theo dạng (aaba)
VD: hai khổ thơ cuối trong bài Đây thôn Vĩ Giạ của Hàn Mạc Tử
… Gió theo lối gió mây đường mây
Ai biết tình ai có đậm đà
hay hai khổ đầu bài thơ Đây mùa thu tới của Xuân Diệu:
Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang…
Đôi nhánh khô gày xương mỏng manh
- Vần ôm (abba)
VD: Các câu thơ
Núi rừng đây là của chúng ta
Những cánh đồng thơm mát
Trong câu thơ, tác giả đã sử dụng một từ rất lạ và độc đáo: "Cắn". Cắn là một động từ, miêu tả một
hành động mạnh: Dùng răng cắn vào một vật nào đó để ăn hoặc để làm cho đau. Ở đây, động từ này đã được
tỏc gi chuyn ngha thnh s chim lnh, s tn hng, nhm biu t mt ham mun, mt mong mun,
mt nim am mờ chỏy bng ca mỡnh i vi thiờn nhiờn, cuc sng v con ngi.
t t "cn" vo cõu th v t cõu th trong mi tng quan vi c bi th, chỳng ta hiu: n õy,
cm xỳc ca tỏc gi dõng tro, mónh lit n cung nhit, nh th mun c tn hng n tn cỏi p,
mun c bin cỏi p thnh ca riờng mỡnh c s hu, chim lnh. Trng õm ca cõu th dn vo
ch "cn", nú cú tỏc dng nh kộo cng dũng ý thc, y cng ca cõu th lờn cao, mnh v to nờn
im nhn cho c cõu th vi s ngt nhp: 3/2/1/2. Cõu th cng l trung tõm thm m ca c bi th v th
hin ch ca tỏc phm.
+ Xỏc nh ng iu: ng iu khin cho cõu th vang lờn, sng ng hn lờn, gúp phn biu l mt
cỏch sinh ng cm xỳc cng nh tỡnh cm ca ch th tr tỡnh. Nú cũn cú th to ra n tng mnh m, lõu
di, thc nhn cỏc giỏc quan hay to cm giỏc vui ti, phn khi, gõy nh hng ti ngi c v ngi
nghe.
C bi th Vi vng luụn cú s thay i ng iu, lỳc thỡ nhanh, mnh, lỳc thỡ dn dp, khin ngi
c nh b cun theo cỏc cõu th, cỏc dũng th, cun theo dũng cm xỳc mónh lit, s sụi ni, cung nhit,
cung quýt ca tỏc gi.
Tt nhiờn, dy hc th tr tỡnh cũn phi s dng nhng phng phỏp v bin phỏp dy hc tỏc phm
vn chng theo loi th.
Riờng dy hc th tr tỡnh trong nh trng, vi nhng c trng trờn, s gúp phn bi dng tõm hn,
cm xỳc, th hiu thm m, tỡnh cm thm m cho hc sinh, mng vn hc ny chim thi lng khỏ nhiu
trong chng trỡnh vn cỏc cp, nht l trung hc ph thụng. Do vy, chỳng tụi hi vng, vi bi vit ny
chỳng tụi cú th gúp phn nh vo vic tỡm ra cỏch dy hc th tr tỡnh núi riờng, dy hc vn núi chung,
mt mụn hc va mang tớnh khoa hc, va mang tớnh ngh thut trong nh trng1
,
Ging dy th tr tỡnh hin i trong nh trng
PGS.TS Nguyn Th Thanh Hng
i hc S phm H Ni
Theo quan điểm cải cách giáo dục, dạy tác phẩm văn học nói chung và thơ trữ
tình nói riêng cần rèn tốt cho học sinh kỹ năng nghe, nói, đọc, viết.