1. MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa cùng với tiến trình đổi
mới phát triển nền kinh tế theo cơ chế thị trường ngày một mạnh mẽ, nhu cầu
sử dụng đất ngày càng tăng. Đòi hỏi công tác quản lý nhà nước về đất đai
phải có sự đồng bộ. Cũng như công tác thực hiện các thủ tục hành chính trong
lĩnh vực đất đai phải được cải cách phù hợp với nhu cầu và đảm bảo đúng quy
định của pháp luật để đảm bảo quyền lợi hợp pháp của cá nhân, tổ chức trong
quá trình sử dụng đất cũng như công tác quản lý nhà nước về đất đai thực
hiện một cách có hiệu quả.
Cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là một trong những nội dung
quan trọng của quản lý nhà nước về đất đai. Việc đăng ký Nhà nước về đất
đai có ý nghĩa: các quyền về đất đai được bảo đảm bởi nhà nước, liên quan
đến tính tin cậy, sự nhất quán và tập trung, thống nhất của dữ liệu địa chính.
Cấp giấy CN QSD đất là một công cụ của nhà nước để bảo vệ lợi ích nhà
nước, lợi ích cộng đồng cũng như lợi ích của người sử dụng đất. Mặt khác,
đăng ký quyền sử dụng đất còn ghi nhận quyền sử dụng đất hợp pháp đối với
một thửa đất, xác định vào hồ sơ địa chính nhằm xác lập quyền và nghĩa vụ
của người sử dụng đất.
Hệ thống cấp giấy CN QSD đất hiện tại của Việt Nam đang chịu một
sức ép ngày càng lớn, từ yêu cầu hỗ trợ sự phát triển của thị trường bất động
sản và cung cấp khuôn khổ pháp lý để tăng thu hút đầu tư.
Từ khi Luật Đất đai năm 2003 có hiệu lực, với hệ thống Văn phòng đăng
ký quyền sử dụng đất được thiết lập ở cấp tỉnh và cấp huyện, cùng với việc
thực hiện cải cách hành chính chính theo cơ chế “một cửa”, các cấp, các ngành
đã có nhiều nỗ lực trong việc đơn giản hóa các thủ tục hành chính trong công
tác đăng ký, cấp giấy chứng nhận đối với các đối tượng sử dụng đất: tổ chức,
hộ gia đình cá nhân, cộng đồng dân cư, người Việt Nam định cư ở nước ngoài,
tổ chức, cá nhân nước ngoài sử dụng đất ở Việt Nam với tinh thần công khai,
minh bạch, giảm thời gian và chi phí cho tổ chức, công dân có nhu cầu giao
dịch. Tuy nhiên, việc cung ứng các dịch vụ về đăng ký, cấp giấy chứng nhận
đất trên địa bàn thành phố Hưng Yên – tỉnh Hưng Yên” các nghiên cứu mới
đề cập đến thủ tục, giải quyết những vướng mắc về thủ tục cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất. Chưa có nghiên cứu nào về đánh giá tình hình thực
hiện công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên địa bàn thành phố
Thái Nguyên.
Xuất phát từ những yêu cầu thực tế đó, việc thực hiện đề tài nghiên cứu
“Đánh giá tình hình thực hiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên
địa bàn Thành phố Thái Nguyên” là cần thiết.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1. Mục tiêu chung
Trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng thực hiện, cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất trên địa bàn Thành phố Thái Nguyên chỉ ra những khó
khăn vướng mắc. Từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm đẩy nhanh tiến độ cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên địa bàn thành phố Thái Nguyên.
1.2.2. Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác cấp giấy chứng
nhân quyền sử dụng đất
- Đánh giá thực trạng thực hiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
trên địa bàn thành phố Thái Nguyên những năm qua.
- Phân tích yếu tố ảnh hưởng đến công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất trên địa bàn Thành phố Thái Nguyên.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao kết quả thực hiện cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất trên địa bàn Thành phố Thái Nguyên trong
những năm tới.
1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu các vấn đề có liên quan đến thực hiện cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất. Với đối tượng nghiên cứu chính gồm: Hộ gia đình,
tổ chức kinh tế xã hội, cá nhân và cán bộ chuyên môn, lãnh đạo các phòng
ban như: Văn phòng Đăng ký QSD đất, UBND các phường, Phòng Tài
cùng với khoáng sản và nước ngầm trong lòng đất, tập đoàn động thực vật,
trạng thái định cư của con người và các kết quả của con người trong qúa khứ
và hiện tại để lại.
Theo mục đích sử dụng đất đai nước ta được chia là 3 nhóm bao gồm:
- Nhóm đất nông nghiệp là diện tích đất được sử dụng vào sản xuất
nông nghiệp bao gồm các loại đất: Đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu
năm, đất lâm nghiệp, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối, đất nông nghiệp
khác.
- Nhóm đất phi nông nghiệp bao gồm: Đất ở (gồm đất ở tại nông thôn
và đất ở tại đô thị), đất chuyên dùng (gồm đất xây dựng trụ sở cơ quan, xây
dựng công trình sự nghiệp, đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh,
đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp, đất sử dụng vào mục đích công
cộng), đất tôn giáo tín ngưỡng, đất nghĩa trang nghĩa địa, đất sông ngòi, kênh
rạch, suối và mặt nước, đất phi nông nghiệp khác.
- Nhóm đất chưa sử dụng bao gồm: Đất bằng chưa sử dụng, đất đồi núi
chưa sử dụng, núi đá không có rừng cây.
Theo đối tượng sử dụng đất đai gồm 5 loại gồm:
- Đất do hộ gia đình, cá nhân trong nước sử dụng
- Đất do tổ chức trong nước (tổ chức kinh tế, cơ quan đơn vị của Nhà
nước, tổ chức sự nghiệp công lập, tổ chức khác) sử dụng.
- Đất do tổ chức nước ngoài (Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài,
tổ chức ngoại giao) sử dụng.
- Đất do người Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng
- Đất do cộng đồng dân cư và cơ sở tôn giáo sử dụng
Theo đối tượng quản lý đất đai gồm 3 loại:
- Đất do UBND cấp xã quản lý
- Đất do tổ chức phát triển quỹ đất quản lý
- Đất do cộng đồng dân cư và tổ chức khác quản lý
b. Quản lý Nhà nước về đất đai
* Quản lý
quy hoạch, kế hoạch, sử dụng có hiệu quả ở hiện tại và bền vững trong tương
lai, tránh hiện tượng phân tán đất và đất bị bỏ hoang hóa.
c. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
GCN QSDĐ là giấy chứng nhậ do Bộ Tài nguyên và Môi trường phát
hành theo một mẫu thống nhất và được áp dụng thống nhất trong cả nước cho
mọi loại đất. Theo quy định, GCN QSDĐ là một (01) tờ gồm bốn (04) trang,
mỗi trang có kích thước 190mm x 265mm, bao gồm các đặc điểm và nội dung
sau:
1.Trang một là trang bìa: Đối với bản cấp cho người sử dụng đất thì
trang bìa màu đỏ gồm Quốc huy và dòng chữ "Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất " màu vàng, số phát hành của giấy chứng nhận màu đen, dấu nổi của
Bộ Tài nguyên và Môi trường; đối với bản lưu thì trang bìa màu trắng gồm
Quốc huy và dòng chữ "Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất" màu đen, số
phát hành giấy chứng nhận màu đen, dấu nổi của Bộ Tài nguyên và Môi
trường và số cấp giấy chứng nhận.
2. Trang 2 và trang 3 có đặc điểm và nội dung sau:
+ Nền được in hoa văn trống đồng màu vàng tơ ram 35%, Quốc hiệu,
tên Ủy ban nhân dân cấp GCN QSDĐ.
+ Tên chủ sử dụng đất gồm: cả vợ và chồng; địa chỉ thường trú
+ Thửa đất được quyền sử dụng gồm: Thửa đất, tờ bản đồ số địa chỉ,
diện tích, hình thức sử dụng, mục đích sử dụng, thời hạn dụng và nguồn gốc
sử dụng.
+ Tài sản gắn liền với đất.
+ Ghi chú.
+ Trang 3 được in chữ, in hình hoặc viết chữ, vẽ hình màu đen gồm sơ
đồ thửa đất, ngày tháng năm ký GCN QSDĐ và chức vụ, họ tên của người ký
giấy chứng nhận, chữ ký của người ký giấy chứng nhận và dấu của cơ quan
cấp giấy chứng nhận, số vào sổ cấp giấy chứng nhận.
3. Trang 4 màu trắng in bảng, in chữ hoặc viết chữ màu đen để ghi
những thay đổi về sử dụng đất sau khi cấp GCN QSDĐ.
giấy chứng nhận chính là nắm chắc quỹ đất quốc gia, bảo vệ đất đai, chủ
quyền sử dụng đất được giao đất phải chiu trách nhiệm bảo vệ vốn đất được
giao. Giấy chứng nhận quyền sử dựng đất là mối quan hệ hợp pháp về đất đai
giữa chủ sử dụng đất và Nhà nước.
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chính là công cụ đảm bảo đất đai
được sử dụng đúng mục đích, đúng quy hoạch, đúng pháp luật.
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất còn là cơ sở để quản lý biến động
về đất đai hữu hiệu nhất.
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là giấy tờ hợp pháp để người sử
dụng đất thực hiện 9 quyền mà Nhà nước giao cho, đó là quyền cho tặng,
chuyển nhượng, chuyển đổi, cho thuêm cho thuê lại, thừa kế, thế chấp, bảo
lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất.
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là điều kiện tiên quyết để người sử
dụng đất được bồi thường thiệt hại về đất đai, tài sản có trên đất khi Nhà nước
thu hồi đất sử dụng vào mục đích khác.
Giấy chứng nhận quyến sử dụng đất là căn cứ để xác định thẩm quyền
giải quyết tranh chấp đất đai giữa hệ thống tòa án nhân dân với UBND.
2.1.3 Ý nghĩa, mục đích và nguyên tắc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất:
a) ý nghĩa của cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Việc cấp GCNQSDĐ với mục đích để Nhà nước tiến hành các biện
pháp quản lý Nhà nước đối với đất đai, để người sử dụng đất yên tâm khai
thác tốt mọi tiềm năng của đất, đồng thời phải có nghĩa vụ bảo vệ, cải tạo
nguồn tài nguyên đất cho các thế hệ sau. Thông qua việc cấp GCN QSDĐ để
Nhà nước nắm chắc và quản lý chặt chẽ toàn bộ quỹ đất của quốc gia.
b) Mục đích của cấp giấy chứng nhận
Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là dấu hiệu kết thúc của quá trình
đăng ký quyền sử dụng đất hợp pháp nhằm đồng thời đạthai mục tiêu cơ bản:
+ Xây dựng hệ thống hồ sơ đầy đủ về các mặt tự nhiên, kinh tế - xã hội
của đất đai làm cơ sở để Nhà nước thực hiện các biện pháp quản lý chặt chẽ,
nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất ngay sau khi cơ quan có thẩm quyền
cấp.
4. Trường hợp quyền sử dụng đất hoặc quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà
ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền
với đất là tài sản chung của vợ và chồng thì phải ghi cả họ, tên vợ và họ, tên chồng
vào Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn
liền với đất, trừ trường hợp vợ và chồng có thỏa thuận ghi tên một người.
Trường hợp quyền sử dụng đất hoặc quyền sử dụng đất, quyền sở hữu
nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác
gắn liền với đất là tài sản chung của vợ và chồng mà Giấy chứng nhận đã cấp
chỉ ghi họ, tên của vợ hoặc chồng thì được cấp đổi sang Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất để ghi
cả họ, tên vợ và họ, tên chồng nếu có yêu cầu.
5. Trường hợp có sự chênh lệch diện tích giữa số liệu đo đạc thực tế với
số liệu ghi trên giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật Đất đai năm 2003 hoặc
Giấy chứng nhận đã cấp mà ranh giới thửa đất đang sử dụng không thay đổi
so với ranh giới thửa đất tại thời điểm có giấy tờ về quyền sử dụng đất, không
có tranh chấp với những người sử dụng đất liền kề thì khi cấp hoặc cấp đổi
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn
liền với đất diện tích đất được xác định theo số liệu đo đạc thực tế. Người sử
dụng đất không phải nộp tiền sử dụng đất đối với phần diện tích chênh lệch
nhiều hơn nếu có.
Trường hợp đo đạc lại mà ranh giới thửa đất có thay đổi so với ranh giới
thửa đất tại thời điểm có giấy tờ về quyền sử dụng đất và diện tích đất đo đạc
thực tế nhiều hơn diện tích ghi trên giấy tờ về quyền sử dụng đất thì phần diện
tích chênh lệch nhiều hơn (nếu có) được xem xét cấp Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy
định tại Điều 99 của Luật Đất đai năm 2003.
2.1.4. Yêu cầu cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là công việc rất cần thiết,
UBND các xã/phường chuyển lên để tiến hành thẩm định và xử lý các nội
dung theo đúng quy định để trình cấp có thẩm quyền phê duyệt. Tổ chức lập
hồ sơ địa chính sau khi UBND các xã/phường đã hoàn thành công tác kê khai
đăng ký.
+ Phòng Tài chính kế hoạch tham mưu cho UBND huyện/thành phố, Thị
xã về kinh phí để triển khai thực hiện kế hoạch đã được giao.
+ Chi cục thuế Nhà nước huyện/thành phố, Thị xã phối hợp với Phòng
Tài nguyên Môi trường và Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất của
huyện/thành phố, Thị xã trong việc thẩm định hồ sơ liên quan đến nghĩa vụ tài
chính khi cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
+ UBND xã/phường căn cứ vào kế hoạch của UBND huyện/thành phố,
Thị xã, có trách nhiệm tổ chức triển khai thực hiện hoàn thành nội dung kê
khai, đăng ký, xác nhận, xét duyệt và công khai hồ sơ cấp giấy chứng nhận
theo đúng quy định trước khi trình duyệt cấp có thẩm quyền phê duyệt hoàn
thành chỉ tiêu kế hoạch cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
2.1.5. Cơ quan, trình tự và nội dung cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất
2.1.5.1 Cơ quan quản lý cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được quản lý thống nhất theo trình tự sau:
1. Đăng ký và Thống kê đất đai thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường có
trách nhiệm quản lý việc phát hành giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Đơn vị thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường có chức năng phát hành
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chịu trách nhiệm tổ chức việc in giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất theo đúng mẫu ban hành theo quy định này;
quản lý giấy chứng nhận sau khi in; thực hiện việc phát hành giấy chứng nhận
cho cơ quan tài nguyên và môi trường các địa phương; báo cáo Lãnh đạo Bộ
(thông qua Vụ Đăng ký và Thống kê đất đai) về số lượng giấy chứng nhận đã
in, đã phát hành vào ngày 10 tháng thứ 2 của quý sau; thông báo cho Sở Tài
nguyên và Môi trường số lượng giấy chứng nhận và số sêri đã phát hành cho
các Phòng Tài nguyên và Môi trường. Sổ theo dõi việc in, phát hành giấy
tranh chấp, nguồn gốc, thời
điểm sử dụng đất, quy
hoạch
- Công khai kết quả,
giải quyết kiến nghị
- Chủ sử dụng đất
- UBND xã, phường,
thị trấn
2. Thẩm tra, xác minh
thực điạh, trích lục
bản đồ
- Đo đạc thửa đất
- Xác nhận điều kiện
được chứng nhận
- Lập hồ sơ
- VP đăng ký quyến
sử dụng đất huyện, thành
phố
- Trích lục bản đồ
- Trích sao địa chính
3. Kiểm tra hồ sơ, ra
quyết định
- Kiểm tra hồ sơ
- Trình UBND huyện,
thành phố, thị xã
- Ra quyết định
- UBND huyện, thành
phố, thị xã
- Phòng tài nguyên và
môi trường
- Chủ sử dụng đất
- UBND xã, phường,
thị trấn
tranh chấp, nguồn
gốc, thời điểm sử
dụng đất, quy
hoạch
- Công khai kết quả,
giải quyết kiến
nghị
2. Thẩm tra, xác
minh thực điạh,
trích lục bản đồ
- Đo đạc thửa đất
- Xác nhận điều kiện
được chứng nhận
- Lập hồ sơ
- Trích lục bản đồ
- Trích sao địa chính
- Xác định và thông
báo mức nghĩa vụ
tài chính
- VP đăng ký quyến
sử dụng đất huyện,
thành phố
- Cơ quan thuế
3. Kiểm tra hồ sơ,
ra quyết định
- Kiểm tra hồ sơ
- Trình UBND
sử dụng đất tỉnh
2.1.5.3 Đối tượng được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
- Hộ gia đình cá nhân, tổ chức có giấy tờ theo quy định tại khoản 1, 2, 5 và
điều 50 của Luật đất đai về quyền sử dụng đất:
+ Có một trong những loại giấy tờ về quyền sử dụng đất ở đúng quy định.
+ Đất được sử dụng ổn định, không có tranh chấp được UBND xã, phương,
thị trấn xác nhận.
+ Đã hoàn thành nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước về sử dụng đất.
+ Đất chưa có quyết định thu hồi của Nhà nước có thẩm quyền.
- Hộ gia đình, cá nhân, tổ chức không có giấy tờ về quyền sử dụng đất.
Ngoài việc phải đảm bảo các điều kiện đã nêu ở trường hợp thứ nhất cần
phải bảo đảm thêm một trong hai điều kiện sau:
Đất đã được sử dụng trước thời điểm quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
hoặc quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị, hoặc quy hoạch xây dựng điểm dân
cư nông thôn được xét duyệt những phù hợp với quy hoạch, kế hoạch đó.
- Hộ gia đình, cá nhân, tổ chức có giấy tờ có ghi rõ diện tích đất ở và
diện tích đất vườn, ao:
+ Trường hợp thửa đất có hoặc không có vườn, ao trong cùng một thửa
đất với đất ở được hình thành trước ngày 18/12/1980 thì diện tích đất ở được
xác định là toàn bộ diện tích thửa đất.
+ Trường hợp thửa đất ở không có đất vườn, ao trong cùng một thửa đất
với đất ở được hình thành từ ngày 18/12/1980 đến trước ngày 01/07/2004 thì
diện tích thửa đất được xác định là toàn bộ diện tích thửa đất.
+ Trường hợp thửa đất có đất vườn, ao trong cùng thửa đất với đất ở
được hình thành từ ngày 18/12/1980 đến trước ngày 01/07/2004 thì diện tích
đất ở được tính như sau:
* Nếu diện tích đất ở ghi trên giấy tờ lớn hơn hoặc bằng hạn mức công
nhận đất ở tại địa phương thì diện tích đất ở và diện tích đất vườn, ao được
xác định theo giấy tờ đó. Nếu phần diện tích đã xây dựng Nhà ở vượt diện
tích đất ở ghi trên giấy tờ đó thì phần diện tích vượt được xác định là đất ở và
cấp giấy làm đúng và đạt kết quả cao.
2.1.6.2 Nhân lực phục vụ cho công tác cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất
Năng lực của cán bộ làm công tác cấp GCNQSDĐ có ảnh hưởng rất
lớn tới công tác cấp GCNQSDĐ bởi lẽ những cán bộ có năng lực, trình độ
chuyên môn cao sẽ làm việc hiệu quả hơn cán bộ có trình độ thấp, ngoài ra
khả năng nhìn nhận sự việc và giải quyết công việc của họ cũng tốt hơn.
Ngoài ra, việc xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đòi hỏi phải trải
qua nhiều bước để xác minh tính chính xác về thông tin của thửa đất do đó
đòi hỏi lượng lượng cán bộ thực hiện việc cấp giấy chứng nhận phải đủ về số
lượng và đảm bảo về trình độ chuyên môn.
2.1.6.3 Cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ
Vấn đề kỹ thuật, công nghệ, phương tiện máy móc phục vụ cho công
tác quản lý thông tin và xác định lai lịch, thông tin về thửa đất là hết sức quan
trọng. Ngoài ra việc quản lý đất đai là lĩnh vực hết sức phức tạp, lại phải đối
diện với sự biến động liên tục và rất dễ nảy sinh mâu thuẫn, tranh chấp do đó
công việc đòi hỏi phải có nguồn thông tin đầy đủ và chính xác. Để số liệu
thông tin về đất đai chính xác đòi hỏi phải có sự hỗ trợ của trang thiết bị máy
móc, cũng như hệ thống cơ sở vật chất để quan lý, theo dõi thông tin về biến
động đất đai.
2.1.6.4 Cơ sở dữ liệu về quản lý đất đai
Hệ thống cơ sở dữ liệu về quàn lý đất đai như: Hệ thống bản đồ, hồ sơ
địa chính lập là cơ sở quan trọng để xác định vị trí, ranh giới, kich thước thửa
đất của hộ. Để hộ được cấp giấy chứng nhận thì các thông tin về thửa đất cần
phải đầy đủ, rõ ràng. Do đó việc hệ thống thông tin đầy đủ, rõ rang sẽ là yếu
tố thuận lợi cho việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên địa bàn.
2.1.6.5 Hiểu biết của người sử dụng đất
Sự hiểu biết của người dân có ảnh hưởng lớn tới việc đăng ký cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất. Khi người dân hiểu rõ được vai trò, ý nghĩa
của giấy chứng nhận quyền sử đụng đất thì người sử dụng đất sẽ nhanh chóng
Bộ phận tách hợp thửa đất; Văn phòng định giá viên trưởng. Hiện nay hầu hết
đất đai và bất động sản ở Bang Victoria đã được đăng ký quyền. Các quyền,
giao dịch và biến động phải đăng ký là quyền sở hữu, chuyển quyền, thế chấp,
tách nhập, quyền địa dịch, quyền giám sát việc sử dụng đất của các bất động
sản liên quan. (Nguyễn Văn Chiến, 2006).
Cơ quan quản lý đất đai Bang New South Wales
Ở Bang New South Wales (NSW) việc cấp giấy CN QSD đất do Cơ
quan quản ký đất đai của bang thực hiện. Trong cơ cấu tổ chức của Cơ quan
quản lý đất đai có các bộ phận sau: Đo đạc và bản đồ; Bảo vệ tài nguyên đất;
Quản lý đất công; Định giá; Cấp giấy CN QSD đất. Hệ thống Torrens được
đưa vào NSW theo Luật BĐS 1863. Từ thời điểm này tất cả đất đai do Hoàng
gia cấp đều được đăng ký theo quy định của Luật này. Hiện tại, hệ thống hồ
sơ cấp giấy CN QSD đất của NSW gồm 2 loại song hành là Hồ sơ cũ được
lập trong khoảng thời gian 1863 - 1961 và Hồ sơ mới được lập từ năm 1961.
Hồ sơ cũ được thiết kế dưới dạng đóng tập, hồ sơ mới thiết kế dưới dạng tờ
rời. Việc chuyển đổi từ hồ sơ cũ sang hồ sơ mới không thực hiện đồng loạt
mà thực hiện dần khi có giao dịch hoặc có thay đổi được đăng ký vào hệ
thống. Những hồ sơ cũ đã được thay thế vẫn được bảo quản làm tư liệu lịch
sử và được sao chụp và lưu dưới dạng điện tử để tiện tra cứu. Để phục vụ tra
cứu, bên cạnh hồ sơ đăng ký, một bản mục lục tên người mua. Mục lục này
được lập dưới dạng sổ. Hiện tại Quy trình cấp giấy CN QSD đất đã được tin
học hoá bằng Hệ thống đăng ký quyền đất đai tự động năm 1983 nay thay thế
bằng Hệ thống đăng ký quyền tích hợp năm 1999. Đây là Hệ thống Torrens
được tin học hoá đầu tiên trên thế giới. Từ ngày 04 tháng 6 năm 2001 mục lục
tên chủ mua trên Microfiche được tích hợp lên hệ thống đăng ký tự động
(Nguyễn Văn Chiến, 2006).
2.2.1.2. Cộng hòa Pháp
Chế độ pháp lý chung về đăng ký bất động sản được hình thành sau
Cách mạng tư sản Pháp. Những nội dung chính của chế độ pháp lý này đã
được đưa vào Bộ luật Dân sự 1804. Bộ luật này quy định nguyên tắc về tính
hành vi định đoạt hoặc xác lập quyền về sau này đối với bất động sản đó sẽ
không được phép đăng ký để có thể phát sinh hiệu đối với người thứ ba.
(Nguyễn Văn Chiến, 2006)
- Thông tin về chủ thể
Các hệ thống công bố công khai thông tin về đất đai đều dành một vị
trí quan trọng cho mục thông tin về sở hữu chủ. Do vậy cần xác định một
cách chính xác và cụ thể các bên liên quan trong hợp đồng, giao dịch. Mọi
hợp đồng, văn bản đem đăng ký đều phải ghi rõ họ, tên, địa chỉ nơi cư trú,
ngày tháng năm sinh, nơi sinh, họ tên của vợ hoặc chồng, chế độ tài sản trong
hôn nhân của các cá nhân tham gia vào hợp đồng, giao dịch, cho dù họ trực
tiếp có mặt hay tham gia thông qua người đại diện. Mọi hợp đồng, văn bản
liên quan đến một pháp nhân đều phải ghi rõ tên gọi, hình thức pháp lý, địa
chỉ trụ sở, thông tin đăng ký kinh doanh của pháp nhân đó, kèm theo họ, tên
và địa chỉ nơi cư trú của người đại diện của pháp nhân đó. Đối với pháp nhân
cũng như cá nhân thì ở phần cuối của hợp đồng, văn bản đều phải có lời
chứng thực của công chứng viên.
- Thông tin về bất động sản
Kể từ cuộc cải cách năm 1955, mọi tài liệu đem đăng ký đều phải có
đầy đủ thông tin cụ thể về bất động sản. Trường hợp có nhiều giao dịch tiếp
nối nhau đối với cùng một bất động sản thì những thông tin đó phải luôn
giống nhau. Đối với mọi bất động sản được đem chuyển nhượng, xác lập
quyền sở hữu hoặc thừa kế, cho tặng, di tặng, thông tin về bất động sản đó
phải hoàn toàn phù hợp với thông tin trích lục từ hồ sơ địa chính.
Để phân biệt bất động sản đó với các bất động sản khác thì những
thông tin sau đây được coi là không thể thiếu: tên xã nơi có bất động sản, số
thửa trên bản đồ địa chính, số bản đồ địa chính. Bên cạnh các thông tin này,
trong thực tiễn người ta còn ghi thêm: tính chất của bất động sản, nội dung địa
chính và tên thường gọi (ví dụ: nhà gốc đa, quán cây sồi v.v…).
Pháp luật còn đưa ra một số quy định đặc biệt đối với các phần có thể phân
chia của nhà chung cư, cũng như đối với các phần của bất động sản đã phân