1
Tp Hồ Chí
Minh, 2013
GVHD: ThS Nguyễn Thị Diễm Hiền
ThS Nguyễn Thị Hải Hằng
Nhóm SVTH:
Phan Nữ Ngọc Linh K094040564
Phạm Chí Nhân K094040580
Trần Cẩm Vân K094040634
Đề tài môn đánh giá hệ thống ngân hàng Việt Nam:
KINH NGHIỆM TÁI CẤU TRÚC NGÂN HÀNG
CỦA THẾ GIỚI
VÀ HÀM Ý CHO VIỆT NAM
ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT
KHOA TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
Mục lục
2
Lời mở đầu
Trong 5 năm trở lại đây, hệ thống ngân hàng (NH) của Việt Nam không ngừng phát triển về số
lượng và các hình thức dịch vụ. Điều đó có vai trò, ý nghĩa rất to lớn trong sự phát triển của đất
nước. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực, hệ thống NH cũng bộc lộ những mặt tiêu cực,
hạn chế, tiềm ẩn nhiều nguy cơ đáng lo ngại.
Hệ thống NH của nước ta tuy không ít về số lượng nhưng phần nhiều còn nhỏ bé, sức cạnh tranh
rất thấp, nhất là đối với các NH nước ngoài. Đặc biệt là hệ số an toàn tối thiểu (CAR) chưa cao.
Cơ chế hoạt động của các NH còn có sự chồng chéo, thiếu rõ ràng. Sổ sách thiếu minh bạch, có
nhiều sơ hở cho việc tham nhũng, trục lợi, thậm chí có thể dẫn đến việc "làm giàu trên lưng
nhau". Do những nguyên nhân chủ quan trên và nguyên nhân khách quan của nền kinh tế, nợ xấu
của ngành NH hiện đã lên tới 8,6% tổng dư nợ, trong đó nợ mất vốn theo ước tính có thể tới
50%. Đây là một tỷ lệ chưa đến mức mất kiểm soát nhưng đã tới giới hạn cần cảnh báo.
Trước những nguy cơ trên, việc tái cấu trúc hệ thống NH được triển khai từ giữa năm 2011 đến
nay là một chủ trương đúng đắn, được đa số chuyên gia kinh tế, tài chính, tín dụng và nhân dân
cấu trúc cả hệ thống ngân hàng và các tổ chức tài chính khác. Bao hàm một ý nghĩa vĩ mô hơn,
đây cũng chính là hướng tiếp cận của đề tài này.
1.2 Nguyên nhân cần tái cấu trúc
Hệ thống ngân hàng có nguy cơ rơi vào khủng hoảng, kéo theo nguy cơ khủng hoảng kinh tế
- xã hội hoặc một ngân hàng lớn bị rơi vào khủng hoảng, có nguy cơ lan rộng ra toàn hệ thống.
1 Định nghĩa từ />4
Tùy tình hình ở các quốc gia mà có nguyên nhân tái cấu trúc khác nhau: Giải quyết hậu cú
sốc khủng hoảng tiền tệ ở Thái Lan, Indonsia, Hàn Quốc…, nguyên nhân chính trị ở Pakistan, lệ
thuộc vào nước ngoài ở Bosnia và Herzegovia, hậu khủng hoảng kinh tế ở Hangary, Tây Ban
Nha, Thụy Điển Quy cho cùng, nguyên nhân trực tiếp là hoạt động thị trường tài chính yếu
kém, do : (1) cho vay vượt quá khả năng quản lý tài sản và nợ, (2) thiếu cơ sở pháp lý và khung
sườn hoạt động rõ ràng.
Những nguyên nhân này có biểu hiện chính gồm tổng sản lượng sụt giảm mạnh, lạm phát và
thất nghiệp tăng cao và những mất cân đối tài khóa và đối ngoại lớn, tình hình ngân hàng hoạt
động không hiệu quả, nợ quá hạn, nợ xấu tăng cao, nguy hại nghiêm trọng đến lòng tin của
người dân đối với ngân hàng, tâm lý thị trường tài chính bi quan…
1.3 Các phương án tái cấu trúc
Một số phương án tái cấu trúc có thể triển khai bao gồm:
Tái cấu trúc nợ của khu vực doanh nghiệp
Trong quá trình tái cơ cấu hệ thống ngân hàng, bao giờ cũng phải giải quyết vấn đề nợ
xấu đối với khu vực doanh nghiệp. Thông thường, tỷ lệ vay nợ của khu vực doanh nghiệp bao
giờ cũng chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng cho vay của hệ thống ngân hàng. Để giải quyết vấn
đề này có nhiều hướng tiếp cận khác nhau.
Nếu DN lâm vào tình trạng khó khăn tạm thời, không trả nợ và lãi đúng hạn do lãi suất tăng cao
và do những bất lợi khách quan khác nhưng về lâu dài doanh nghiệp vẫn có triển vọng phát triển,
thì ngân hàng có thể tạo điều kiện cho doanh nghiệp cơ cấu lại các khoản nợ để doanh nghiệp có
thể tiếp tục hoạt động được. Điều này không chỉ giúp bản thân doanh nghiệp mà còn có thể giúp
chính ngân hàng bảo toàn được các khoản cho vay, hơn là cho các doanh nghiệp phá sản và ngân
hàng chỉ thu lại được khoản nợ của mình trong quá trình thanh lý tài sản
Hỗ trợ hệ thống ngân hàng
Quản lý nợ xấu
Nói chung, nợ xấu trong nền kinh tế phải được xử lý bởi nguyên tắc thị trường, đảm bảo
hiệu quả kinh tế. Khi vấn đề nợ xấu xảy ra ở mức độ lớn, bản thân hệ thống ngân hàng khó có
thể giải quyết, điều này có thể ảnh hưởng đến việc cung cấp tín dụng cho nền kinh tế, lúc đó sẽ
cần sự can thiệp của nhà nước. Giải pháp hỗ trợ của nhà nước chỉ nên thực hiện đối với số nợ
6
xấu còn lại sau khi tổ chức tín dụng đã tự xử lý và theo nguyên tắc đảm bảo hài hòa hiệu quả
kinh tế và xã hội. Khi nhà nước can thiệp vào vấn đề nợ xấu thường áp dụng hai mô hình chủ
yếu để xử lý nợ xấu: thành lập các công ty quản lý tài sản (AMC) hoặc xây dựng các cơ chế xử
lý nợ xấu
Chuyển đổi sở hữu
Sáp nhập những ngân hàng trong nước có lẽ là cách thức tốn ít chi phí nhất trong quá
trình tái cơ cấu hệ thống ngân hàng. Thậm chí, ngay cả khi không có khủng hoảng xảy ra nhưng
nếu có quá nhiều các ngân hàng nhỏ thì sáp nhập cũng là cách thức tốt để tăng tính hiệu quả. Tuy
nhiên, tình huống khi nhiều ngân hàng xảy ra vấn đề thì rất khó tìm ra ngân hàng mạnh để tiến
hành mua bán sáp nhập. Với những trường hợp như vậy, để khuyến khích sáp nhập, các cơ quan
hữu quan thường phải xử lý vấn đề nợ xấu trước (nhưng tốn khá nhiều chi phí cho ngân sách).
Trong những trường hợp khủng hoảng, nhiều khi không thể tìm được ngân hàng nội địa nào đủ
lớn mạnh để tiến hành sáp nhập, do đó phải cho phép ngân hàng nước ngoài tiến hành thâu tóm.
Tuy nhiên, việc cho phép này hoàn toàn phải phụ thuộc vào độ mở của chính sách đối với thị
trường tài chính. Cách thức cuối cùng là tiến hành quốc hữu hóa ngân hàng trong một khoảng
thời gian nhất định. Cách thức này thường chỉ phổ biến ở các nước phát triển khi hệ thống ngân
hàng chủ yếu dựa vào vốn của tư nhân. Ở những quốc gia mà các ngân hàng quốc doanh đóng
vai trò quan trọng và khi tính sở hữu nhà nước là nguyên nhân gây ra những khó khăn thì việc tư
nhân hóa lại là vấn đề chính yếu trong quá trình tái cơ cấu. Ví dụ như trường hợp của Trung
Quốc, trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế, hệ thống ngân hàng quốc doanh đã tiến hành nhiều
khoản cho vay không theo quy tắc thị trường mà theo chỉ định. Trong những trường hợp như vậy,
tái cơ cấu hệ thống ngân hàng phải đi đôi với việc cổ phần hóa và tái cơ cấu hệ thống DN nhà
nước.
Chương 2: Kinh nghiệm tái cấu trúc một
1990 lên đến 147% GDP năm 1996, với tổng giá trị tài sản hơn 8.7 nghìn tỷ Bath, trong đó ngân
hàng thương mại chiếm 64% giá trị này, thị phần huy động hơn 69% và tín dụng khoảng 67%.
Nguyên nhân chính là do tốc độ tăng trưởng kinh tế giai đoạn này khá nhanh, từ đó thu hút được
nhiều vốn đần tư từ bên ngoài ồ ạt đổ về, biểu hiện rõ ràng nhất là mất cân đối cán cân BOP thời
điểm cuối năm 1996. Đây là nguyên nhân lớn thứ 2 trực tiếp dẫn đến cú sốc tiền tệ 1997.
Xóa bỏ nhiều rào cản tài chính như thả nổi tỷ giá, kiểm soát lỏng lẻo các chỉ tiêu an toàn
trong lĩnh vực tài chính, đồng thời cho phép sở hữu chéo các tổ chức tài chính cũng là một điều
kiện làm cú sốc thêm trầm trọng.
Cùng với nhiều biến động bên trong lẫn ngoài khác, tháng 4-5/1997 các nhà đầu tư lớn rút
vốn khỏi Thái Lan gây nên cú sốc tiền tệ nổi tiếng trong lịch sử kinh tế thế giới. Tình hình mất
cân đối cán cân thương mai lớn đến mức Thái Lan phải tuyên bố phá giá tiền tệ từ 2/7/1997. Từ
9
đây, kinh tế Thái Lan dính cú sốc trầm trọng, dẫn đến những khó khăn không thể tháo gỡ trở
thành những nguyên nhân trực tiếp mà nó cũng chính là cơ sở để quyết định cần phải tái cấu trúc
hệ thống ngân hàng của Thái Lan. Vào tháng 1 năm 1998, nó đã xuống đến mức 56 baht mới đổi
được 1 dollar Mỹ. Chỉ số thị trường chứng khoán Thái Lan đã tụt từ mức 1.280 cuối năm 1995
xuống còn 372 cuối năm 1997. Đồng thời, mức vốn hóa thị trường vốn giảm từ 141,5 tỷ USD
xuống còn 23,5 tỷ USD. Finance One, công ty tài chính lớn nhất của Thái Lan bị phá sản.
Tháng 10/1997 IMF tuyên bố Thái Lan cần phải tái cấu trúc hệ thống tài chính hướng đến
một chuẩn mực được thành lập vào năm 2000, sau khi đã tài trợ nước này gần 20 tỷ USD để giải
quyết khó khăn vào tháng 8/1997.
2.1.2 Nguyên nhân dẫn đến tái cấu trúc
Do hệ thống tài chính yếu kém, mà nguyên nhân có thể xếp vào 2 nhóm chính: (1) cho vay vượt
quá khả năng quản lý tài sản và nợ, (2) thiếu cơ sở pháp lý và khung sườn hoạt động rõ ràng.
Năng lực quản lý tài sản và nợ kém tiếp tục dẫn đến 3 nguyên nhân lớn khác: Thứ nhất, mặc dù
các ngân hàng thương mại và tài chính các công ty mở rộng một số tỷ trọng cho vay để sản xuất
dự án đầu tư, mà họ phân bổ một tỷ lệ khá lớn vào lĩnh vực phi sản xuất và thường mang tính
đầu cơ chẳng hạn như bất động sản, xây dựng, và người tiêu dùng cho vay (bao gồm cả các
khoản vay ô tô, mua cổ phiếu và thuê mua). Vì vậy, nền kinh tế đã tăng trưởng với tốc độ nhanh,
có rất ít vấn đề trong việc khôi phục các khoản vay như vậy, họ tiếp tục nâng đòn bẩy tài chính
2.1.3 Biện pháp thực hiện
Tái cấu trúc toàn diện ngành tài chính - ngân hàng: (1)Thành lập Ủy ban Tư vấn tái cấu trúc tài
chính cấp cao tham mưu cho Thống đốc và Bộ trưởng Tài chính. (2) Sự cam kết của các quỹ
công chúng trong việc hỗ trợ tái cấp vốn cho các ngân hàng và công ty tài chính còn hoạt động
tốt. (3) Tái cơ cấu tín dụng doanh nghiệp. (4) Quản lý nợ xấu. (5) Đóng cửa, sáp nhập hoặc bán
các ngân hàng thương mại và công ty tài chính yếu kém. (6)Gia tăng giám sát bảo đảm an toàn
cho hoạt động ngân hàng, đồng thời tích cực áp dụng các thông lệ quốc tế trong quản trị ngân
hàng. (6)Tái cơ cấu hoạt động các ngân hàng quốc doanh và chuẩn bị cho cổ phần hóa các ngân
hàng này. (7) Sự can thiệp của Ngân hàng Trung ương với các tổ chức thiếu lành mạnh còn lại.
Thành lập công ty mua bán nợ xấu AMC
Là AMC đầu tiên trong khu vực phải đương đầu với việc xử lí tài sản của các công ty tài
chính mất khả năng thanh toán. The Financial Sector Restructuring Agency (FRA) được thành
lập vào 10/1997. FRA có hồi đồng gồm phó thống đốc, cựu bộ trưởng thương mại, cựu CEO
công ty tài chính, 1 ủy viên công tố và 1 kế toán. Nó đã có thành công sớm trong đáu giá tài sản.
11
Tài sản hữu hình (văn phòng, xe…) đã được bán vào tháng 3/1998, các khoản cho vay mu axe
vào tháng 7 và khoản vay mua nhà của cá nhân vào tháng 8. Các khoản bán này thực hiện trung
bình là nữa giá trị sổ sách.
Tuy nhiên, khoản bán tài sản lớn nhất là các khoản vay của doanh nghiệp với giá trị hiện giá lên
đến 10 tỷ US$ đã không được như mong muốn. Nó thu hút chỉ có 12 người mua, hầu hết là các
ngân hàng đầu tư của Mỹ. giá bán cao nhất đều thấp hơn mong muốn của chính quyền ( xấp xỉ
25-30% giá trị sổ sách). Trong khi khoản 1/3 các tài sản này sau đó đã bán chỉ 21% hiện giá cộng
lợi nhuận chia sẻ của thương vụ (profit-sharing deal), mục tiêu kết thúc bán tài sản vào cuối 1998
đã không thành. Dưới điều luật bán đấu giá, nguwofi mua bị cấm bán các khoản cho vay này cho
các con nợ tỏng 6 tháng.
Hầu hết các tài sản còn lại đã được đấu giá trở lại vào tháng 3/1999, trong cuộc đấu giá này các
gói cho vay đã đạt được đề nghị ở mức lợi nhuận chia sẻ cơ bản (profit-sharing basis), theo đó
FRA nhận 20% của dòng tiền sau khi trừ chi phí. Các thương vụ này được chi trả bằng tiền hoặc
bằng trái phiếu. Chính sự linh động này đã đươc hi vọng thu hút nhiều người đấu giá hơn nhưng
làm rắc gối cho việc chọn giá mua tốt nhất. kết quả của cuộc đáu giá này cũng lại gây thất vọng
các giải pháp để đảm bảo chất lượng của việc tăng vốn (đó là việc giới hạn phát hành vốn chủ sở
hữu với trái phiếu đi kèm)
Thành lập FIFD
Nhằm chống đỡ với sự yếu kém của ngành ngân hàng trong những, dưới sự hỗ trợ IMF, Chính
phủ Thái Lan đã áp dụng một số biện pháp cải cách để xây dựng một hệ thống khung mẫu chính
thức vào năm 2000, bao gồm việc thành lập FIFD, một thể nhân độc lập với Ngân hàng Trung
ương với nhiệm vụ tái cấu trúc, phát triển và cung cấp hỗ trợ tài chính (hỗ trợ thanh khoản) cho
các định chế tài chính.
Tất cả ba nền kinh tế có kế hoạch thực hiện hỗ trợ tái cấu trúc vốn của hệ thống ngân
hàng. Tái cấu trúc vốn ở Thái Lan đang diễn ra dưới sự bảo trợ của Quỹ phát triển các tổ chức
tài chính (FIDF). FIDF được thành lập vào năm 1985 để cung cấp hỗ trợ tài chính cho các ngân
hàng gặp khó khăn, chấp nhận một phạm vi rộng hơn của tài sản thế chấp hơn mức cho phép
theo cơ sở cho vay sau cùng của BoT. Nó được cung cấp nhân viên bởi BoT, cũng chính BoT
cung cấp vốn ban đầu cho nó, và được tài trợ một phần bằng tiền thuế thu về tổ chức tài chính là
0,4 % tiền gửi. (Trong thời gian nó sẽ được thay thế bằng một cơ quan bảo hiểm tiền gửi mới.)
Chính phủ ban hành 500 tỷ THB trái phiếu để trang trải nợ của FIDF. Lãi suất trên trái phiếu
13
được đáp ứng từ ngân sách với khấu hao từ lợi nhuận BoT trong tương lai. Các FIDF đã tiếp
quản một số ngân hàng undercapitalised bằng cách chuyển đổi các khoản vay của mình cho
chúng vào vốn cổ phần. Ban đầu nó được kì vọng sẽ bán các ngân hàng vào cuối năm 1998
bằng cách cung cấp bảo đảm thiệt hại trong tương lai. Nó hy vọng sẽ bán chúng vào cuối năm
1999. Người mua nước ngoài sẽ được cung cấp một thỏa thuận chia sẻ mất mát, có nghĩa là chi
phí của các khoản nợ xấu sẽ được chia sẻ một phần bởi các ngân hàng trung ương trong vài
năm. Hồ sơ dự thầu được dự kiến từ HSBC và Citibank số những người khác.
Củng cố khuôn khổ quy định quản lý
Vào tháng 10/1997, chính quyền Thái Lan đã công bố chiến lược đối phó với khủng
hoảng trong lĩnh vực ngân hàng, trong đó, bao gồm các giải pháp:
Đầu tiên, tất cả các ngân hàng phải điều chỉnh vốn chủ sở hữu để ghi nhận đầy đủ các khoản lỗ
thực tế đã xảy ra nhằm đáp ứng những quy định chặt chẽ hơn về phân loại nợ và trích lập dự
phòng rủi ro do Ngân hàng Trung ương mới ban hành. Không ngân hàng nào được phép trả cổ
gia này đã đề xuất nội dung để các ngân hàng trong nước và quốc tế có thể mua lại các ngân
hàng kể trên.
Tuy nhiên, trong năm 1998, nợ xấu của nhóm 3 ngân hàng hoạt động yếu kém trong
nhóm 6 ngân hàng mà Chính phủ sở hữu lên tới 70 - 85% ở mỗi ngân hàng với nhiều vấn đề nổi
cộm, đặt ra yêu cầu đối với Chính phủ đối với việc đưa ra một kế hoạch hoàn chỉnh để giải quyết
các vấn đề còn tồn tại của thị trường tài chính. Các biện pháp chính được Chính phủ đưa ra bao
gồm: cải thiện khuôn khổ pháp lý bảo đảm an toàn hoạt động ngành tài chính ngân hàng và tiến
hành các bước tái cấu trúc hệ thống ngân hàng.
2.1.4 Kết quả đạt được
Hệ thống ngân hàng của Thái Lan đã được tái cấu trúc mặc dù chỉ có hai ngân hàng
thương mại đóng cửa, sáp nhập. 56 công ty tài chính bị đóng cửa, 13 công ty khác và 5 ngân
hàng được sáp nhập.
Các ngân hàng còn lại đều đã tăng được đủ số vốn quy định sau 12 tháng, tuy nhiên, quá trình
tăng vốn vẫn tiếp tục sau đó để đạt được tiêu chuẩn về phân loại nợ và trích lập dự phòng theo
chuẩn quốc tế vào năm 2000.
Các ngân hàng quốc doanh sau đó được cổ phần hóa với sự hỗ trợ của các ngân hàng đầu tư của
nước ngoài. Chính phủ đã tập trung đảm bảo quá trình chuyển đổi này được diễn ra minh bạch.
15
Tại một số ngân hàng thương mại cổ phần trong nước, tỷ lệ sở hữu của các nhà đầu tư nước
ngoài đã vượt quá 50%.
2.2 Các nước Đông Nam Á khác
2.2.1 Tình hình chung
Giống như Thái Lan, Indonesia và Malaysia thực hiện tái cấu trúc nhằm giải quyết khó
khăn hậu khủng hoảng kinh tế 1997-1998
Các hệ thống ngân hàng của 3 nền kinh tế đã đối diện khủng hoảng trầm trọng hơn bất kì các đợt
khủng hoảng trước đó. Tại Malaysia, ước tính là 8% nhưng một số tổ chức tư nhân đã ước tính
cao hơn nhiều số liệu báo cáo đó. Chi phí để chấn chỉnh các hệ thống ngân hàng sẽ rất cao; một
số ước tính của IMF được thể hiện trong dưới.
Các vấn đề này đã lan rộng; hầu hết các ngân hàng còn tồn tại đang trải qua nhiều tổn thất và thất
thoát vốn lớn.
nước mà còn cả người cho vay bằng đồng rupiah và cả ngoại tệ và bao gồm luôn cả các hoạt
động ngoại bảng. Trong tháng 1/1999, NHTW Indonesia (Bank Indonesia) tuyên bố họ hoàn trả
hầu hết các khoản nợ thương mại của ngân hàng địa phương đối với ngân hàng nước ngoài. Mặc
dù các khuyến cáo trên được ngầm hiểu với các ngân hàng nước ngoài, nhưng không thể chắc
chắn là các ngân hàng nước ngoài sẽ sẵng sàng hơn trong việc cấp cấp các khoản cho vay mới
17
đối với các tổ chức tại Indonesia.
Thay đổi về mặt chính sách
Các thay đổi đối với các quy định và hoạt động giám sát có 2 dạng. Một dạng là nhượng
bộ tạm thời nhằm mục đích giúp các ngân hàng thoát khỏi vấn đề hiện tại. Dạng còn lại là thắt
chặc các yêu cầu để tránh các ngân hàng dính vào các vấn đề trầm trọng hơn trong tương lai.
Malaysia đã thực hiện nhiều hơn ở dạng đầu trong khi Thái Lan và Indonesia tập trung vào dạng
sau.
Malaysia: Chính quyền tuyên bố các ngân hàng được kì vọng mở rộng danh mục cho vay
8% trong năm 1998. Thực tế là trong năm 1998 tổng các khoản vay hiện tại hầu như không thay
đổi. Mặc dù thiếu pháp lí nhưng tuyên bố cho vay mục tiêu đã gây ra các lo lắng về việc trầm
trọng hơn của chất lượng các khoản vay. Chính quyền đã thiết lập mục tiêu tương tự cho tăng
trưởng cho vay trong năm 1999.
Phần trăm nợ phải trả đủ tư cách (các ngân hàng phải duy trì khoản này như là tiền gửi
không trả lãi với BNM) đã giảm từ 13.5 xuống 4%. Mặc dù định nghĩa NPLs đã nởi lỏng hơn (đó
quá hạng 6 tháng), Malaysia đã thắt chặt một số hướng dẫn thận trọng. Dự phòng chung của ngân
hàng được yêu cầu tăng từ 1% lên 1.5%. Vốn yêu cầu phải đáp ứng hàng quý thay vì hàng năm.
Vào tháng 4/1999 các thay đổi đã được báo hiệu trước về việc đáp ứng nhu cầu vốn tối thiểu, liên
quan đến vốn để kiểm soát nội bộ và kết cấu công nghiệp của các khoản vay. Tổn thất tối đa đối
với 1 khách hàng đơn lẻ đã giảm từ 30 xuống 25% vốn và các khoản vay đối với chủ sở hữu đã bị
cấm. Các ngân hàng được yêu cầu phải tiết lộ chấm điểm, tổn thất theo ngành, yêu cầu vốn tối
thiểu và NPLs 6 tuần sau kết thúc mỗi quý. Muốn mở chi nhánh mới phải có sự chấp thuận của
BNM.
Indonesia: Sự bổ sung trong điều luật ngân hàng của Indonesia mang đến cho ngân hàng
trung ương trách nhiệm cấp phép, qui định và giám sát các ngân hàng. NHTW Indonesia (Bank
tài sản đã được so sánh với AMC của Thụy Điển (Securum), tổ chức này có thể tái cấu trúc và
bán tài sản trong 5 năm.
Danaharta ban đầu ước tính nó cần thiết để tăng 25 tỷ MYR cho các hoạt động của mình nhưng
điều này đã được điều chỉnh xuống 15 tỷ MYR. Chính phủ đóng góp 1,5 tỷ MYR trong vốn và
đóng góp hơn nữa là có thể. Gần 5 tỷ MYR đã được tạo ra từ phát hành trái phiếu không trả lãi.
Tham gia cổ phần tư nhân cũng được dự tính.
Tại thời điểm 30/6/1999 Danaharta đã mua 2.000 NPLs có thể chiết khấu tại BNM, trị giá 30 tỷ
MYR từ các ngân hàng, trao đổi chúng cho trái phiếu Chính phủ bảo lãnh không trả lãi kì hạn 5
năm với một tùy chọn để tái đầu tư cho năm năm nữa. Khoảng 1/3 các khoản vay đã mua là các
19
khoản vay bất động sản. Nói chung, Danaharta ưu tiên hỗ trợ cho vay đối với các lĩnh vực chiến
lược quan trọng như xuất khẩu. Danaharta cũng đang quản lý 13,7 tỷ MYR NPLs cho hai ngân
hàng. Trong một số trường hợp, các ngân hàng đã từ chối đề nghị từ Danaharta để mua nợ xấu ra
khỏi họ.
Giá của Danaharta đề nghị mua các NPLs của các ngân hàng được tính toán bằng cách sử dụng
hoặc giá trị thị trường cho các tài sản thế chấp hoặc phương pháp chiết khấu về hiện giá trên cơ
sở phương pháp đã áp dụng trước đó bởi RTC tại Hoa Kỳ và Securum ở Thụy Điển. Điều này
cho đến nay đã có nghĩa là phải trả trung bình 61% giá trị sổ sách (trừ một trường hợp đặc biệt).
Danaharta chỉ phục vụ cho 2.000-3.000 NPLs của các ngân hàng hơn 5 triệu MYR. Thiếu sự
tham gia của cho vay tiêu dùng hoặc nhà ở làm cho hoạt động của nó ít nhạy cảm về mặt chính
trị: nó không được trục xuất người mất nhà cửa. Năm 1998, nó tập trung vào các khoản vay có
bảo đảm; năm 1999 có thể mua các khoản vay không có bảo đảm và ngoại tệ.
Có hai ưu đãi cụ thể cho các ngân hàng bán NPLs cho Danaharta. Thứ nhất, nếu khoản
vay hoặc tài sản thế chấp cơ bản sau đó được bán cao hơn Danaharta đã trả, 80% của thặng dư
được trả lại cho ngân hàng. Thứ hai, các ngân hàng sẽ có thể khấu hao khoản lỗ trên bất kỳ khoản
vay đã bán cho Danaharta hơn đến năm năm. Danaharta đã bắt đầu để xử lý một số tài sản. Một
đấu thầu đã được tổ chức cho khoản vay bằng ngoại tệ, với hồ sơ dự thầu trong tháng Tám.
Tại Indonesia, các đơn vị quản lý tài sản (Assets Management Unit) là một thành phần
của Cơ quan tái cơ cấu Ngân hàng Indonesia (IBRA - đôi khi được gọi là BPPN theo kí tự tắt của
Indonesia). IBRA tiếp quản việc quản lý của các ngân hàng không lành mạnh. Nó được thành lập
trong các ngân hàng trong nước ở Thái Lan, nó chỉ có thể được nắm giữ trong vòng mười năm.
Điều này dường như đã ngăn cản các ngân hàng nước ngoài mua. Tuy nhiên, ngược lại,
Malaysia vẫn giữ lại 30 % giới hạn về quyền sở hữu nước ngoài của các ngân hàng.
Kế hoạch tái cấu trúc vốn
Tại Malaysia, Danamodal, (đầy đủ, Danamodal Nasional Berhad) được thành lập vào
tháng Tám năm 1998 như là một công ty trách nhiệm hữu hạn, và một công ty con của BNM.
Danamodal đã huy động thêm vốn thông qua phát hành trái phiếu MYR. Khi nó đạt được mục
tiêu của mình, Danamodal sẽ bán cổ phần tại Ngân hàng. Khi chúng được bán hết, giá trị còn lại
sẽ được phân phối cho các cổ đông. Kế hoạch hiện nay là Danamodal hoạt động trong 5 năm;
cải cách ngân hàng trong hai năm đầu tiên và sau đó cuộn xuống cổ phần trên sau ba.
Danamodal được thiết kế để hoạt động riêng rẽ với các chính phủ và đưa ra quyết định riêng
của mình mà các ngân hàng, trong đó để đầu tư. Ngân hàng trung ương có sự tham gia mạnh mẽ
trong việc xây dựng và giám sát các hoạt động của Danamodal. Giám đốc điều hành Danamodal
21
là một cựu trợ lý thống đốc BNM. Cùng anh trên hội đồng là hai thành viên bổ sung từ BNM,
một thư ký phó của Bộ Tài chính, người đứng đầu Danaharta và một kế toán và luật sư từ khu
vực tư nhân.
Danamodal có thể bơm vốn vào các ngân hàng trong nước dưới hình thức các công cụ vốn
hoặc phái sinh. Đó là đề cử hai giám đốc, một trong số đó sẽ là chủ tịch hoặc Phó chủ tịch, với
những ngân hàng mà nó đã đóng góp vốn cho đến nay và cho biết nếu vốn tiếp tục được đóng
góp nó có thể tìm kiếm thêm đại diện. Là một cổ đông chiến lược, nó có thể tìm kiếm sáp nhập
nếu nó thấy thẩm thích hợp và hành động để cải tạo quản lý. Trước khi nhận vốn góp của
Danamodal, các cổ đông ngân hàng hiện tại phải chịu mọi tổn thất. Các ngân hàng phải bán tất
cả các nợ xấu đủ điều kiện choDanaharta và tuân theo một bộ các mục tiêu hoạt động.
Các BNM góp 1,5 tỷ MYR vốn ban đầu và thêm 1,5 MYR tỷ trong tháng 11 năm 1998. 57 tổ
chức ngân hàng cũng đăng ký 11 tỷ MYR giá trị danh nghĩa (MYR ròng 7,7 tỷ) trái phiếu không
trả lãi có kỳ hạn 5-10 năm, thanh toán với quỹ giải phóng từ năm 1998 giảm tháng trong dự trữ
bắt buộc với BNM.
Tháng Giêng năm 1999 BNM nắm quyền kiểm soát công ty tài chính lớn nhất Malaysia và đảm
bảo tiền gửi của nó. Trong tháng 3 năm 1999 Danamodal mua 70 % của nó cho một mã thông
chủ sở hữu ngân hàng ban đầu sẽ có các tùy chọn mua tại một ngày sau đó. Ngoài ra, bảy trong
số các ngân hàng unsound đã được tiếp quản bởi IBRA như mạng lưới chi nhánh rộng lớn của
họ có nghĩa là họ có nguy cơ gián đoạn đáng kể cho hệ thống thanh toán. (Điều này là để bổ
sung tiếp quản thứ tư vào năm 1998.) Một ngân hàng đang được tiếp quản bởi một ngân hàng
quốc tế lớn. Mục tiêu cuối cùng là một hệ thống ngân hàng bao gồm 8 -10 ngân hàng vững chắc
với một kết hợp của các ngân hàng tư nhân trong nước, các ngân hàng nước ngoài và ngân hàng
nhà nước.
Chính phủ là để trao đổi trái phiếu rupiah dài hạn, có thể giao dịch sau sáu tháng đổi lấy
vốn chủ sở hữu tại các ngân hàng. Sẽ có ba loại trái phiếu phát hành trong tháng 6 năm 1999:
IDR 164 ngàn tỷ với lãi suất thực tế của 3% với kì hạn 20 năm; 95 nghìn tỷ IDR với lãi suất gắn
liền với lãi suất tín phiếu ba tháng ngân hàng trung ương và kì hạn 3-10 năm và 9 ngàn tỷ IDR
với lãi suất cố định từ 12-14% có kỳ hạn 5-10 năm. Các khoản thanh toán lãi hàng năm trên trái
phiếu chiếm khoảng 3% GDP trong năm đầu tiên. Nó sẽ được tài trợ từ việc bán tài sản của các
ngân hàng thanh lý và từ ngân sách tài chính.
Cùng lúc đó, Indonesia đang cố gắng để buộc cựu đa số cổ đông trong một số ngân hàng để trả
nợ 110 nghìn tỷ IDR trong khoản vay khẩn cấp mà họ nhận được từ các ngân hàng trung ương.
Đã thống nhất trong tháng 11 năm 1998 để mở rộng thời hạn một năm từ một đến bốn năm, với
23
chỉ 27 % tổng số nợ đến hạn trong năm đầu tiên. Một Ủy ban đánh giá quốc tế đang theo dõi quá
trình này.
2.3 Hàn Quốc
2.3.1 Tình hình nền kinh tế lúc cấu trúc
Năm 1997 hệ thống tài chính Hàn Quốc đứng bên bờ vực đổ vỡ do các tập đoàn đầu tư
dàn trải gây thua lỗ, nợ xấu các ngân hàng tăng cao. Vậy nhưng bằng những chính sách tái cấu
trúc đúng hướng, chỉ sau 5 năm kinh tế Hàn Quốc đã “lột xác”.
Cuối năm 1997, khi cuộc khủng hoảng tài chính châu Á lan rộng, Hàn Quốc đã phải vay tổng
cộng 57 tỷ USD từ Quỹ tiền tệ thế giới IMF để cứu nguy hệ thống ngân hàng và giúp nền kinh tế
khỏi đổ vỡ. Đây là hậu quả của một thời gian dài chính phủ dễ dãi trong việc cấp tín dụng cho
các tập đoàn lớn khiến hoạt động đầu tư trở nên dàn trải, nợ xấu các ngân hàng tăng cao.
2.3.2 Nguyên nhân
cho một doanh nghiệp vay tới 45% tổng dư nợ tín dụng. Thậm chí, tổng dư nợ của một tập đoàn
chaebol tại một ngân hàng có thể lên tới 300% tổng nguồn vốn của ngân hàng đó.
Tính đến năm 1998, số nợ của các tập đoàn này đã tương đương 175% GDP của Hàn Quốc, dẫn
đến thâm hụt tài khoản vãng lai. Đáng chú ý là vào thời điểm đó, do chính sách quản chặt dòng
vốn đầu tư của nước ngoài, các khoản thâm hụt tài khoản vãng lai hầu hết được tài trợ bằng
chính nguồn vốn vay ngắn hạn từ các định chế tài chính trong nước. Những định chế này lại đi
vay các ngân hàng nước ngoài tại Hàn Quốc để có vốn cho vay. Việc này đã dẫn tới một lượng
khổng lồ nợ vay ngắn hạn không ổn định từ nước ngoài.
Tuy nhiên các định chế tài chính trong nước không thể hoàn trả bởi họ đã đem nguồn vốn vay
ngoại tệ ngắn hạn cho các chaebol vay đầu tư dài hạn. Và khi lượng dự trữ ngoại hối của nhà
25