Quản lý chất thải nguy hại từ
bùn thải của hệ thống thoát
nước thành phố
Nhóm 11: K55CNMT
1. Vũ Thị Dung
2. Đặng Thị Hoa
3. Lê Thị Minh Thu
4. Nguyễn Thị Thu
5. Vũ Thị Ngọc Thu
6. Phạm Thị Nga
Nội dung chính
I. Hiên trạng hệ thống thoát nước thành phố
II. Nguồn phát sinh bùn thải
III. Thành phần đặc tính bùn thải
IV. Hiện trạng quản lí,xử lí
V. Kết luận,giới thiệu một số phương pháp
Mở đầu
Hiện nay, tình trạng thoát nước và vệ sinh môi trường đô thị là
vấn đề nóng bỏng và cực kỳ bức xúc trong phát triển kinh tế - xã hội
tại Việt Nam.
Việt Nam có khoảng 760 đô thị nhưng hầu hết các đô thị vẫn
chưa có trạm xử lý nước thải, cùng với hệ thống thoát nước đã cũ và
lạc hậu là nguyên nhân phát sinh một lượng bùn cặn rất lớn trong đó
có chứa cả chất thải nguy hại từ hệ thống thoát nước thành phố.
Việc quản lý xử lý loại bùn thải này đang là vấn đề được cảnh báo và
được sự quan tâm của toàn xã hội.
I. Hiện trạng về hệ thống thoát nước
thành phố
Theo đánh giá của công ty thoát nước và môi trường đô thị tại các
địa phương hiện nay:
.
Hệ thống hố ga, bể
phốt
.
xưởng bảo dưỡng và
sửa chữa xe máy ,ô tô
.
Nước thải từ các khu
chợ
2. Nguồn thải từ các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất nhỏ lẻ, làng
nghề
Các hoạt động sản xuất tiểu thủ công nghiệp như: chế biến thực
phẩm, cơ khí, thủ công mỹ nghệ, chế biến lâm sản, vật liệu xây
dựng…xả thải trực tiếp qua các hệ thống cống rãnh xuống ao hồ
thành phố.
Tại Hà Nội làng nghề : tái chế nhựa ở Triều Khúc, dệt nhuộm Tân
Triều và bún Phú Đô
•
Nước thải tại mương thải chung của các làng nghề, trước khi thải
ra ngoài bị ô nhiễm nghiêm trọng, các chất hữu cơ BOD5 vượt
đến 14,4 lần; COD vượt 10,8 lần, chất rắn lơ lửng vượt 1,4 lần,
chất dinh dưỡng vượt 1,5 lần, dầu mỡ vượt 5,5 lần
Nguồn phát sinh bùn thải
3. Nước thải các bệnh viện, cơ sở khám chữa bệnh
Với khối lượng nước thải trung bình của mỗi bệnh viện dao động
từ 20 – 360m3/ngày đêm, nhiều bệnh viện bố trí xen kẽ trong các
1. Thành phần
1) Bùn cặn nước thải công nghiệp:
Có chứa các kim loại nặng như chì (Pb), thủy ngân (Hg), crôm (Cr),
cadmi (Cd), asen (As), mangan (Mn) .Đây là các chất có độc tính
cao đối với con người và sinh vật
Nước thải công nghiệp sau quá trình xử lý tạo ra cặn bùn thải, nếu
bùn thải này không được quản lý mà đổ trực tiếp ra môi trường sẽ
gây độc cho con người và sinh vật bởi hầu hết kim loại nặng đều
lắng đọng trong bùn thải
III. Thành phần, đặc tính bùn thải
2) Bùn cặn từ nước thải sinh hoạt của các khu dân cư và khu công
nghiệp chế biến thực phẩm
Hàm lượng chất hữu cơ và chất dinh dưỡng cao, nồng độ kim
loại nặng và các chất độc hại thấp.
Chất thải nguy hại thường bao gồm : sơn thải có chứa kim loại
nặng, xăng, dầu, các acquy axit chì hư hỏng, chất tẩy rửa mạnh,
các dung dịch có chứa axit, song nồng độ thường thấp và tính
độc ít hơn so với các khu công nghiệp.
Thành phần
3) Cặn bùn phát sinh từ nước thải bệnh viện
Chủ yếu là các chất hữu cơ; chất dinh dưỡng (N, P), chất rắn lơ
lửng.
Nước thải bệnh viện chứa vô số loại vi trùng, virus và các mầm
bệnh sinh học khác trong máu, chất thải của người bệnh, các loại
1. Hiện trạng quản lý
a) Quản lý nguồn phát sinh bùn thải
)
Hệ thống thoát nước đô thị do các doanh nghiệp nhà nước quản lý
(các loại hình Công ty Cấp thoát nước , Công ty Môi trường Đô
thị…).
)
Chưa sử dụng GIS trong công tác quản lý
Các hoạt động nạo vét, thông tắc kênh rãnh, cống thoát nước của các
khu dâu cư đều tự phát, hầu như không kiểm soát được.
Quản lý xây dựng đô thị và hạ tầng còn nhiều hạn chế không cập nhập
kịp thời thông tin phát triển đô thị và các khu xây dựng mới.
Hầu hết các đô thị, việc quản lý mạng lưới cống thoát nước cấp 3
được giao cho chính quyền địa phương quản lý.
Quản lý nguồn phát sinh
Lượng bùn thải ngày càng tăng, gây tình trạng thiếu chỗ đổ bùn
thải.
b) Quản lý quá trình thu gom bùn thải
Hiện trạng thu gom bùn thải từ hệ thông cấp thoát nước thành
phố diễn ra một cách tự phát và không được quản lý chặt chẽ.
Cơ sở chịu trách nhiệm thu gom bùn thải là công ty vệ sinh môi
trường đô thị hoặc các công ty nhỏ lẻ chuyên hút bùn từ bể phốt,
cống thoát nước…
cũng không đủ diện tích mặt bằng.
Hiện trạng xử lý
Tại Hải Phòng :Dự án Thoát nước và vệ sinh Hải Phòng (hoạt động
từ năm 2000)
Đã tiến hành hút bể phốt miễn phí cho 43 phường và khu tập thể
(khoảng 50.182 bể phốt các loại) và đã hút được 92.1910m3 bùn
phốt.
Bùn thải được đưa xe chuyên dùng chở về đổ vào các ô chứa của
bãi thải Tràng Cát.
Bùn được tách và làm khô, đem ủ. Hỗn hợp bùn và nguyên liệu
sau ủ được thiết bị sàng lọc và loại ra các sản phẩm không phù
hợp để mang đi chôn lấp. Sản phẩm chính dưới dạng phân
composit được chia, đóng gói phục vụ cho mục đích nông nghiệp.
Thực tế xử lý bùn thải, bùn cống rãnh nguy hại tại Việt Nam đang
dùng giải pháp phổ biến là đốt thành tro, sau đó còn lại khoảng 20 –
30% tro đem chôn và xử lý bằng cách ép loại nước, phơi khô, chỉ một
phần rất nhỏ được sử dụng làm phân bón.
Phần lớn bùn cống rãnh, bùn thải công nghiệp kể cả bùn thải nguy hại
đều được bỏ lẫn lộn với rác đô thị và được đổ bừa bãi xuống các kênh
rạch, khu đất trống, gây nên tình trạng ô nhiễm môi trường. Việc tách
riêng bùn thải nguy hại còn chưa được áp dụng.
Hiện nay, bùn thải rắn chứa các kim loại nặng xếp vào loại chất thải
rắn đặc biệt nguy hại và đang được đổ thải như đối với chất thải nguy