!
"#$%&'()*+,- :
Bậc Tiểu học là “Nền tảng trong hệ thống giáo dục Quốc Dân”. Những gì
trẻ học được, hình thành được ở bậc Tiểu học được tích tụ lại, trở thành phẩm chất
và những phương tiện làm hành trang theo suốt cuộc đời của mỗi con người.
Nội dung giáo dục ở bậc Tiểu học là nội dung giáo dục toàn diện. Trong đó
môn Tiếng Việt được coi là môn học quan trọng nhất, là môn học công cụ để học
tập các môn học khác, và qua đó giáo dục học sinh về mọi mặt. Trong tiếng Việt
phải kể đến phân môn chính tả, chính tả là phân môn có tính chất công cụ, nó có vị
trí quan trọng trong giai đoạn học tập đầu tiên của học sinh. Cũng như hệ thống
ngữ âm, hệ thống chữ viết hoạt động trong giao tiếp theo những quy tắc đảm bảo
cho quá trình viết và đọc được thuận lợi và chính xác. Chính tả cung cấp cho học
sinh những quy tắc sử dụng hệ thống chữ viết, làm cho học sinh nắm vững các quy
tắc và hình thành kĩ năng đọc thông, viết thạo tiếng Việt. Ở bậc Tiểu học, chính tả
là một phân môn có vị trí đặc biệt quan trọng, nó tồn tại dưới hình thức là một
phân môn độc lập, chứ không tồn tại xen kẽ trong các tiết học thực hành như ở bậc
Trung học cơ sở và Trung học phổ thông.
Trong nhà Trường, tình trạng học sinh mắc lỗi chính tả rất phổ biến. Ở điểm
trường nơi tôi trực tiếp giảng dạy, với đặc thù là vùng đất trù phú đã thu hút người
dân khắp ba miền Bắc – Trung – Nam về đây lập nghiệp. Vì vậy tình trạng mắc lỗi
chính tả ở học sinh rất đa dạng và xảy ra hầu hết các cấp học, đặc biệt là bậc Tiểu
học.
Qua thực trạng dạy học phân môn chính tả ở Tiểu học, tôi thấy các em có
những kiểu sai lỗi chính tả khác nhau, chẳng hạn:
Người miền Nam sai về âm cuối và vần : ( an/ang ; at/ac ; n/ng ; t/c ,…)
Người miền Bắc và miền Trung sai về thanh điệu và phụ âm đầu : (?/~/. ; l/n
; ch/tr ; s/x ; gi/d/r;…)
1
cho các em sự mạnh dạn, tự tin hơn khi giao tiếp, nhằm mục tiêu đào tạo những
2
chủ nhân tương lai năng động, sáng tạo phù hợp với xu thế phát triển của xã hội
hiện nay.
/-+01(234&567-7,4&08(24&94:&;$<9+=>-7,<?@=>-%&A(&+;:
Khảo sát, tìm hiểu kĩ năng viết chính tả, nguyên nhân dẫn đến tình trạng “Lỗi
chính tả” và biện pháp khắc phục các lỗi đó trên đối tượng là học sinh lớp 4B, năm
học 2014-2015 tại trường Tiểu học Phan Đình Phùng- Huyện Krông Păk- Tỉnh
Đăk Lăk.
Tổng số học sinh là 24 em, đến từ các vùng miền khác nhau.
Khảo sát bài viết chính tả từ tuần 1 đến tuần 15
- Để thực hiện đề tài này, tôi đã sử dụng rất nhiều phương pháp, song phương
pháp chính và chủ yếu là:
Tham khảo tài liệu: (các tài liệu tham khảo liên quan tới vấn đề chữ viết của
Tiếng Việt)
2. Phương pháp điều tra, tiếp cận và trò chuyện cùng với học sinh.
Khảo sát dựa trên hình thức trao đổi trực tiếp với học sinh để phát hiện các lỗi
sai khi nói, vì trong thực tế học sinh thường “Nói sao thì viết vậy”, Nghĩa là đối
tượng học sinh Tiểu học thường là “nói sai thì viết cũng sai”.
3. Phương pháp thống kê phân loại:
Sau khi đã điều tra, khảo sát thực tế các bài viết của học sinh từ tuần 01 đến
tuần 15, tôi tiến hành thống kê tất cả các lỗi đó.
Phân loại, so sánh từng bài để chọn những lỗi sai có tần suất cao và mang tính
điển hình nhất.
4. Phương pháp đánh giá:
Tìm nguyên nhân dẫn đến tình trạng viết sai lỗi chính tả.
Hướng khắc phục và biện pháp khắc phục nhằm nâng cao hiệu quả dạy học phân
môn chính tả ở trường Tiểu hoc.
BCD!E
• Liệt / liệc/ niệt
• Giúp đỡ/ giúp đở/ dúp đở
• Liền/ niền
B,-Z“Cháu nghe câu chuyện của bà”
• Về/ dề
• Chân/ châng
4
• Lưng/ nưng
• Cụ già/ cụ dà
• Dẫn đi/ dẩn đi
• Lối/ nối
• Lạc/ nạc
• Rưng rưng/ dưng dưng
B,-“Truyện cổ nước mình”
• Truyện cổ/ chuyện cổ
• Sâu xa/ xâu xa/ xâu sa
• Cách/ cắt
• Phật tiên/ phậc tiêng
• Nghe/ nge
• Cuộc sống/ cuộc xống
• Trắng/ chắng
• Con sông/ coong xông
• Nhận / nhậng
B,-“Những hạt thóc giống”
• Nhà vua/ nhà dua
• Luộc kĩ/ nuộc kỉ
• Lẽ nào/ nẽ nào/ nẽ lào
• giống/ Giống
B,-[“Người viết chuyện thật thà”
• hè/ Hè
• Vai trần/ dai trầng
• Bóng nhẫy/ bóng nhẩy
• Diễn kịch/ diển kịt
• Tắt/ tắc
B,-“Chiều trên quê hương”
• Mây trắng/ mây chắng
• Đuổi/ đủi
• Trời xanh/ trời xăn
6
• Tiếng hót/ tiếng hoóc
• Tha thiết/ tha thiếc
• Khiến/ khiếng
• Mình/ mừn
• sen/ Sen
• Chó săn/ chó săng
• Chạy lại/ chại nại
• Phách/ phắt
• khoái/ Khoái
• Gian dối/ dan dối
2G_H((&I(4&56=>-%&A(&+;%M@&'%<-(&7,%9%&:&L%4&`%
2G_H((&I(4&56=>-%&A(&+;%M@&'%<-(&
Trường Tiểu học Phan Đình Phùng là một trường nằm ngay trung tâm
xã EaKly- huyện Krông Păc- tỉnh Đăc lăc. Các em học sinh là con em thuộc các
gia đình ở khắp các vùng miền về đây sinh sống,dẫn đến việc học sinh viết sai lỗi
chính tả theo nhiều cách khác nhau. Có thể dẫn ra bốn nguyên nhân chính của việc
viết sai lỗi chính tả là do:
- Lỗi do học sinh không hình thành một cách rõ ràng, biều tượng âm
thanh, chưa nắm vững quy tắc chính tả, chữ cái ghi âm tiết.
chính tả, nhất là sai phụ âm đầu, lỗi rất phổ biến là sự lẫn lộn giữa các âm đầu như:
l /n; ch / tr; x / s; r /d /gi, v/d, c/k/qu.
2.3 Về âm chính:
Có 2 nguyên nhân gây ra sự lẫn lộn về âm chính trong các vần :
- Nguyên nhân thứ nhất là do sự phức tạp của chữ quốc ngữ: Nguyên âm /ă/
lại được ghi bằng chữ a trong các vần ay, au, các nguyên âm đôi /ie, ươ, uô, âm
đệm /w/ lại được ghi bằng 2 con chữ u và o
- Nguyên nhân thứ hai là do cách phát âm lẫn lộn trong phương ngữ Nam –
Trung bộ đối với các âm chính trong hầu hết các vần trên.
Ví dụ:
+ ai/ay/ây: bàn tay /bàn tai/ bàn tây,…
+ ao/au/âu: hôm sau/ hôm sao/ / hôm sâu,…
+ iu/êu/iêu: chiều chuộng/ chìu chuộng/ chều chuộng/,…
+ oi/ôi/ơi: noi gương /nôi gương/ / nơi gương,…
+ ăm/âm: con tằm/ con tầm,…
8
+ am/ ôm: đi làm/ đi lồm /,…
+ im/iêm/êm/em: lim dim/ liêm diêm/ lêm dêm/ lem dem,…
+ ăp/âp: trùng lặp /trùng lập,…
+ ip/iêp/êp/ep: thiệp cưới /thệp cưới/ thịp cưới/ thẹp cưới/,…
+ ui/uôi: buổi / bủi /,…
+ um/uôm: nhuộm áo/ nhụm áo,…
+ ưi /ươi: trái bưởi/ trái bửi/,…
+ ưu/ ươu: ốc bươu/ ốc bưu,…
2.4 Về âm cuối:
Phương ngữ Miền Nam nói chung không phân biệt các vần có âm cuối
n/ng/nh và t/c/ch. Mà số chữ mang các vần này không nhỏ. Mặt khác hai bán âm
cuối i,u/ lại được ghi bằng 4 con chữ i/y (trong: lai/lay), u/o (trong: lau/lao) do đó
lỗi về âm cuối là lỗi khó khắc phục đối với học sinh khu vực phía Nam. Các em
Khắc phục lỗi chính tả bằng phương pháp luyện chính âm. Giáo viên phải
hết sức kiên trì từ phần luyện phát âm đúng cho bản thân mình, khắc phục những
lỗi sai trong phát âm do ảnh hưởng của phương ngữ, cho đến khâu luyện tập, sửa
chữa và uốn nắn chính âm cho học sinh.
Thường xuyên tổ chức các cuộc thi “ Giữ vở sạch, chữ viết đẹp” trong học sinh.
Giáo viên cần phải biết sử dụng, khai thác tối đa phương pháp ngữ âm học tiếng
Việt vào việc phân loại lỗi chính tả, nắm được đặc điểm của từng loại lỗi, biết xây
dựng các quy tắc chính tả để giúp học sinh ghi nhớ cách viết một cách có hệ thống.
Ngoài ra khi dạy chính tả cho học sinh cần chú ý thường xuyên nhắc nhở các em
phân biệt chữ in và chữ viết thường. Học sinh chỉ viết hoa chữ cái ở đầu câu, đầu
mỗi đoạn và tên riêng chỉ người, địa danh, không để học sinh viết hoa tùy tiện.
`+&Q%d6c+</U-F(4&94%&A(&<@G)I_
3.1 Luyện phát âm theo hệ thống âm chuẩn:
- Muốn học sinh viết đúng chính tả, giáo viên phải chú ý luyện phát âm cho học
sinh để phân biệt các thanh, các âm đầu, âm chính, âm cuối vì chữ quốc ngữ là chữ
ghi âm - âm thế nào, chữ ghi lại thế ấy.
- Việc rèn phát âm không chỉ được thực hiện trong tiết Tập đọc, mà được thực
hiện thường xuyên, liên tục, lâu dài trong tất cả các tiết học như Chính tả, Luyện từ
và câu, Tập làm văn,vv…
10
- Với những học sinh có vấn đề về mặt phát âm (nói ngọng, nói lắp,…), giáo viên
lưu ý học sinh chú ý nghe giáo viên phát âm để viết cho đúng. Vì vậy, giáo viên
phải cố gắng phát âm rõ ràng, tốc độ vừa phải, mới có thể giúp học sinh viết đúng
được.
3.2 Phân tích, so sánh:
- Với những tiếng khó, giáo viên áp dụng biện pháp phân tích cấu tạo tiếng, so
sánh với những tiếng dễ lẫn lộn, nhấn mạnh những điểm khác nhau để học sinh ghi
nhớ.
Ví dụ: Khi viết tiếng “muống” học sinh dễ lẫn lộn với tiếng “muốn”, giáo
âm đầu k,gh,ngh chỉ kết hợp với các nguyên âm i, e,ê,iê. Ngoài ra, giáo viên có thể
cung cấp thêm cho học sinh một số mẹo luật khác như:
+ Để phân biệt âm đầu tr/ch: Đa số các từ chỉ đồ vật trong nhà và tên con vật
đều bắt đầu bằng ch, ví dụ: chăn, chiếu, chảo, chổi, chai, chày, chén, chum,
chạn, chõ, chĩnh, chuông, chiêng, choé,… chồn, chí, chuột, chó, chuồn chuồn,
châu chấu, chào mào, chiền chiện, chẫu chàng, chèo bẻo, chìa vôi…
+ Để phân biệt âm đầu s/x: Đa số các từ chỉ tên cây và tên con vật đều bắt đầu
bằng s: Sả, si, sồi, sứ, sung, sắn, sim, sao, su su, sầu đâu, sa nhân, sơn trà, sặt,
sậy, sấu, sến, săng lẻ, sầu riêng, so đũa… sam, sán, sáo, sâu, sên, sếu, sò, sóc,
sói, sứa, sáo sậu, săn sắt, sư tử, sơn dương, san hô…
+ Luật “bổng - trầm”: Trong các từ láy điệp âm đầu, thanh (hay dấu) của 2 yếu tố
ở cùng một hệ bổng (ngang/sắc/hỏi) hoặc trầm (huyền/ngã/nặng). Để nhớ được 2
nhóm này, giáo viên chỉ cần dạy cho học sinh thuộc 2 câu thơ:
Em Huyền mang nặng, ngã đau
Anh Ngang sắc thuốc, hỏi đau chỗ nào
Nghĩa là đa số các từ láy âm đầu, nếu yếu tố đứng trước mang thanh huyền,
nặng, ngã thì yếu tố đứng sau sẽ mang thanh ngã, nếu yếu tố đứng trước mang
thanh ngang, sắc, hỏi thì yếu tố đứng sau sẽ mang thanh hỏi (hoặc ngược lại).
Ví dụ:
“Bổng”:
Ngang + hỏi: Nho nhỏ, lẻ loi, trong trẻo, vui vẻ…
Sắc + hỏi: Nhắc nhở, trắng trẻo, sắc sảo, vắng vẻ…
Hỏi + hỏi: Lỏng lẻo, thỏ thẻ, hổn hển, thủ thỉ, rủ rỉ…
“Trầm”:
Huyền + ngã: Sẵn sàng, lững lờ, vồn vã
12
Nặng + ngã: Nhẹ nhõm, đẹp đẽ, mạnh mẽ, lạnh lẽo,…
Ngã + ngã: Dễ dãi, nghễnh ngãng, nhõng nhẽo…
+ Để phân biệt các vần dễ lẫn lộn:
13
1+ ^
1+Z
1+ Z
1+
1+[
B,-&'%KW+K@
Có được kết quả trên là cả một quá trình nỗ lực hết mình của cả thầy và trò, bản
thân là một giáo viên tôi thấy việc phát hiện lỗi chính tả, thống kê, tìm nguyên
nhân gây lỗi, từ đó đưa ra các biện pháp khắc phục là rất cần thiết, không thể thiếu
trong quá trình dạy - học Tiếng Việt. Nhưng không phải chỉ đưa ra các biện pháp
khắc phục là có thể thực hiện một cách có hiệu quả ngay được. Sửa chữa, khắc
phục lỗi chính tả là cả một quá trình lâu dài, đòi hỏi người giáo viên phải kiên trì,
bền bỉ, không được nóng vội. Bởi vì có những học sinh tiến bộ ngay trong vài tuần
nhưng cũng có những học sinh thì sự tiến bộ diễn ra rất chậm, không phải vài tuần,
có khi vài tháng, thậm chí cả một học kỳ. Nếu giáo viên không biết chờ đợi, nôn
nóng thì chắc chắn sẽ thất bại.
- Ngay từ khi các em mới bắt đầu “làm quen- Cần coi trọng việc đọc đúng, vì
có đọc đúng thì mới viết đúng.
- Việc luyện viết từ khó trong giờ chính tả là khâu quan trọng không thể
thiếu. Ngay từ khi các em mới bắt đầu “làm quen” với Tiếng Việt, giáo viên nên
hướng dẫn các em thật tỉ mỉ về các quy tắc chính tả, quy tắc kết hợp từ, quy tắc ghi
âm chữ quốc ngữ,… tránh trường hợp học sinh vì thiếu hiểu biết dẫn đến sai sót.
- Trong quá trình giảng dạy, giáo viên luôn quan sát, kiểm tra, từ đó phát hiện
ra những khó khăn, vướng mắc, hoặc những lỗi mà học sinh hay mắc phải để kịp
thời sửa chữa, uốn nắn.
- Những lỗi học sinh Tiểu học mắc phải trong khi viết chính tả hoàn toàn có
thể khắc phục được bằng việc giáo viên đọc chuẩn và kiên trì giúp học sinh luyện
viết. Muốn vậy khi dạy chính tả cho học sinh , giáo viên cần lưu ý:
- Đối với chính tả nghe- viết , giáo viên phải đọc rõ ràng, phát âm chuẩn, tốc
Qua việc thống kê, và thực nghiệm đề tài “sửa lỗi chính tả của học sinh lớp
4B”tôi đã nắm được các dạng lỗi chính tả phổ biến, nguyên nhân sai lỗi và một số
cách khắc phục lỗi. Trên cơ sở đó tôi xin mạo muội có một số ý kiến kiến nghị
nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy học chính tả như sau:
q/-7N-(&,+K0P(27,2-9$7-H(2-;(2#5_
- Nhà trường có hướng triển khai chuyên đề bồi dưỡng trình độ chuẩn về bốn kĩ
năng nghe, nói, đọc, viết cho đội ngũ giáo viên, để thông qua đó tạo ra một sự
15
thống nhất chung về chính âm, chính tả. Chú trọng thỏa đáng những vấn đề chính
âm trong nhà trường.
- Có kế hoạch bồi dưỡng thường xuyên về chính âm, chính tả để tháo gỡ vướng
mắc cho giáo viên.
- Mặt khác giáo viên phải tự mình kiên trì rèn luyện phát âm để khắc phục những
lỗi sai sót phát âm do ảnh hưởng của địa phương.
- Thường xuyên phối hợp chặt chẽ với gia đình học sinh,cũng như tất cả các đoàn
thể trong nhà trường để tạo cho học sinh có thói quen phát âm đúng và viết đẹp
trong tất cả mọi hoạt động.
- Tổ chức các phong trào, các cuộc thi chữ viết cho giáo viên vaø hoïc sinh hàng
năm.
- kết hợp kĩ năng viết đúng, đẹp cho học sinh qua các môn học khác, có như thế
học sinh mới nhớ lâu các quy tắc chính tả.
- Giáo viên phải lập bảng thống kê các chữ cần luyện ở lớp mình đang dạy để có
kế hoạch sửa lỗi cụ thể, chặt chẽ và có kết quả.
Dr!e
1/ Chuyên đề Giáo Dục Tiểu Học, tập 20 – 2006.
2/ Hoàng Văn Thung – Đỗ Xuân Thảo (2002), Dạy học chính tả ở Tiểu học, NXB
Giáo Dục
3/ Phó Giáo sư – Tiến sĩ Lê A - Chữ viết và dạy chữ viết ở Tiểu học, NXB ĐHSP