MỘT HƯỚNG TIẾP CẬN TÁC PHẨM VĂN HỌC TRUNG ĐẠI Ở TRƯỜNG THCS - Pdf 26

CHUYÊN ĐỀ: MỘT HƯỚNG TIẾP CẬN TÁC PHẨM
VĂN HỌC TRUNG ĐẠI Ở TRƯỜNG THCS
PHẦN MỞ ĐẦU
PHẦN II.
NỘI DUNG
CƠ SỞ LÝ LUẬN KHOA HỌC
Chương I : KHÁI QUÁT VỀ VĂN HỌC VIẾT TRUNG
ĐẠI TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN Ở
TRƯỜNG THCS
Chương II :NGUYÊN TẮC LỊCH SỬ KHI PHÂN
TÍCH, ĐÁNH GIÁ TÁC PHẨM.
Chương III. VÍ DỤ MINH HỌA
Chương IV . GIẢI PHÁP MỚI
PHẦN III. KẾT LUẬN PHẦN MỞ ĐẦU
Lý luận dạy học khẳng định: nhà giáo là người có ảnh hưởng quyết định
đối với tất cả những đổi mới về nội dung và phương pháp dạy học.Theo đó người
thầy đóng vai trò chủ đạo trong việc tổ chức, điều khiển định hướng, thiết kế quá
trình dạy học, giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ , thể chất, thẩm
mĩ và các kĩ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động sáng tạo,
Hiện nay, trong nhà trường phổ thông nói chung, trường THCS nói riêng,
cùng nằm trong yêu cầu đổi mới dạy học, việc đổi mới dạy học môn Văn đang
được triển khai rất sâu rộng. Cũng như các môn học khác trong trường THCS, đổi
mới dạy học Văn được tiến hành một cách đồng bộ với yêu cầu đổi mới toàn diện:
từ đổi mới phương pháp, đổi mới nội dung đến đổi mới việc kiểm tra, đánh giá học
sinh. Đổi mới phương pháp dạy học văn trên cở sở đáp ứng những yêu cầu: bám
sát chuẩn kiến thức kĩ năng, phát huy tính tích cực tự giác chủ động sáng tạo của
người học, chú ý đến mối quan hệ giáo viên- học sinh, học sinh- học sinh, chú
trọng rèn luyện các kĩ năng cơ bản nghe - nói- đọc- viết cho học sinh.

vào việc tìm hiểu tác phẩm văn học lại là một vấn đề không phải dễ. Lí luận văn
học khẳng định: văn học bắt nguồn từ đời sống. Văn học Việt Nam nói chung và
văn học Trung đại nói riêng luôn đồng hành cùng những bước thăng trầm của lịch
sử dân tộc- “ xã hội nào thì văn nghệ ấy”, hay nói cách khác “ Văn học nghệ thuật
là tấm gương phản ánh trung thành thời đại”, nhà thơ Chế Lan Viên nói một cách
hình ảnh:
“ Bài thơ anh, anh làm một nửa
Còn một nửa cho mùa thu làm lấy”- ( Sổ tay thơ)
Thế nhưng trong thực tế dạy và học văn, việc gắn tác phẩm văn học với
hoàn cảnh lịch sử ra đời của nó đôi khi còn rất mờ nhạt. Người dạy và cả người
học thường lướt qua hoàn cảnh ra đời của tác phẩm, coi đó là thông tin bên lề và
trong suốt quá trình tiếp cận, bình giá hoàn toàn tách rời nó ra khỏi văn cảnh xuất
hiện. Đó là một trong những nguyên nhân quan trọng khiến tác phẩm sau khi được
phân tích, tìm hiểu vẫn không lưu lại lâu bền trong tâm trí học sinh, nhất là những
tác phẩm đã có thời gian ra đời cách chúng ta khoảng thời gian rất lớn. Bởi thế tôi
chọn giới thiệu một hướng khai thác, tiếp cận tác phẩm văn học Trung đại để cùng
trao đổi là: “Vận dụng nguyên tắc lịch sử vào giảng dạy tác phẩm văn học trung
đại thuộc chương trình Ngữ văn THCS”. Định hướng của chuyên đề nhằm cố
gắng tiếp cận với một nguyên tắc phân tích tác phẩm văn học có tính khoa học cao
và nhiều khả năng ứng dụng vào việc dạy văn học trong trường THCS nói chung ,
phần văn học Trung đại Việt Nam nói riêng.
PHẦN II. NỘI DUNG
I . CƠ SỞ LÝ LUẬN KHOA HỌC:
Nguyên tắc lịch sử trong dạy học văn xuất phát từ đặc trưng căn bản của tác
phẩm văn học nói chung. Cụ thể:
3.1.Tác phẩm văn học là tấm gương phản ánh xã hội lịch sử đương thời, quy
luật này nằm ngoài ý muốn chủ quan của nhà văn. Có nghĩa là, dù muốn hay
không, dù bất kỳ đề tài sáng tác nào, nhà văn vẫn sẽ đưa cái hồn của lịch sử đương
đại, của thời đại mình vào tác phẩm một cách vô thức. Bởi lẽ, văn học vốn căn bản
xuất phát từ yêu cầu lịch sử của bản thân từng xã hội.

TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN Ở TRƯỜNG THCS.
I.Sự hình thành của dòng văn học viết
- Văn học viết xuất hiện vào khoảng thế kỉ X do tầng lớp trí thức biết chữ hán
có tinh thần dân tộc, yêu nước đóng vai trò chủ chốt.
- Văn học viết ra đời cùng với văn học dân gian đã hoàn chỉnh diện mạo của
nền văn học dân tộc.
II. Tiến trình phát triển:
VHTĐ VN hình thành và phát triển trong bối cảnh văn hóa xã hội phong kiến, chịu
ảnh hưởng sâu sắc của ý thức hệ phong kiến nên có những nét riêng biệt về thể
loại, thi pháp…. là nơi lưu giữ và toả chiếu những tinh hoa và bản sắc của tâm hồn
dân tộc. Phát triển qua 4 giai đoạn (cách chia mang tính tương đối )
1,Giai đoạn 1: từ thế kỉ 10 đến thế kỉ 15
a) Hoàn cảnh lịch sử
- Đất nước tiếp tục công cuộc dựng nước và giữ nước
- Giai cấp phong kiến tiếp tục phát huy vai trò tích cực, đoàn kết với nhân dân
và lãnh đạo toàn dân đánh thắng giặc Tống(11), Nguyên (13), Minh(15)và xây
dựng một nền văn hóa giàu tính truyền thống.
b)Văn học:
- Sự xuất hiện của văn học viết bằng chữ Hán và chữ Nôm.
Thể loại tiêu biểu: Chiếu , Hịch, Cáo, Thư.
Nội dung: Âm hưởng chủ đạo là tinh thần yêu nước và lòng tự hào dân tộc với
những biểu hiện cụ thể:Yêu mến tự hào, nhiệt tình ca ngợi vẻ đẹp non sông đất
nước và bản sắc văn hoá lâu đời, truyền thống chống ngoại xâm anh hùng của
cha ông, đề cao lòng tự tôn, ý thức tự chủ; có lòng căm thù giặc sâu sắc tố cáo
tội ác của giặc; có ý chí quyết chiến quyết thắng kẻ thù cao độ; đề cao những võ
công oanh liệt biểu dương sức mạnh đoàn kết; nêu cao tư tưởng nhân nghĩa
khát vọng về một nền thái bình muôn thủa.
2,Giai đoạn 2: Từ thế kỉ 16 đến nửa đầu thế kỉ 18
a) Hoàn cảnh lịch sử: giai cấp phong kiến bắt đầu xuất hiện những mâu thuẫn
nội tại; đời sống nhân dân vô cùng khổ cực, đất nước bị chia cắt thành đàng

nền văn hóa dân tộc được kết tinh từ lịch sử hàng nghìn năm đầy vẻ vang và nhiều
biến động của lịch sử dân tộc. Đây vẫn luôn là mảng tác phẩm được cả người dạy
và người học coi là khó nhất trong chương trình văn học cấp THCS nói chung.
Việc tiếp nhận các tác phẩm này khó khăn ở rất nhiều yếu tố:
Trước hết, cái khó khi dạy và học những tác phẩm văn học viết trung đại ở
chính ngay trong thời gian ra đời của những tác phẩm đó. Lịch sử lâu đời của tác
phẩm, hoàn cảnh xã hội lịch sử quá xa mà tác phẩm hình thành và phản ánh đã gây
cho cả người dạy và người học những khó khăn rất lớn. Tất cả những gì được phản
ánh trong các tác phẩm văn học cổ đều ít nhiều là sự phản ánh những biến động, sự
kiện lịch sử cụ thể, phản ánh cuộc sống, suy nghĩ quan niệm của những con người
trong lịch sử.
Hơn nữa, quan điểm thẩm mỹ, nghệ thuật của những tác giả thời phong kiến
cũng đã ít tồn tại đến ngày nay. Hệ thống quan niệm về cái đẹp, quan niệm sống,
cách nhìn nhận đánh giá con người, xã hội đều mang dấu ấn đậm nét của quan
niệm phong kiến, dĩ nhiên càng phức tạp hơn vì nó có thêm dấu ấn của mỗi thời
đại, tuỳ thuộc vào sự thịnh suy của lịch sử mỗi thời.
Thêm nữa, cái khó của những tác phẩm này còn nằm trong thể tài, hình thức
biểu hiện của mỗi tác phẩm.Tất cả, từ chữ viết, từ ngữ, thể văn, phương thức diễn
đạt, đều ít nhiều khá xa lạ .Mặt khác, theo quan niệm trước đây, văn học và sử học
hầu như không có sự phân biệt, nhất là ở thể văn xuôi và văn biền ngẫu. Điều này,
thể hiện rất rõ trong quan niệm “ văn, sử bất phân” .Việc nắm được các đặc điểm
thể loại mang nhiều tính lịch sử này là tương đối khó khăn.
Do đó, tất cả, từ hoàn cảnh xã hội lịch sử, cuộc sống quan niệm thẩm mỹ của
người xưa, đặc điểm nghệ thuật của dòng văn học cổ, những vấn đề mang tính lịch
sử này, đều đòi hỏi phải được nghiên cứu, tìm hiểu, lấy đó làm cơ sở đánh giá,
phân tích, tiếp nhận tác phẩm văn học.
III. Cái nhìn lịch sử khi nghiên cứu, tiếp cận tác phẩm VHTĐ:
Việc tiếp nhận các tác phẩm văn học nói chung, đặc biệt là với các tác phẩm
có lịch sử lâu đời như các tác phẩm văn học viết Việt Nam trung đại thì việc xác
định cho mình một cái nhìn lịch sử từ ban đầu, bao quát lên toàn bộ tác phẩm là hết

hạn chế của nội dung tác phẩm.
Khi áp dụng nguyên tắc lịch sử để tìm hiểu nội dung một số tác phẩm,
chúng ta cần tập trung vào giải quyết một số vấn đề có tính câu hỏi sau:
1. Thứ nhất : Đề tài tác phẩm được xây dựng như thế nào? Nó có theo sát
được những sự kiện lịch sử đương đại không?
Tuy đề tài không phải là vấn đề then chốt của tác phẩm, bởi dù mượn cảnh
nào, người nào hay vật nào để phản ánh thì mục đích cuối cùng vẫn là chủ đề, là
giá trị tư tưởng mà tác giả muốn trình bày. Nhưng nếu đặt đề tài trong mối liên hệ
với tình hình lịch sử xã hội , nhận ra mối liên quan giữa chúng , vẫn sẽ giúp người
học hiểu được sự sát thực, thái độ muốn phản ánh trung thực hiện thực của tác giả,
hơn nữa hiểu được một cách cụ thể về các sự kiện, cảnh, người của thời đại cũ.
Bên cạnh đó, việc tìm hiểu đề tài của tác phẩm đặt trong mối quan hệ với hoàn
cảnh lịch sử xã hội cũng giúp nhận xét được cách thức phản ánh của tác phẩm
( trực tiếp hay gián tiếp)
Theo đó, ta thấy ngay rằng hầu hết các tác phẩm thể văn xuôi ( truyện, ký,
tiểu thuyết chương hồi) và thể văn biền ngẫu ( hịch, cáo) và tác phẩm trữ tình đều
có lối phản ánh đề tài trực tiếp, chỉ có một số ít các tác phẩm mượn đề tài gián tiếp
( tiêu biểu như: Chuyện người con gái Nam Xương ( Nguyễn Dữ)- mượn chuyện
cuối thế kỷ XIV đầu thế kỷ XV để nói về hiện thực thế kỷ XVI, hay như bài Bánh
trôi nước ( Hồ Xuân Hương)– mượn chuyện cái bánh trôi để phản ánh thân thế
của người phụ nữ xưa).
Qua cách phân tích đối chiếu này, chúng ta giúp học sinh tiếp nhận một cách
trực tiếp về bức tranh lịch sử thời đại được phản ánh trong các tác phẩm, giúp các
em hiểu cụ thể hơn, rõ ràng hơn, dễ hình dung hơn về thời đại đó (Ví dụ như hiểu
được tường tận trận đánh, sự lớn mạnh của nghĩa quân Lam Sơn, các việc làm cụ
thể của Lê Lợi, Nguyễn Trãi khi đọc Bình Ngô Đại Cáo ( Nguyễn Trãi), hay như
việc được xem lại gần như khá hoàn chỉnh về cuộc tấn công ra Bắc của Nguyễn
Huệ khi đọc Hồi thứ 14 Hoàng Lê nhất thống chí ( Ngô gia văn phái). Nhìn thấy
gần như tường tận cảnh cung điện, cuộc sống của chúa Trịnh khi đọc đoạn trích
Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh- Phạm Đình Hổ). Những kiến thức thu lượm được

Đến giai đoạn thế kỷ XVI - nửa đầu thế kỷ XVIII, xã hội phong kiến Việt
Nam đã đi vào thời kỳ thoái trào, tư tưởng phong kiến không còn được tôn trọng,
chiến tranh xảy ra liên miên giữa các tập đoàn phong kiến, đời sống nhân dân vô
cùng cực khổ, mối quan hệ giữa người với người không còn tốt đẹp, nhiều nhà nho
muốn tìm đến cuộc sống ẩn đạt thanh cao. Tuy nhiên đây cũng chưa phải là giai
đoạn khủng hoảng trầm trọng của chế độ phong kiến Việt Nam. Đó là những vấn
đề nổi cộm nhất của thời kỳ này. Từ những nhận định như thế, ta có thể thấy ngay
là các tác Chuyện người con gái Nam Xương (Nguyễn Dữ) đã phản ánh rất kịp
thời những vấn đề trên. Hơn thế, đề tài người phụ nữ thời phong kiến đầy đau khổ,
chịu cảnh bất công của lễ giáo phong kiến lần đầu tiên được phản ánh một cách sâu
sắc và chân thực trong tác phẩm văn học viết qua những tác phẩm của Nguyễn Dữ(
không chỉ qua Chuyện Người con gái Nam Xương mà còn qua rất nhiều tác
phẩm khác trong tập Truyền kỳ mạn lục). Rõ ràng, với những vấn đề như thế, các
tác phẩm của Nguyễn Bỉnh Khiêm và Nguyễn Dữ đã thể hiện được sự quan tâm,
cập nhật đến những vấn đề nóng bỏng nhất của thời đại.
Trong hai giai đoạn văn học sau ( nửa sau thế kỉ 18 đến nửa đầu thế kỉ 19)
Đây là thời kì bão táp sôi động nhất của phong kiến Việt Nam. Chế độ
phong kiến khủng hoảng trầm trọng, đời sống nhân dân vô cùng cực khổ ,khởi
nghĩa nông dân nổi lên khắp nơi.Nói một cách hình ảnh thì đây chính là thời kì mà
những ung nhọt già nua của xã hội phong kiến bắt đầu kịch phát. Xác định được
như vậy ta sẽ thấy hầu hết các tác phẩm trong giai đoạn này đều mang âm hưởng
chung là chủ nghĩa nhân đạo: Trân trọng ngợi ca vẻ đẹp hình thể, tài năng, đức
hạnh của con người; lên án, tố cáo những thế lực phong kiến bạo tàn; đồng cảm
sâu sắc với những bi kịch của con người; đồng tình với những ước mơ ,khát vọng
chân chính của con người.
Tương tự như vậy ở giai đoạn nửa sau thế kỉ 19 đến hết thế kỉ 19 chúng ta
cũng tìm hiểu về thời đại lịch sử với những vấn đề xã hội, lịch sử nổi bật. Đối
chiếu giữa vấn đề trong tác phẩm với những vấn đề của thời đại nhằm đánh giá về
việc lựa chọn vấn đề của tác phẩm theo các tiêu chí : có thể hiện được vấn đề nổi
bật nhất của thời đại không ? Phản ánh vấn đề sâu sát và chân thực không?Tác giả

giá trị nhân văn cũng là những vấn đề mang đậm dấu ấn của lịch sử thời đại.
Nhìn chung trong các tác phẩm văn học, tư tưởng, quan niệm của nhà văn
thường được thể hiện rõ trong chủ đề của tác phẩm. Nhưng như phần trên đã nói,
không phải tác phẩm nào cũng có cách giải quyết vấn đề theo lối đưa ra những
mâu thuẫn, tình huống và giải quyết. Đó chỉ là cách giải quyết đặc trưng của văn tự
sự. Còn đa số tác phẩm thường chọn cách giải quyết vấn đề một cách trực tiếp
thông qua chủ đề tư tưởng, cảm xúc của tác phẩm, mà nói chính xác thì chính là
suy nghĩ, quan niệm của nhà văn.
Tương tự như thế, ta có thể thấy được tầm cao tư tưởng và giá trị nhân đạo rất
đáng khâm phục trong các tác phẩm viết về người phụ nữ của Hồ Xuân Hương. Rõ
ràng, quan niệm giải phóng người phụ nữ, đấu tranh cho những quyền cơ bản là
quyền được sống tự do, được mưu cầu hạnh phúc của người phụ nữ giữă lúc mà lễ
giáo phong kiến đang rất nặng nề là một tư tưởng rất táo bạo, dũng cảm và tiến bộ
của nhà thơ.
II. Nguyên tắc lịch sử trong đánh giá nghệ thuật của tác phẩm.
Trong phần trên, việc vận dụng nguyên tắc lịch sử trong đánh giá nội dung tác
phẩm, tư tưởng, quan niệm của tác giả, ta đều lấy căn cứ từ hoàn cảnh lịch sử xã
hội giai đoạn tác phẩm ra đời, trên cơ sở nghiên cứu tiến trình và qui luật phát triển
của lịch sử. Thế nhưng, nếu đem những căn cứ trên đây để đánh giá về những giá
trị về nghệ thuật của tác phẩm thì lại không được. Nghệ thuật xây dựng tác phẩm là
một vấn đề tuy vẫn có quan hệ với hoàn cảnh lịch sử nhưng chỉ là quan hệ gián
tiếp. Bởi lẽ, nghệ thuật là yếu tố thứ hai, sau nội dung, đóng vai trò là cái vỏ,là
phương tiện để diễn tả nội dung, nội dung phụ thuộc vào lịch sử, vào xã hội thì
đương nhiên cũng kéo theo sự biến đổi của nghệ thuật. Tuy nhiên văn học cũng có
những quy luật riêng, đặc điểm riêng đặc thù của một ngành nghệ thuật. Nó vẫn có
những biến đổi riêng không phụ thuộc vào hoàn cảnh xã hội. Có những thể koại,
những biện pháp nghệ thuật tồn tại suốt trong lịch sử văn học bất chấp những biến
cố của xã hội.
Nguyên tắc lịch sử xem xét cả hai mặt này, nghĩa là xem xét cả những biến
đổi về nghệ thuật do tác động của lịch sử xã hội, vừa xem xét những biến đổi nghệ

biểu, đánh dấu bước tiến quan trọng của nghệ thuật sáng tác trên con đường thoát li
dần ảnh hưởng của phương thức sáng tác vay mượn từ Trung Quốc:
- Về thơ lục bát: tiêu biểu nhất là tập Thiên Nam ngữ lục và thơ Nguyễn Du
- Thể thơ song thất lục bát: Chinh Phụ Ngâm ( Đoàn Thị Điểm ), Văn tế thập loại
chúng sinh ( Nguyễn Du).
- Thể hát nói: Tiêu biểu nhất là tác phẩm của Nguyễn Công Trứ.
- Thể truyện Nôm: Với nhiều tác phẩm như Thạch Sanh, Hoa tiên, Song linh bất
dạ (Khuyết danh), Lục Vân Tiên (Nguyễn Đình Chiểu , đỉnh cao là Truyện
Kiều của Nguyễn Du.
2. Sự phát triển của nghệ thuật đặt trong xu thế phát triển của lịch sử văn
học dân tộc:
Có thể coi tất cả các thành tựu vừa kể trên đều thuộc những thành tựu của
nền văn học dân tộc trong tiến trình phát triển 10 thế kỉ của mình. Bên cạnh đó,
còn có thể kể ra đây một số tác phẩm, một số thành tựu được coi là bước tiến của
lịch sử văn học dân tộc xét trên góc độ nghệ thuật sáng tác .
Sự ra đời của thể loại truyện ngắn truyền kì với tác phẩm tiêu biểu “Truyền
kì mạn lục” của Nguyễn Dữ thế kỉ XVI. Đây là một tập truyện rất có giá trị không
chỉ về mặt nội dung mà về cả mặt nghệ thuật, nó đánh dấu bước tiến của văn học
dân tộc khi lần đầu tiên một nhà văn dùng thể văn xuôi chữ Hán sáng tác các
truyện ngắn truyền kì. Không chỉ coi đây chỉ là những ghi chép thuần tuý các câu
chuyện đã được lưu truyền mà ở đây, trong mỗi tác phẩm, sự sáng tác của tác giả
là rất lớn, rất quan trọng .
Sự xuất hiện của thể loại tiểu thuyết chương hồi với tác phẩm tiêu biểu
Hoàng Lê Nhất Thống Chí của Ngô Gia Văn Phái đầu thế kỉ XIX .
Sự xuất hiện của các khúc ngâm, một thể loại độc đáo của văn học dân tộc,
với các tác phẩm tiểu biểu Chinh phụ ngâm, Cung oán ngâm.
Sự xuất hiện của các truyện thơ lục bát ( truyện nôm) với các tác phẩm
khuyết danh và có tác giả mà đỉnh cao là Truyện Kiều .
Chương III: VÍ DỤ MINH HỌA:
Áp dụng vào một số tác phẩm được dạy trong chương trình ta có thể thấy rất

không thể tha thứ).
Tương tự như vậy khi vận dụng nguyên tắc lịch sử vào đánh giá nghệ thuật
tác phẩm học sinh có thể chỉ ra những nét độc đáo về nghệ thuật:
- Thể loại truyền kì- đánh dấu bước tiến của nền văn học dân tộc khi lần
đầu tiên nhà văn dùng thể văn xuôi chữ hán sáng tác truyện ngắn truyền kì.
-Nghệ thuật kể truyện sinh động, sáng tạo tình huống,kết hợp yếu tố
hiện thực và yếu tố hoang đường
2. Trong " Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh"- Phạm Đình Hổ.
*Tính lịch sử thể hiện trong đề tài tác phẩm là gì?
Tác giả đã phản ánh lối sống xa xỉ vô độ và hành vi nhũng nhiễu bạo ngược của
chúa Trịnh cùng các quan trong phủ.
* Đây có phải là vấn đề mang tính thời sự nổi cộm không?
- Cụ thể bức tranh đời sống được phản ánh qua những chi tiết nói về
việc xây đắp đền đài liên tục khắp nơi vô cùng tốn kém, các cuộc vui chơi cầu kì
với qui mô rầm rộ diễn ra thường xuyên, thói quen mặc sức thu nạp của quí hiếm
trong nhân gian của chúa và các hoạn quan. Ở đây vận dụng nguyên tắc lịch sử để
khai thác ta sẽ thấy nét chân thực về bức tranh đời sống được phản ánh qua những
chi tiết được ghi chép bằng những số liệu cụ thể, có mục đích rõ ràng theo thời
gian, không gian xác định, tên con người, địa danh xác thực. Các sự kiện được kể
tường tận, tỉ mỉ như mắt thấy tai nghe một cách trọn vẹn, có giá trị là những tư liệu
lịch sử quí giá.
3. "Hồi thứ 14- Hoàng Lê Nhất thống chí"- Ngô Gia văn phái.
* Bức tranh hiện thực cuộc sống được phản ánh qua đoạn trích này là gì ?
- Tác giả kể về cuộc hành quân ra Bắc lần thứ ba của Nguyễn Huệ đánh
đuổi hai mươi chín vạn quân Thanh. Vấn đề đặt ra trong đoạn trích là việc vua Lê
Chiêu Thống đưa quân Thanh vào nước ta, âm mưu đánh đuổi Tây Sơn.
* Cách giải quyết vấn đề của tác giả có phù hợp với xu thế phát triển của lịch
sử không?
-Với vấn đề này, các sử gia và nhà nho phong kiến bị đặt trước một tình
huống khó xử: theo ai và ủng hộ ai? Theo Lê Chiêu Thống và tán thành hành động

* Cách giải quyết vấn đề của tác giả có phù hợp với xu thế lịch sử không?
- Với việc lý giải cuộc đời đầy đau khổ của Thuý Kiều bên cạnh những
điểm tiến bộ thì Nguyễn Du không tránh khỏi những hạn chế đó là việc ông lí giải
nguyên nhân dẫn đến những đau khổ của Kiều là tại trời, tại số phận-“ Mới hay
muôn việc tại trời”. Hạn chế đó của ông có thể đánh giá là sự hạn chế về mặt tư
tưởng, hạn chế của thời đại.
Trên đây là một số vấn đề khi áp dụng nguyên tắc lịch sử vào việc đánh giá
cách lựa chọn vấn đề và giải quyết vấn đề của các tác giả văn học.
Chương IV: GIẢI PHÁP MỚI :
1- Văn học Trung đại ra đời cách đây nhiều thế kỷ các yếu tố về lịch sử, văn
hóa, quan niệm thẩm mỹ thời xưa và nay có nhiều sự khác biệt vì vậy khi tiếp cận
, đánh giá phân tích tác phẩm phải luôn gắn với bối cảnh ra đời của tác phẩm.
Giáo viên phải là người nắm chắc những yếu tố liên quan đến giá trị nội dung và
nghệ thuật của tác phẩm vận dụng khéo léo các phương pháp, phát huy tính tích
cực chủ động của học sinh trong quá trình chiếm lĩnh tác phẩm.
2- Khai thác tác phẩm cụ thể, sâu sắc cả về phương diện nội dung và nghệ
thuật. Để làm được điều đó đòi hỏi người giáo viên trong giờ dạy phải vận dụng
tối ưu những phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực phù hợp với từng kiểu bài.
3 -Thiết lập mối quan hệ biện chứng giữa ba chủ thể nhà văn- nhà giáo- học
sinh. Trong đó giáo viên là người chủ đạo tổ chức thiết kế các hoạt động học tập
của học sinh. Học sinh chủ động tích cực chiếm lĩnh tác phẩm trên cơ sở hướng
dẫn của thầy.Tác phẩm văn học luôn là đề án mở, do đó quá trình chiếm lĩnh tác
phẩm là quá trình vận động bên trong của bản thân chủ thể tiếp nhận, điều đó có
nghĩa là khi phân tích tác phẩm cả giáo viên và học sinh phải thực sự sống cùng
tác phẩm, vui cái vui cùng nhân vật, đau nỗi đau của nhân vật, những ước muốn,
những khát khao…
4 - Phân loại đối tượng học sinh ( giỏi, khá, trung bình) để lựa chọn mức độ
kiến thức cho phù hợp nhưng trên cơ sở phải đạt chuẩn kiến thức, kĩ năng.
5 - Vận dụng nguyên tắc lịch sử trong phân tích, tìm hiểu tác phẩm cũng đồng
nghĩa với việc vân dụng nguyên tắc này khi kiểm tra đánh giá học sinh theo tinh

học từ đó nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho bản thân để không ngừng
nâng cao chất lượng dạy và học .
Khi khai thác chú ý vân dụng tối ưu phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực
phù hợp đặc trưng bộ môn.
Xác lập mối quan hệ biện chứng giữa 3 chủ thể nhà văn- nhà giáo- học sinh.
Luôn coi tác phẩm văn học là một đề án mở để người dạy và người học cùng
chiếm lĩnh, khám phá tác phẩm.
Luôn có cái nhìn xuyên suốt toàn bộ tiến trình phát triển của văn học Trung đại
Việt Nam nói riêng và văn học Việt Nam nói chung để thấy được những điểm
chung, riêng, mối quan hệ kế thừa và phát triển của từng giai đoạn, từng thời kì để
có cái nhìn đầy đủ sâu sắc về diện mạo nền văn học nước nhà.

PHẦN III. KẾT LUẬN
Trên đây là một số vấn đề về việc áp dụng nguyên tắc lịch sử vào dạy các tác
phẩm văn học viết trung đại dạy trong chương trình THCS. Chuyên đề này không
đề cập đến những vấn đề thuộc vào phương pháp giảng dạy cụ thể, cũng không
phải là những vấn đề thuộc riêng về nội dung giảng dạy của chương trình văn học
trung đại THCS. Nguyên tắc lịch sử bản thân nó không phải là một phương pháp
dạy học văn cụ thể, giống như các phương pháp đọc sáng tạo, gợi mở, vấn đáp,
giảng bình hay nêu vấn đề. Nguyên tắc lịch sử đóng vai trò như một nguyên tắc
dạy học áp dụng trong việc nghiên cứu, phân tích hay dạy học văn nói chung. Có
nghĩa là, nó giống như một yêu cầu bắt buộc, một thước đo nhất thiết mỗi giáo
viên trong quá trình nghiên cứu, tìm hiểu và giảng dạy văn học phải lấy đó làm cơ
sở đánh giá, xem xét tác phẩm, một tiêu chí bắt buộc với mỗi khi ta đánh giá tác
phẩm. Nói một cách ngắn gọn nó đúng là một “nguyên tắc” của việc dạy học văn
mà không thể không theo và không áp dụng.
Việc sử dụng nguyên tắc này rõ ràng không thể nói là cụ thể dùng khi nào,
bằng cách nào, thao tác ra sao. Bởi lẽ nó xuyên suốt quá trình giáo viên và học
sinh tìm hiểu, tiếp cận tác phẩm từ bước chuẩn bị đến khâu lên lớp, giảng bài nó
thường trực trong suốt quá trình tiếp cận tác phẩm.Chỉ có thể nói nguyên tắc này


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status