Quan hệ ngoại giao Việt Nam với các nước phương Tây dưới thời vua Gia Long và vua Minh Mạng - Pdf 26

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA LỊCH SỬ B À I T H I K Ế T C H Ọ C P H Ầ N
Đề tài: QUAN HỆ NGOẠI GIAO VIỆT NAM
VỚI CÁC NƯỚC PHƯƠNG TÂY DƯỚI THỜI
VUA GIA LONG VÀ VUA MINH MẠNG
GVHD: TS. TRẦN THỊ THANH THANH
SVTT: NGUYỄN VĂN PHƯỚC
MSSV: K37.602.078
LỚP: 3B
TP.HCM, 1/2014
MỤC LỤC
I. Vấn đề ngoại giao Việt Nam giữa các nước phương Tây thời vua Gia
Long (1802 – 1820) 1
1. Bối cảnh quốc tế, khu vực và đường lối ngoại giao của Gia Long đối
với các nước phương Tây 1
2. Quan hệ của triều Nguyễn với các nước phương Tây dưới thời vua Gia
Long (1802 – 1820) 2
3. Vấn đề đạo Thiên Chúa trong quan hệ của triều Nguyễn với các nước
phương Tây thời Gia Long (1802 – 1820) 4
II. Quan hệ ngoại giao Việt Nam với các nước phương Tây dưới thời vua
Minh Mạng (1820 – 1840) 4
1. Tình hình quốc tế, khu vực và đường lối ngoại giao của Minh Mạng với các
nước phương Tây 4
2. Về quan hệ nước ta với Pháp 6
3. Trong quan hệ với Hoa Kỳ 9
4. Quan hệ ngoại giao với Trung Quốc 12
5. Vấn đề ngoại giao với các quốc gia khác 12
6. Chính sách cấm đạo của triều Nguyễn dưới thời Minh Mạng (1820 – 1840)

2
tăng cao. Các cuộc chiến tranh xâm lược thuộc địa được đẩy mạnh. Vùng
Châu Á rộng lớn là một miếng mồi ngon cho các nước đế quốc.
Trước sự bành trướng của các nước đế quốc, nhiệm vụ của các quốc gia châu
Á lúc này là bảo vệ nền độc lập dân tộc. Có rất nhiều quốc gia châu Á đã
không chống chọi được sức mạnh vũ bão của chủ nghĩa thực dân phương Tây
ngoại trừ Nhật Bản và Thái Lan sớm nhận thức được cục diện chính trị thế
giới và đã có những bước đi phù hợp để bảo vệ chủ quyền.
Bên cạnh đó, lúc bấy giờ, vấn đề tôn giáo cũng là một bài toán cho triều
Nguyễn bởi sự xâm nhập của đạo Thiên Chúa – một công cụ phục vụ đắc lực
cho sự xâm lược thuộc địa của các nước phương Tây. Các giao sĩ đã trở thành
những kẻ tiên phong cho chính quốc trong việc truyền bá, giảng đạo, núp
bóng với danh nghĩa giáo sĩ, thầy tu.
2. Quan hệ của triều Nguyễn với các nước phương Tây dưới thời vua Gia
Long (1802 – 1820)
Trong quan hệ với Pháp, sau khi lên cầm quyền, vua Gia Long đã cho những
người Pháp có công giúp cho ông ta về nhiều mặt trong cuộc chiến chống Tây
Sơn làm quan trong triều. Họ được đối đãi rất hậu, mỗi khi vào chầu vua họ
không cần phải lễ lạy mà chỉ khấu đầu năm cái.
Trong thời kỳ này, nước Pháp đang bước vào cuộc cách mạng công nghiệp,
kinh tế tư bản Pháp lúc bấy giờ đã xếp hàng thứ nhì thế giới sau nước Anh do
đó nhu cầu về nguyên liệu, nhân công, thị trường rất lớn. Ngày 25 tháng 11
năm 1801 Toàn quyền Pondichery là Charpentier de Cossigny đã đề nghị
Chính phủ Pháp cử gấp sứ thần và tàu chiến sang Việt Nam để “ký kết một
Hiệp ước liên minh hữu nghị và thương mại” với chúa Nguyễn. Tuy nhiên,
việc này đã bị gác lại.
Trên thực tế, từ năm 1802 đến 1812, do bận chiến tranh ở châu Âu, nên Pháp
không có hoạt động buôn bán gì đáng kể ở Việt Nam cũng như các nước khác
trong khu vực. Sau khi Đế chế I của Napoleon hoàn toàn sụp đổ vào năm
3

cho được đi lại buôn bán ở Đà Nẵng. Vua Gia Long lại tiếp tục từ chối nhận
4
quốc thư phẩm vật của người Anh. Tuy nhiên, Gia Long cũng chỉ thị: “từ nay
người Anh muốn đến buôn bán ở Việt Nam thì sẽ được đối xử như với người
của bất cứ nơi nào khác”.
Sau đó, phái bộ Anh tiếp tục 3 lần đưa thư xin được đặt quan hệ thông thương
nhưng đều bị vua Gia Long từ chối. Về sau, do nhu cầu mua vũ khí, người
Anh vẫn đem hàng hoá đến bán nhưng vua Gia Long vẫn giữ thái độ kỳ thị.
Nhìn chung, dưới thời vua Gia Long, nhà vua có thái độ thiện chí với các
thương đoàn người Pháp nhưng lại có thành kiến với người Anh. Nhà vua cho
họ là bọn Man Di, lòng dạ khó lường, phải ngăn ngừa từ xa do vậy việc buôn
bán với người Anh bị hạn chế.
Về phần quan hệ với Hoa Kỳ, năm 1802, một công ty tàu biển lớn của Hoa Kỳ
đã phái một chiếc tàu tên là Fame đến Việt Nam tìm kiếm nguồn hàng mới là
đường và cà phê. Ngày 21/5/1803 tàu cập cảng Đà Nẵng và đã được vua Gia
Long cấp phép buôn bán. Nhờ giấy phép của vua Gia Long, tàu chạy dọc bờ
biển tìm chỗ buông neo, buôn bán nhưng gió thổi mạnh tàu không vào được
bờ. Ngày 10/6/1803, tàu Fame rời Việt Nam đi Phi Luật Tân.
Mười sáu năm sau, cũng có nhiều tàu Mĩ đến Việt Nam và họ nhận được sự
đón tiếp tử tế từ phía quan lại Việt Nam cũng như nhân dân. Nhìn chung, tất
cả các tàu Mĩ đến Việt Nam thời kỳ này đều nhắm vào mục đích tìm kiếm thị
trường và thiết lập quan hệ giao thương với Việt Nam. Có thể nói, thời vua
Gia Long, quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ chưa phát triển.
Chúng ta cần nói thêm về hai quốc gia láng giềng là Chân Lạp và Xiêm La,
thời kỳ Gia Long cai trị cũng là thời kỳ Việt Nam khẳng định ảnh hưởng của
mình: năm Đinh Mão (1807), vua Chân Lạp là Nặc Ông Chân không theo
Xiêm La nữa mà xin về thần phục vua Việt Nam là Nguyễn Ánh, lập lệ cống
tiến mỗi 3 năm 1 lần. Ba người em của Nặc Ông Chân (Ang Chan II) là Nặc
Ông Nguyên (Ang Suguon), Nặc Ông Lem tức Nặc Ông Em (Ang Im), và
Nặc Ông Đôn (Ang Duong) muốn tranh quyền của anh mình nên sang Xiêm

nào có nhà thờ Gia Tô đổ nát thì phải đưa trình quan trấn mới được tu bổ lại,
còn việc xây dựng nhà thờ mới đều cấm chỉ”.
Vua Gia Long có thái độ và cách ứng xử mang tính dung hoà trong quan hệ
với Pháp, nhưng cương quyết và cứng rắn từ chối mọi yêu cầu từ phía nhà
nước Pháp. Ông không hề chống lại các giá trị vật chất – tinh thần phương
Tây, ông bảo vệ các truyền thống dân tộc Việt Nam. Vua Gia Long thể hiện
một đối sách ngoại giao nhu hoà, uyển chuyển qua vấn đề tôn giáo. Chính
sách ngoại giao mềm dẻo đã giúp Gia Long rất nhiều trong việc ổn định đất
nước sau một thời gian dài nội chiến.
II. Quan hệ ngoại giao Việt Nam với các nước phương Tây dưới thời vua
Minh Mạng (1820 – 1840)
1. Tình hình quốc tế, khu vực và đường lối ngoại giao của Minh Mạng
với các nước phương Tây
Vua Minh Mạng từ nhỏ vốn là người thông minh, tôn sùng Nho giáo và đặc
biệt không thiện cảm cho lắm với tôn giáo phương Tây, vì vậy Gia Long
quyết định chọn vua Minh Mạng lên nắm quyền với mong muốn làm những
việc mà ông chưa làm được.
Thời bấy giờ, tình hình trong nước và quốc tế tiếp tục có những chuyển biến
phức tạp khiến Minh Mạng có những thay đổi trong chính sách ngoại giao của
mình. Ngoài ra, vấn đề tôn giáo cũng là nhân tố tác động đến chính sách ngoại
giao của vua Minh Mạng. Núp dưới chiêu bài đi truyền giáo, các giáo sĩ
phương Tây và tôn giáo của mình ngày càng xâm nhập mạnh mẽ vào trong
nước, ảnh hưởng đến nền Nho giáo chính thống và ngày càng phục vụ đắc lực
cho chính sách xâm lược thuộc địa của các nước tư bản khiến vua Minh Mạng
lo ngại và tức giận.
Minh Mạng về cơ bản trung thành với đường lối chính trị của cha mình. Ông
tỏ ra dứt khoát trong việc khước từ người phương Tây, kể cả người Pháp.
7
Ta có thể thấy rằng, từ năm 1820 đến năm 1825, thời gian này vua Minh
Mạng mới kế vị ngai vàng, ông cần ổn định quyền lực cá nhân, ổn định triều

những nơi hiểm yếu trên bờ biển. Vua Minh Mạng cũng hiểu cần phải có sự
tăng cường thăm dò dự định của các cường quốc ở châu Âu để làm thay đổi
chính sách ngoại giao của mình. Giai đoạn 1838 – 1840 được coi là thời kỳ
định hợp tác quốc tế của vua Minh Mạng.
2. Về quan hệ nước ta với Pháp
Trong những năm đầu lên ngôi, đường lối chính trị của Minh Mạng so với
Gia Long không có thay đổi lớn. Với Pháp, nhà vua vẫn thể hiện thiện chí,
lòng biết ơn, nhưng khi tình hình quan hệ quốc tế ngày một thay đổi, nước
Pháp sau khi ổn định tình hình trong nước tìm cách nối lại những liên hệ với
Việt Nam nhằm đạt được những cam kết với nước ta trên lĩnh vực thương
mại, chính trị. Thời gian này được xem là giai đoạn hòa hoãn (1820 – 1824)
trong quan hệ giữa Việt Nam với các nước phương Tây dưới thời Minh
Mạng.
Đi theo đường lối đối ngoại của vua Gia Long đã hoạch định, Minh Mạng khi
lên ngôi vẫn đối xử nhã nhặn, hoà hoãn với Pháp. Năm 1821, J.B. Chaigneau
được vua Pháp cử sang Việt Nam dâng thư và phẩm vật của vua Luis XVIII
đồng thời xin lập thương ước. Minh Mạng cho phép người Pháp đến buôn bán
ở Việt Nam nhưng từ chối việc thành lập một thương ước giữa hai nước.
Ngay lần đầu tiên, Minh Mạng đã phủ nhận việc giao hảo với người Pháp.
Chính phủ Pháp hy vọng sẽ đạt được vài kết quả tốt về thông thương nhưng
không ngờ sứ giả của vua Pháp lại nhận được sự bất hợp tác từ triều đình
Huế.
Năm 1822, một chiếc thuyền Pháp là Cleopatre do đại tá Courson de la Ville
Hélio đến Đà Nẵng xin được tiếp kiến vua Việt Nam qua chức vụ đặc sứ của
vua Pháp. Mặc dù Chaigneau tìm mọi cách để vận động nhưng Minh Mạng
vẫn từ chối hội kiến với Courson de la Ville Hélio. Nguyên nhân là vì tàu
9
Cleopatre chở các giáo sĩ ngoại quốc và định lợi dụng không ai theo dõi sẽ thả
các giáo sĩ xuống bờ hoạt động truyền giáo.
Năm 1824, Luis XVIII lại phái hai chiếc thuyền Thétis và Esperauce đến Việt

một cam kết với triều Nguyễn. Đối với những cuộc tiếp xúc phi chính trị, vua
Minh Mạng không hề ngăn cản một cách phi lí, trường hợp nhà khoa học trẻ
người Pháp đã chững minh nhận định trên. Diar là một nhà nghiên cứu Pháp,
ông đến Việt Nam và được nhà Nguyễn cho phép tự do đi tham quan các trấn
ở miền Nam để nghiên cứu. Đối với các tàu thuyền ngoại quốc bị thiên tai,
vua có chủ trương giúp đỡ tận tình, tạo điều kiện cho họ sớm hoạt động trở
lại.
Vua Minh Mạng không kí những văn bản trên các lĩnh vực kinh tế, ngoại giao
với Pháp nhưng từ năm 1820 – 1825 việc buôn bán và truyền đạo của người
Pháp tại Việt Nam chưa hề bị ngăn cấm. Dù dè chừng và thận trọng trong
quan hệ với Pháp, nhưng Minh Mạng vẫn định hướng đường lối ngoại giao
mà Gia Long đã đề ra trong năm đầu trị vì của ông.
Từ năm 1825 – 1831, tình hình nước ta có nhiều khó khăn như: thiên tai, dịch
bệnh lan tràn. Tình trạng đói kém xảy ra làm cho xã hội rối loạn. Năm 1825,
có vụ nổi dậy tại trấn Nghệ An, qua năm 1826, người Thổ nổi lên ở Nam
Định…Phong trào nổi dậy ở miền Bắc rất mạnh đến năm 1827 triều đình mới
ổn định được. Trong nước thì khó khăn như vậy, bên ngoài lại nhiều biến cố
xảy đến với các quốc gia lân cận: Anh chiếm một phần Miến Điện…Minh
Mạng không thể không lo ngại đến các thế lực phương Tây, ông dè dặt hơn
đối với người Pháp. Ngay cả với hai người Pháp còn lại ở triều đình là
Vannier và Chagneau cũng bị một số quan lại xa lánh.
Trong năm 1825, có một chiếc tàu Pháp là Thetis tới cập bến cửa Hàn, mang
theo quốc thư và tặng phẩm của hoàng đế Pháp, nhưng vua Minh Mạng từ
chối không nhận thư và tặng phẩm. Sau đó, năm 1829, Eugene Chaigneau
được cử sang Việt Nam làm đại sứ nhưng Minh Mạng không chấp nhận.
Trong thời gian này, tòa lãnh sự Pháp tại Huế bị vô hiệu và đến năm 1830 bị
11
đóng cửa vĩnh viễn.

Năm 1830 là năm ghi nhận sự cố gắng cuối cùng của

đã gây nên sự phấn khích cho các nươc Âu - Mĩ giấc mộng bành trướng tại
châu lục rộng lớn này trở thành hiện thực gần gũi hơn với các nước phương
Tây. Triều đình Huế nhận thức nhanh chóng vấn đề trên, tiếp theo đó là sự bất
thành của việc “cấm đạo”, “bài đạo” ở trong nước, có thể nhận thấy, dù có
ngăn cản, hạn chế, việc truyền đạo vẫn cứ được tiến hành. Càng ngăn cản thì
lòng tin của giáo dân càng tăng lên, có nhiều trường hợp “tử vì đạo” xảy ra.
Vua Minh Mạng nhận thức rõ đường lối ngoại giao của mình sẽ không có
hiệu quả thực tế trong hoàn cảnh này. Tình hình mới đã đặt triều đình Huế
trước sự lựa chọn: tiếp tục đi theo con đường ngoại giao kểu phương Đông,
hoặc mở cửa tiếp xúc với phương Tây. Minh Mạng đã chọn con đường thăm
dò để “mở cửa”. Cuối năm 1839, để đối phó với tình hình biến động đang xảy
ra dồn dập xung quanh, Minh Mạng cho tăng cường phòng bị những nơi quan
yếu, hải cảng, xây nhiều đồn lũy kiên cố phòng bị các cửa biển, tăng số lượng
thuyền chiến… Điều này cho thấy Minh Mạng khi bắt đầu thăm dò để đổi
mới đường lối đối ngoại, ông vẫn có ý thức tăng cường sức mạnh phòng bị
đất nước, đề cao cảnh giác với bên ngoài. Sau đó, ông bắt đầu tiến hành các
bước thăm dò để đi đến một chính sách hợp tác với phương Tây.
Đặc biệt, Minh Mạng đã cử một sứ đoàn sang Pháp và Anh nhằm mục đích
thương thuyết và thiết lập quan hệ chính thức với hai nước này. Sứ đoàn có
nhiệm vụ làm việc để đi tới kí kết một hiệp ước liên minh chính trị - kinh tế
với Anh và Pháp mua hàng hóa. Sứ đoàn sang Pháp do quan Tư vụ Trần Viết
Xương đẫn đầu.
Tháng 11-1840, sứ đoàn Việt Nam đến Pháp, Trần Viết Xương vận động xin
gặp hoàng đế Pháp, nhưng Luis Philippe từ chối. Pháp bắt bẻ sứ thần ta không
mang quốc thư và thành phần sứ không thuộc phẩm hàm đúng hàng sứ giả.
Phía Pháp cho rằng chính sứ của ta không thể đại diện cho vua Nguyễn. Cũng
vào lúc này tại Paris đã có những ảnh hưởng không có lợi cho phái bộ. Với
những bản tường trình của các vị thừa sai đang hoạt động ở Việt Nam gửi về
13
cho Hội ngoại quốc truyền giáo ở Paris. Vài tháng trước khi phái đoàn Việt

ngoại giao chính thức đầu tiên của Hoa Kỳ được cử tới Việt Nam Nhằm thiết
lập quan hệ giao thương chính thức giữa hai nước.
Bốn năm sau, năm 1836, chính phủ Hoa Kỳ một lần nữa lại cử Edmund
Roberts tới Việt Nam. Việc này chứng tỏ chính phủ Mĩ rất chú ý tới việc
thông thương với các nước ở khu vực châu Á. Lần này tàu theo đúng quy định
của triều đình Huế đến đậu tại bán đảo Sơn Trà. Tại đây, phái đoàn tiếp xúc
với các giới chức địa phương và nhân viên của Ty thương bạc (cơ quan phụ
trách về ngoại giao). Họ cho biết phái đoàn Mĩ tỏ ra lễ phép cung kính nhưng
do bất đồng ngôn ngữ nên không hiểu ý của phái đoàn Mĩ. Các giới chức của
triều đình lúc này lại có hai khuynh hướng khác biệt, đối lập nhau, tập trung
theo hai khuynh hướng rõ rệt. Một phái gồm những quan lại thủ cựu, không
muốn quan hệ với người nước ngoài. Đại diện cho khuynh hướng này là Thị
lang nội các Hoàng Quýnh vì ông cho rằng người Hoa Kỳ vốn xảo quyệt khó
lường. Phái còn lại gồm những người từng ra nước ngoài thấy được cái lợi
của việc thông thương và nền văn minh phương Tây khuyên triều đình nên
mở rộng ngoại giao cho người Mĩ. Đại diện cho phái thứ hai là quan Thị lang
bộ Hộ Đào Tri Phú, một nhân vật từng xuất ngoại, ông có đường lối ngoại
giao mềm dẻo sáng suốt. Vua Minh Mạng có thái độ rộng rãi, hòa dịu thuận
lời yêu cầu của Đào Tri Phú, nhưng khi sứ Quảng Nam ra tới Đà Nẵng thì
Ed.Roberts bị bệnh nặng phải rời cảng.
Có thể nói sứ bộ của triều đình Huế lúc đó gồm những vị quan có tầm nhìn xa
trông rộng, có tinh thần phóng khoáng, biết nhận thức việc lợi hại trong chính
sách ngoại giao. Rất tiếc số này trong triều lại quá ít vì thế chính sách đối
ngoại dưới thời Minh Mạng gặp nhiều thiếu sót.
Về phía Mĩ, tuy hai lần sang Việt Nam không đạt kết quả gì đáng kể nhưng
phái đoàn của Ed.Roberts đã mang lại cảm tình đầu tiên, sâu đậm tại triều
15
đình Huế. Có lẽ nếu Ed.Roberts không lâm bệnh, cuộc thương thuyết có lễ sễ
tốt đẹp và nước ta giao thiệp với Mĩ sớm hơn lịch sử sau đó. Nhìn chung,
chúng ta có thể thấy, những ý định và mong muốn của phía Hoa Kỳ thiết lập

Về cuối đời, trước sự phát triển mạnh mẽ của chủ nghĩa tư bản phương Tây
vua Minh Mạng phần nào đã có những nhận thức mới. Cuối năm 1839 đầu
năm 1840, Minh Mạng đã cho người đi các nơi để tận mắt quan sát kỹ thuật
phương Tây. Đặc biệt, ông còn cử một phái đoàn sang châu Âu để xem xét
tình hình tại các nước này, dò la thái độ của các nước, trong đó cố gắng điều
đình với chính phủ Pháp nhằm đặt quan hệ hữu nghị. Tất cả những việc làm
đó chứng tỏ thái độ mềm dẻo của Minh Mạng với người phương Tây trước
tác động của tình hình thế giới và khu vực.
Vua Minh Mạng cũng đã tổ chức một phái bộ sang Anh với mong muốn thiết
lập mối quan hệ ngoại giao với nước Anh. Ngày đầu tiên đến London, sứ bộ
xin yết kiến với Thủ tướng Anh Melbourn và Bộ trưởng Palmerston. Trong
buổi tiếp xúc, Palmerson đã từ chối đặt quan hệ ngoại giao với Việt Nam.

4. Quan hệ ngoại giao với Trung Quốc
Giống như vua cha, Minh Mạng chủ trương tiếp tục triều cồng và giữ quan hệ
ngoại giao hữu hảo với nhà Thanh. Khi lên ngôi, ông đã nhận sự phong vương
của vua nhà Thanh. Tuy nhiên, các vua Việt Nam thời nhà Nguyễn duy trì
đường lối đối nội tự chủ. Theo nhận xét của giáo sư Yu Insun, các vua nhà
Nguyễn chỉ xưng thần với nhà Thanh một cách hình thức, còn thực chất họ
cho rằng họ bình đẳng với nhà Thanh. Các phái đoàn đi cống của Việt Nam
ngoài việc đưa đồ tiến cống còn thực hiện việc trao đổi mua bán sản phẩm
không có trong nước, vì Trung Quốc không cho phép thương nhân Việt Nam
sang Trung Quốc, còn Việt Nam duy trì lệnh cấm dân chúng xuất cảnh để
ngăn chặn việc xuất lậu vật phẩm sang Trung Quốc như gạo, muối, vàng bạc,
đồng, sừng trâu, ngà voi, v.v
17
Việc duy trì quan hệ triều cống chỉ có ý nghĩa tượng trưng, vì đến cuối đời
Minh Mạng, cứ bốn năm một lần nhà Nguyễn mới phải cử sứ sang cống, đồng
thời nhà Thanh cắt giảm yêu cầu vật phẩm triều cống cho triều Tây Sơn và
nhà Nguyễn chỉ còn phân nửa so với nhà Lê, nên giá trị vật chất không đáng

Với Chân Lạp, sau khi phá được quân Xiêm, Trương Minh Giảng cùng Tham
tán Lê Đại Cương lập đồn Đại Nam gần Nam Vang (tức Phnôm Pênh) để bảo
hộ Chân Lạp (Cambodia).
Cuối năm Giáp Ngọ (1834), vua Nặc Ông Chân của Chân Lạp qua đời mà
không có con trai nối dõi, nên quyền bính chuyển sang cho Trà Long và Lê
Kiên - hai người Chân Lạp làm quan cho Việt Nam. Đến năm Ất Mùi (1835),
Trương Minh Giảng lập con gái Nặc Ông Chân là công chúa Angmey tức
Ngọc Vân công chúa lên làm quận chúa. Trương Minh Giảng đổi Chân Lạp
thành Trấn Tây thành, rồi chia làm 32 phủ và 2 huyện, và đặt các chức quan
cai quản mọi việc quân sự và dân sự.
Do quan lại người Việt ở Chân Lạp làm nhiều điều ức hiếp, nhũng nhiễu dân
Chân Lạp; do nhà Nguyễn bắt Ngọc Vân công chúa đem về Gia Định, đày
Trà Long và Lê Kiên ra miền Bắc Đại Nam, dân Chân Lạp oán hận và nổi dậy
chống quân Đại Nam ở khắp nơi. Em trai của Nặc Ông Chân là Nặc Ông Độn
đã làm loạn với sự giúp đỡ của Xiêm La. Quan quân nhà Nguyễn đánh dẹp
không nổi, nên sau khi vua Minh Mạng qua đời, quan quân Đại Nam phải bỏ
Trấn Tây thành mà rút về An Giang.
6. Chính sách cấm đạo của triều Nguyễn dưới thời Minh Mạng (1820 –
1840) và thái độ của Minh Mạng đối với Thiên Chúa giáo
Chính sách “bài đạo” dưới triều vua Minh Mạng là một nhân tố tạo nên sự
cản trở và khó khăn lớn trong quan hệ Việt Nam với các nước phương Tây,
chủ yếu là Pháp trong thời kỳ này. Thực chất, chính sách này bắt nguồn từ
19
nhu cầu tự vệ và ý thức của giai cấp phong kiến cầm quyền trong vấn đề bảo
vệ độc lập dân tộc và thống nhất văn hoá truyền thống, Việc truyền đạo vào
thời điểm này không đơn thuần là truyền bá tôn giáo mà ẩn theo nó là một âm
mưu xâm lược.
Vào lúc bấy giờ, các giáo sĩ đã lợi dụng danh nghĩa truyền giáo để đi sâu vào
địa phương của Việt Nam, tiến hành điều tra, dò xét tình hình các mặt rồi báo
cáo về nước. Họ còn mua chuộc, dụ dỗ lôi kéo dân chúng chống lại triều đình,

trời chung của cả hai loại người kể trên
.
Tuy nhiên, trong quá khứ không phải ông là người đầu tiên thi hành biện pháp
cứng rắn với tôn giáo này và cũng không phải ngay khi cầm quyền, ông đã thi
hành ngay biện pháp đuổi giáo sĩ và giết hại giáo dân. Sự hà khắc trong chính
sách của triều đình Huế đối với Kitô giáo và giáo sĩ chỉ thực sự bắt đầu từ
năm 1833. Cũng nên nhìn nhận rằng chính sách cấm đạo của vua Minh Mạng
hoàn toàn nhắm vào mục đích duy trì trật tự xã hội mà nhà vua tin rằng là bị
đe bởi những du hặc của đạo Gia tô. Nhất là khi những cuộc khởi nghĩa hay
âm mưu lật đổ ông bị phát hiện đều có sự tham gia của lực lượng giáo dân và
sự ủng hộ của giáo sĩ nước ngoài như cuộc khởi nghĩa của Lê Văn Khôi, hay
hành động lôi kéo giáo dân và giáo sĩ trong âm mưu lật đổ ngai vàng của
người cháu gọi ông bằng chú ruột. Vì vậy không nên nhìn nhận chính sách
tôn giáo của triều Nguyễn như một biểu hiện của “bế quan toả cảng”. Sự ác
cảm của Minh Mạng đối với Kitô giáo còn là do những thông tin sai lệch từ
những cận thần mang tới cho ông: Tả phó đô ngự sử viện Đô sát Phan Bá Đạt
tâu rằng: “…Mã Song khai rằng thầy thuốc nước hắn, nhân người sắp chết,
khoét lấy con mắt, phơi khô, hợp với hai vị a nguỵ và nhữ hương, tán nhỏ chế
thuốc, trị bệnh ho đờm. Lại tục truyền rằng tà giáo Tây dương thường khoét
mắt người, và cho một trai, một gái, ở chung nhà có tường ngăn cách, lâu
21
ngày động dục tình, nhân đấy đập cho chết bẹp, lấy nước (xác chết đó) hoà
làm bánh thánh, mỗi khi giảng đạo cho mọi người ăn, khiến cho mê đạo
không bỏ được. Cả đến người theo đạo, khi trai, gái, lấy vợ chồng, thì đạo
trưởng đem người con gái vào nhà kín, với danh nghĩa là giảng đạo, thực là để
dâm ô”. Điều này mang tới mối lo ngại thực sự cho nhà vua bởi theo nhãn
quan Nho giáo của ông thì đó đều là những điều cấm kỵ, phạm vào thuần
phong mỹ tục – nền tảng đạo đức cơ bản mà ông muốn dựa vào để giáo hoá
dân chúng.
7. Đánh giá đường lối đối ngoại thời vua Minh Mạng

tế nhất là với phương Tây để bảo vệ hữu hiệu lợi ích và an ninh đất nước.
Nhưng triều Nguyễn đã thực hiện đường lối ngoại giao “khép kín” và đóng
cửa. Xu thế này đã đi ngược lại xu thế phát triển của thế giới và là một chính
sách ngoại giao tiêu cực, sai lầm.
IV. Tài liệu tham khảo
Tài liệu sách
1. Đỗ Bang, Nguyễn Minh Tường, Chân dung các vua Nguyễn, Tập 1,
NXB Thuận Hóa.
2. Nguyễn Thế Anh, Kinh tế xã hội Việt Nam dưới thời các vua triều
Nguyễn, NXB Văn học.
3. Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, Tập 4, NXB Giáo Dục
Việt Nam.
4. Trần Nam Tiến, Ngoại giao giữa Việt Nam với các nước Phương Tây
dưới triều Nguyễn, NXB Đại học Quốc gia TP.HCM.
5. Trương Hữu Quýnh, Phan Đại Doãn, Nguyễn Cảnh Minh, Đại cương
lịch sử Việt Nam, Tập 1, NXB Giáo Dục Việt Nam.
Tài liệu mạng
23
6. khoavanhoc-ngonngu.edu.vn
7. lichsuvietnam.vn
8. lichsuvietnam.info


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status